Đăng ngày: 02/11/2017
  Có nhiều cách hiểu thế nào là chấp hành pháp luật. Trong bài viết này   chấp hành pháp luật được hiểu là nhận lấy trách nhiệm để thực hành những điều mà pháp luật quy định. Chấp hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định cho mình bằng hành động tích cực.

 

​  Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.

  Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật” ( Điều2).

   Và tại Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định:“ Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

  1. Hiến pháp.

   2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.

  3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

  4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

  5. Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

  6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

  7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

  8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.

  9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).

  10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

  11. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

 12. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).

 13. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

  14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

  15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã”.

          Nhiều cán bộ, công chức  làm việc lâu trong cơ chế cũ, nặng về việc cấp dưới xin ý kiến chỉ đạo hoặc phê duyệt của cấp trên mới hành động, theo cơ chế“ xin – cho”. Cán bộ, công chức trong hoạt động không dựa vào pháp luật, không coi pháp luật là cơ sở pháp lý hoạt động của mình, mà chỉ dựa vào ý kiến chỉ đạo của cấp trên, mong muốn được sự bảo trợ của chính quyền cấp trên, coi trọng “Công văn” chỉ đạo của cấp trên cao hơn pháp luật; coi “Công văn” của cấp trên là pháp luật, là lá bùa hộ mệnh, làm theo đó thì không phải chịu trách nhiệm. Nhưng thực chất đó là việc sai lầm trong nhận thức. Công chức nhắm mắt làm theo mệnh lệnh chỉ đạo của cấp trên không tránh khỏi được trách nhiệm pháp lý. Bởi vì, trong Nghị định 157/2007/NĐ – CP ngày  27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước trong thi hành nhiệm vụ công vụ, tại điểm d, khoản 1 Điều 13 đã nêu rõ: Trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu phải chấp hành quyết định của cấp trên, khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định; trong trường hợp vẫn phải chấp hành thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.“

          Quy định đó được thể hiện lại trong khoản  5 Điều 9 của  Luật Cán bộ, công chức năm 2008 xác định trách nhiệm của công chức: “Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình”.

      Có ý kiến cho rằng: đã có “Công văn” chỉ đạo của cấp trên mà không thực hiện, thực hiện khác có được không?  Phải chịu trách nhiệm thế nào?

       Xem xét vấn đề này phải làm rõ  các tình huống như sau:

       1) Nếu “Công văn” đó là một quyết định hành chính thuộc thẩm quyền của cấp  ban hành thì:

    Trường hợp nội dung quyết định trong “Công văn” là đúng pháp luật, đúng với tình hình thực tiễn mà người có trách nhiệm tổ chức thi hành không thi hành, hoặc thi hành mà không kịp thời, đầy đủ thì phải chịu trách nhiệm vì không làm theo pháp luật và không tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành của cấp trên; tức là phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trách nhiệm trước cấp trên.

    Trường hợp phát hiện nội dung quyết định thể hiện trong “Công văn” không đúng pháp luật thì cán bộ, công chức cấp dưới phải hành động đầy đủ theo đúng quy định  của khoản  5 Điều 9 Luật Cán bộ, công chức thì mới được miễn trừ trách nhiệm khi thi hành.

   2) Nếu  nội dung “Công văn” đó chỉ là định hướng, trao đổi cho cấp dưới  xem xét quyết định theo thẩm quyền (không phải là một quyết định hành chính theo thẩm quyền của cấp trên). Ví dụ: Thẩm quyền thu hồi đất là của UBND cấp huyện, “Công văn” của UBND cấp tỉnh chỉ đạo  việc thu hồi đất không phải là một quyết định hành chính của UBND  tỉnh thì:

   Trường hợp nội dung trong “Công văn” là đúng pháp luật, đúng với tình hình thực tiễn mà người có trách nhiệm, thẩm quyền ra quyết định không tuân theo, tuân theo mà không kịp thời, đầy đủ thì phải chịu trách nhiệm vì không làm theo pháp luật và không tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành của cấp trên; tức là phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trách nhiệm trước cấp trên.

   Trường hợp nội dung thể hiện trong “Công văn” không đúng pháp luật thì cán bộ, công chức cấp dưới có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật hoàn toàn có quyền căn cứ theo pháp luật để quyết định theo thẩm quyền. Cấp trên không có căn cứ truy buộc trách nhiệm pháp lý đối với cấp dưới làm theo thẩm quyền. Nếu cấp dưới lấy căn cứ “Công văn” đó để  ra quyết định thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật mà cấp ra  “Công văn” không chịu thay.

   Do đó, trong quá trình giải quyết công việc theo chức trách, thẩm quyền  thì xem các văn bản tham vấn của các cơ quan chuyên môn cấp trên, góp ý của cơ quan ngang cấp đều chỉ có giá trị nghiên cứu tham khảo để áp dụng pháp luật ra quyết định cho đúng, các “Công văn” đó không phải là bằng chứng pháp lý cho quyết định của mình khi có tranh chấp trước Tòa án.

   Một vài trao đổi  như trên, mong rằng có ích cho việc tiếp cận công việc của một số cán bộ, công chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ.

Lữ Ngọc Bình

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Phim tư liệu
Tổng kết VACI 2013

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 244272
Đang online: 7