Đăng ngày: 09/11/2017

Kỷ niệm 72 năm thành lập ngành Thanh tra Việt Nam (23/11/1945 – 23/11/2017), có đôi điều suy nghĩ về nhiệm vụ của Ngành trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; vấn đề như đang thách thức niềm tin vào chế độ, là nỗi trăn trở không nguôi với những ai có tình cảm trách nhiệm thực sự với Ngành thanh tra. Bài viết chỉ  thể hiện một góc nhìn.

​   1. Cơ quan Thanh tra ra đời xuất phát từ nhu cầu giải quyết đơn thư khiếu  nại, tố cáo. 

     Ngay những ngày đầu xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận được rất nhiều ý kiến do các tầng lớp nhân dân phản ánh bằng thư từ, đơn kiện hoặc gặp gỡ trực tiếp,

      Nhiều nhân sĩ, trí thức  yêu nước phát hiện một số việc làm sai trái của các  nhân viên trong bộ máy chính quyền các cấp , nhất là ở các địa phương, đã viết thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ nguyện vọng cần sớm chấm dứt các hiện tượng, việc làm sai trái đó.

      Hơn lúc nào hết, vấn đề quan trọng hàng đầu lúc này là phải chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân. Để làm được điều đó,  nhiệm vụ quan trọng là phải “an dân”, giữ vững kỷ cương, phép nước.

      Từ thực tế nói trên, ngày 4 tháng 10 năm 1945, lần đầu tiên cuộc họp Hội đồng Chính phủ đã đưa ra bàn vấn đề  phải thành lập tổ chức Thanh tra; cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 13 tháng 11 năm 1945 đã nhất trí đề nghị của ông Phạm Ngọc Thạch về việc tổ chức Ban Thanh tra của Chính phủ. Hội đồng Chính phủ giao cho ông Phạm Ngọc Thạch dự thảo một đề án về tổ chức, hoạt động của Ban Thanh tra. Ngay ngày hôm sau, ngày 14 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ đã họp để thảo luận đề án thành  lập Ban Thanh tra Đặc biệt do ông Phạm Ngọc Thạc dự thảo và trình bày. Sau khi thảo luận, Hội đồng Chính phủ quyết định ban hành Nghị định thành lập một Ban Thanh tra Đặc biệt của Chính phủ.

      Sau một thời gian chuẩn bị các thủ tục, văn bản và nhân sự, ngày 23 tháng 11 năm 1945, nhân danh Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt. Do yêu cầu cấp thiết trước mắt, nhiệm vụ của Ban Thanh tra Đặc biệt là thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các đơn thư khiếu nại và phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp các địa phương gởi lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Cụ Bùi Bằng Đoàn là một vị cao tuổi và là vị quan có tiếng liêm khiết của triều đình cũ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách người đứng đầu Ban Thanh tra Đặc biệt.

    Thực tiễn lịch sử đó cho ta nhiều suy ngẫm về công tác thanh tra và chọn người làm nhiệm vụ thanh tra.

     2.Vai trò, trách nhiệm hiện nay của cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

      Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cơ quan thanh tra làm nhiệm vụ tham mưu thủ trưởng cùng cấp quản lý nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nội dung nhiệm vụ quản lý nhà  nước  bao gồm:  Tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo; tuyên truyền, hướng dẫn, theo dõi thi thành pháp luật về khiếu nại, tố cáo, hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

    Cơ quan Thanh tra không còn là một cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo như trước khi  ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (thay thế cho Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo của công ân năm 1991) mà cơ quan Thanh tra làm nhiệm vụ thẩm tra, xác minh kết luận, kiến nghị giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cùng cấp khi được giao (việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cùng cấp có thể giao cho nhiều cơ quan thẩm tra, xác minh chứ không phải chỉ riêng có của cơ quan Thanh tra).

     Thủ trưởng cơ quan thanh tra chỉ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình, của công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết tố cáo công chức thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình (nhiệm vụ này rất ít xảy ra trên thực tế).

        3. Vì sao tình hình khiếu nại, tố cáo đang và sẽ còn phức tạp.

       Có nhiều cách tiếp cận và phân tích, đánh giá  khác nhau, riêng tôi đưa ra các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

     Qua diễn biến nhiều năm cho thấy, khiếu nại chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đất đai và liên quan đến đất đai chiếm đến 70% trở lên, nguyên nhân chính là: Chính sách, pháp luật đất đai không ổn định, thay đổi theo hướng: Người chấp hành tốt giai đoạn trước thì giai đoạn sau lại bị thiệt thòi, thậm chí là thiệt thòi lớn; người vi phạm giai đoạn trước, giai đoạn sau lại được lợi; chính quyền buông lỏng quản lý đất đai kéo dài qua nhiều thời kỳ nay phát sinh tranh chấp khiếu nại không có hồ sơ lý lịch rõ ràng của thửa đất để mà xử lý; chính vì vậy dẫn dến sự vận dụng pháp luật giải quyết nên thiếu nhất quán. Chênh lệch địa tô trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tài nguyên đất mang lại không được kiểm soát và phân phối hài hòa lợi ích của nhà nước, người dân và doanh nghiệp, phần lớn bị thiệt là nhà nước hoặc người dân có đất bị thu hồi tạo nên bất công và bức xúc.

          Thời gian gần đây là khiếu nại, phản ánh liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi trường rác thải, nước thải, ô nhiễm không khí, tiếng ồn…..mà nguyên nhân chủ yếu là năng lực quản lý của nhà nước về môi trường hạn chế cả về cơ chế     (thiếu quy định của pháp luật, có nhưng lạc hậu, phân cấp, phân quyền không rõ ràng),  năng lực, trách nhiệm cán bộ yếu, thiết bị, phương tiện, nguồn tài chính để làm nhiệm vụ  kiểm soát đều thiếu. Tình thế đó không quy được trách nhiệm khi hậu quả xảy ra.

          Thực hiện chính sách, xã hội là một ưu việt của chế độ; chăm lo cho  người có công với nước, vùng nghèo, người nghèo, vùng bị thiên tai….nhưng sự xuống cấp của đạo đức xã hội kết hợp với cơ chế hỗ trợ, kiểm soát bất cập dẫn đến sai phạm của nhiều cán bộ cấp cơ sở, mất cán bộ, mất lòng dân.

          Cơ chế xin cho rất nặng nề, kéo dài và biến tướng hình thành một thói quen xấu trong đội ngũ cán bộ, công chức; trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, dễ làm, khó bỏ, tìm cách gây khó dễ với người dân, với cấp dưới mới “có xin, có cho”; hình thành những nhóm lợi ích chặt chẽ, khép kín; làm lệch lạc nhiều chuẩn mực xã hội. Cán bộ giỏi sẽ là cán bộ biết đi xin cấp trên và xin có hiệu quả mang về.

           Những hiện tượng trên kéo dài đã làm xói mòn niềm tin của dân chúng.

    Khiếu nại, tố cáo cũng là quyền cơ bản của công dân. Phát triển dân chủ, nâng cao dân trí cũng ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng khiếu nại, tố cáo và hình thức, cách thức khiếu nại, tố cáo. Khiếu nại, tố cáo theo pháp luật sẽ có nhiều hữu ích cho phát triển xã hội, xây dựng và thực hiện mục tiêu nhà nước pháp quyền.

 Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo không theo pháp luật cũng là có thể dẫn đến rối loạn xã hội, là mảnh đất màu mỡ cho kẻ thù lợi dụng, nguy cơ đe dọa tồn vong chế độ. Nên cần phải đặt công tác khiếu nại, tố cáo vào một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người đứng đầu; là công việc ưu tiên trong các ưu tiên của các cơ quan thanh tra.

           4. Các cơ quan thanh tra cấp địa phương chúng ta sẽ làm gì để góp phần đưa công tác này đi vào nề nếp, kỷ cương, hiệu quả.

           Chắc chắn đây không phải là công việc nhất thời, ngắn hạn mà là việc phải bền bỉ, lâu dài, có nhiều khó khăn, phức tạp và thử thách. Trước hết là  Thanh tra phải tự mình vươn lên trong các nhiệm vụ được giao, phải tạo niềm tin nới dân chúng vào mình, tạo sự tín nhiệm của cấp ủy và thủ trưởng cùng cấp vào cơ quan Thanh tra và người đứng đầu cơ quan thanh tra.

      Phải kiên trì, kiên quyết kiến nghị các giải pháp khắc phục cho bằng được các nguyên nhân làm phát sinh khiếu nại, tố cáo như một vài phân tích gợi ý nêu trên. Đối với cơ quan thanh tra cấp huyện nếu còn nhận thấy việc quản lý đất đai, chấp hành pháp luật đất đai, khoáng sản, môi trường ở địa phương mình yếu kém mà không có giải pháp kiên trì kiến nghị khắc phục thì chắc chắn địa phương đó còn phải đối diện với sự gia tăng số lượng và tính phức tạp của khiếu nại, tố cáo. Những nội dung tập trung quyết liệt là: làm rõ quỹ đất công do UBND cấp xã quản lý đến từng thửa đất (có hồ sơ lý lịch rõ ràng); khi thu hồi đất phải đảm bảo tuyệt đối yêu cầu công khai, minh bạch, đúng quy trình, thủ tục hành chính pháp luật đã quy định; đảm bảo các điều kiện yêu cầu giám sát của cộng đồng đối với hoạt động đầu tư và hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn; đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý của các khoản huy động nhân dân đóng góp; công khai, minh bạch trong phân phối các khoản hỗ trợ, tài trợ  từ bên ngoài cho các cộng đồng dân cư  khi xảy ra thiên tai…./.

                                                                                 Lữ Ngọc Bình​

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Phim tư liệu
Tổng kết VACI 2013

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 303192
Đang online: 8