Tin tức

Phòng ban

Thông báo

Cơ chế một cửa

Văn bản pháp quy

Phổ biến giáo dục pháp luật

Bổ trợ tư pháp

Trao đổi, nghiên cứu

Biểu mẫu

Lịch công tác

Rà soát hệ thống hóa VBQP

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Đề cương pháp luật

TCVN ISO 9001:2008

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 8513086
Đang online: 14
Đăng ngày: 26/01/2018

Ngày 28/12/2017, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) ban hành Quyết định số 299/QĐ-CA về việc công bố án lệ (Quyết định 299). Theo quyết định 299, kể từ ngày 15/2/2018, 06 (sáu) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 14/12/2017 được áp dụng trong hoạt động xét xử (việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND​TC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ); cụ thể:

1. Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc Sở hữu của bên thế chấp (Án lệ số 11/2017/AL):

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/KDTM-GĐT ngày 01/3/2017 của Hội đồng Thm phán TANDTC về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.

- Nội dung án lệ: [4] Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyn sử dụng đất và tài sản gn lin với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đng thế chp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật...

... Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chp được bán tài sản bảo đảm là quyn sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đt thì cn dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyn ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyn nhượng).”

2. Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa (Án lệ số 12/2017/AL)

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 14/2017/KDTM-GĐT ngày 06-6-2017 của Hội đồng Thm phán TANDTC về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa”.

- Nội dung án lệ:“[1] Về tố tụng: Theo Biên bản phiên tòa phúc thẩm ngày 26-11-2013 thì tại phiên tòa các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa đcác đương sự cung cấp thêm chứng cứ. Tại phiên tòa phúc thm được mở lại vào ngày 26-02-2014, bị đơn và luật sư bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp của bị đơn vng mặt. Trường hợp Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và việc hoãn phiên tòa là do Tòa án, tại phiên tòa được mở lại đương sự hoặc người đại diện, người bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp của đương sự vng mặt thì được coi là vng mặt ln thứ nhất. Lẽ ra, Tòa án cấp phúc thm phải xác định là bị đơn và luật sư bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ ln thứ nht vng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 2 Điều 266 Bộ luật Ttụng dân sự đ hoãn phiên tòa. Tòa án cấp phúc thm nhận định tại phiên tòa phúc thm bị đơn và luật sư bảo vệ quyn và lợi ích hp pháp của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa, từ đó đình chỉ xét xử phúc thm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không đúng quy định tại Điều 199, 202, 266 Bộ luật Ttụng dân sự, làm mất quyn kháng cáo, ảnh hưởng đến quyn và lợi ích hợp pháp của bị đơn.”.

3. Án lệ số 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán của thư tín dụng (L/C) trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ (Án lệ số 13/2017/AL):

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 17/2016/KDTM-GĐT ngày 10-11-2016 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

- Nội dung án lệ: “[34] Như vậy, theo đơn đề nghị mL/C của Bên mua và nội dung L/C đã phát hành thì L/C s1801 là một giao dịch riêng biệt đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07-6-2011; được chi phối và áp dụng theo UCP 600. Theo quy định của UCP 600, Ngân hàng Thương mại Cphần E với tư cách là Ngân hàng phát hành phải thanh toán khi xác định bộ chứng từ xuất trình là phù hợp tại Ngân hàng...

[36]... Tòa án cấp sơ thm lại cho rằng phương thức thanh toán bằng L/C s1801 là một phn không thtách rời của Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 07-6-2011; do vậy, khi hp đng này bị hủy toàn bộ thì các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hp đng; từ đó quyết định L/C s1801 không còn hiệu lực thanh toán và Ngân hàng Thương mại Cổ phần E không có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N theo L/C nêu trên; đồng thời buộc Ngân hàng Thương mại C phn E phải trả cho bên mua stiền ký quỹ là 1.313.308,85 USD là chưa đủ cơ sở và chưa đúng với các quy định tại UCP 600".

4. Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng (Án lệ số 14/2017/AL):

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 02/2011/DS-GĐT ngày 17-01-2011 của Tòa Dân sự TANDTC về vụ án “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

- Nội dung án lệ:“[10] Như vậy, nếu có căn cứ xác định cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương cấp đất cho ông Quàng Văn P1 từ năm 2003 (vì Tòa án các cấp chưa thu thập quyết định cấp đất năm 2003), thì ông Quàng Văn P1 có quyn sử dụng hợp pháp đối với diện tích đt nêu trên từ năm 2003 nên ông Quàng Văn P1 có quyn định đoạt tài sản của mình.

[11] Tuy nhiên, ông Quàng Văn P1 cho rằng việc ông tặng cho vợ chồng anh Quàng Văn P2 là có điều kiện, đó là vợ chồng anh Quàng Văn P2 phải làm nhà cho ông ở, chăm sóc ông và bố, mẹ của ông, nhưng vợ chồng anh Quàng Văn P2 không thực hiện cam kết. Tuy anh Quàng Văn P2 không thừa nhận việc ông Quàng Văn P1 tặng cho có điều kiện, nhưng tại giấy ủy quyn ngày 25-3-2006, thhiện ông Quàng Văn P1 ủy quyn cho anh Quàng Văn P2 xin giấy phép xây dựng... có trách nhiệm xây nhà trên lô đất 379B để ông Quàng Văn P1 ở, có trách nhiệm chăm sóc vợ chồng cụ K (là b, mẹ của ông Quàng Văn P1). Tại bản Cam kết ngày 12-10-2006, anh Quàng Văn P2 có ghi "... Tôi được bố cho mảnh đất...tôi làm cam kết này với chính quyn địa phương sẽ tiến hành xây dựng nhà ở cho btôi và không được chuyn nhượng cho ai.”

[12] Mặc dù hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không ghi điều kiện nhưng tại các văn bản nêu trên có thể hiện anh Quàng Văn P2 phải làm nhà cho ông Quàng Văn P1 ở, chăm sóc ông Quàng Văn P1 và bố mẹ của ông Quàng Văn P1”.

5. Án lệ số 15/2017/AL về công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp (Án lệ số 15/2017/AL):

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 394/2012/DS-GDT ngày 23-8-2012 của Tòa Dân sự TANDTC về vụ án “Tranh chấp hợp đồng đổi đất”.

- Nội dung án lệ: “[1]... Việc đổi đt giữa các bên là trên cơ sở tnguyện, xuất phát từ nhu cầu sử dụng canh tác của các bên. Sau khi đi đất, hai bên đã đăng ký, kê khai, được ghi nhận tại Sđịa chính đối với diện tích đất đi và trực tiếp canh tác, sử dụng n định, liên tục từ năm 1992 cho đến nay, quá trình sử dụng đất ông Nguyn Minh T đã di chuyn các ngôi mộ trên đất, cải tạo một phn thành ao cá.

[2] Trong thực tế việc đi đất có từ khoảng tháng 2-1992, tuy nhiên các chng cứ có trong hồ sơ thhiện các bên tiến hành làm thủ tục đăng ký, kê khai các diện tích đất đã đi tại chính quyền địa phương từ năm 1994, các thủ tục khác như giao giấy tờ đất, kê khai tính thuế cũng từ năm 1994. Trong trường hợp này, lẽ ra phải công nhận việc đi đất là thực tế đcông nhận các đương sự có quyn sử dụng diện tích đất đã đi mới đúng và phù hợp với thực tế. Tòa án cấp sơ thm và Tòa án cấp phúc thm căn cứ vào lời khai của bà Trịnh Thị C đxác định các đương sự đi đt tạm thời, từ đó xác định việc đi đất là trái pháp luật đhủy giao dịch đi đất buộc các bên dở nhà giao trả đất cho nhau là không chính xác, gây xáo trộn không cn thiết việc sử dụng đất của các đương sự.”.

6. Án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng (Án lệ số 16/2017/AL):

- Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Tòa Dân sự TANDTC về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế tài sản”.

- Nội dung án lệ:“[2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2. Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vn quản lý sử dụng nhà đất này. Việc bà Phùng Thị G chuyn nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đu biết, nhưng không ai có ý kiến phản đi gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất đlo cuộc sng của bà và các con. Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở đxác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý đ bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K. Tòa án cấp phúc thm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản đ chia là có căn cứ. Tòa án cp sơ thm xác định di sản là tng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) đchia là không đúng.”.

Đây là lần thứ 3 Chánh án TANDTC công bố án lệ, nâng tổng số án lệ được áp dụng trong hoạt động xét xử lên 16 án lệ; đồng thời, việc công bố 06 án lệ lần này đã góp phần xây dựng nên một hệ thống “tiền lệ xét xử” đối với những vụ án tương tự, giống nhau, tiên lượng được kết quả các vụ tranh chấp, và tạo công bằng xã hội./.

PTQ

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm

Bản quyền © 2012 thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Chí Phương - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
Điện thoại: 055 815477 - Fax: 055 825447
Địa chỉ: 108 Phan Đình Phùng - Thành phố Quảng Ngãi.