Tin tức

Phòng ban

Thông báo

Cơ chế một cửa

Văn bản pháp quy

Phổ biến giáo dục pháp luật

Bổ trợ tư pháp

Trao đổi, nghiên cứu

Biểu mẫu

Lịch công tác

Rà soát hệ thống hóa VBQP

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Đề cương pháp luật

TCVN ISO 9001:2008

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 8541133
Đang online: 3
Đăng ngày: 15/03/2018
Khu chứng tích Sơn Mỹ

Thảm sát Sơn Mỹ (hay Thảm sát Mỹ Lai) 16/3/1968.​  Nửa thế kỷ đã đi qua, đã có quá nhiều người viết về sự kiện này, phân tích từ nhiều góc nhìn khác nhau, phần đông mô tả Sơn Mỹ như một bi kịch của chiến tranh với “nỗi đau còn đó”, như một vết thương còn rỉ máu.

Lịch sử nhân loại, dù muốn hay không, người ta cũng phải thừa nhận là lịch sử của các cuộc chiến tranh. Theo logic đó, mỉa mai và đáng buồn thay, hòa bình được định nghĩa là khoảng thời gian giữa các cuộc chiến tranh. Loài người đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc chiến, khác nhau về nhiều phương diện: Từ không gian đến thời gian, từ nguyên nhân đến hậu quả, từ mục đích đến cách thức tiến hành; song tự cổ chí kim, đông, tây, nam, bắc, mọi cuộc chiến tranh đều nói chung một ngôn ngữ: Giết chóc. Chính thứ ngôn ngữ chết người ấy đã tiếp liệu cho hờn căm ngút ngàn phủ bóng lên lòng nhân ái, rút ngắn khoảng thời gian giữa các cuộc chiến tranh, để lại cho nhân loại một di sản đau buồn, đầy rẫy những bất công, oan trái và thảm kịch. Thảm sát Sơn Mỹ (hay Thảm sát Mỹ Lai) 16/3/1968 là một phần của di sản ấy. Nửa thế kỷ đã đi qua, đã có quá nhiều người viết về sự kiện này, phân tích từ nhiều góc nhìn khác nhau, phần đông mô tả Sơn Mỹ như một bi kịch của chiến tranh với “nỗi đau còn đó”, như một vết thương còn rỉ máu.

Bài viết này xin phép không đi sâu vào việc mô tả chi tiết hay nhắc lại những đau thương tang tóc của biến cố Sơn Mỹ, những điều mà giới truyền thông trong nước và thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ và Việt Nam, đã phân tích, mổ xẻ tương đối đầy đủ. Thay vào đó, tác giả đặt sự trọng tâm vào việc khai thác hai thuộc tính trội của Sơn Mỹ với góc nhìn: Chúng ta không lãng quên quá khứ, nhưng không ăn mày dĩ vãng; nhìn nhận quá khứ như một sự thật không thể thay đổi, nhưng nhất định không để quá khứ đau thương ấy lặp lại dưới hình thức này hay hình thức khác. Hai thuộc tính đó là tình yêu và hòa bình. Hay nói cách khác, còn có một Mỹ Lai của hòa bình và nhân ái.

Từ cái nhìn lịch đại, không tính sự thảm khốc trên chiến trường trận mạc mà các chiến binh đã trải qua, lịch sử nhân loại còn bị phủ bóng đen bởi những sự biến bi thảm của chiến tranh trút lên đầu các thường dân vô tội, người già, phụ nữ và trẻ em. Theo thống kê chưa đầy đủ về những cuộc giết chóc được gọi là thảm sát (massacre, tức giết người số lượng lớn và không phân biệt binh lính hay dân thường, người già, phụ nữ, trẻ em), loài người đã trải qua 277 cuộc nồi da xáo thịt. Trong số này, thảm sát Nam Kinh (Trung Quốc) là cuộc thảm sát có quy mô giết chóc lớn nhất. Theo đó, trong vòng một tháng, từ tháng 12/1937 đến tháng 01/1938, khoảng 300.000 người, chủ yếu là thường dân vô tội và tù binh, đã bị tước đoạt cuộc sống một cảnh bi thảm. Biên độ thời gian từ cuộc thảm sát đầu tiên được ghi nhận lại trong lịch sử nhân loại (Thảm sát Asiatic Vespers năm 88 trước Công nguyên, do quốc vương xứ Pontos, Mithridates đại đế, ra lệnh đã tàn sát khoảng 80.000-150.000 người La Mã tại khu vực Tiểu Á) đến cuộc thảm sát gần đây nhất (Thảm sát Orlando, Florida, Hoa Kỳ ngày 12/6/2016 do lực lượng ISIS đứng ra nhận trách nhiệm khiến 49 thường dân vô tội tức tưởi lìa giã cõi đời) dày đặc những trang sử đen tối phản ảnh sự tàn bạo của lưỡi hái chiến tranh, nỗi kinh hoàng của hận thù, bạo lực.

May thay, cũng trong cái nhìn lịch đại ấy, nhân loại tiến bộ chưa bao giờ xao lãng khát vọng hòa bình và nhân ái. Ngay trong lúc ác liệt nhất của can qua, chiến sự hay ngay sau khi khói thuốc súng còn chưa tan, con người đã phát động và thực thi những nỗ lực không mệt mỏi nhằm vãn hồi hòa bình hoặc chí ít là kéo dài khoảng thời gian giữa các cuộc chiến tranh, mở đường cho lòng nhân ái lên tiếng. Câu chuyện của hai cường quốc Mỹ, Nhật trong chiến tranh Thế giới II chỉ là một đơn cử cho khát vọng này. Sau chiến thắng vang dội của người Nhật trong cuộc tập kích bất ngờ vào hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng ngày 7/12/1941, nước Nhật phải hứng chịu hậu quả vô cùng thảm khốc của hai quả bom nguyên tử do Hoa Kỳ ném xuống Hiroshima và Nagasaki ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945. Đúng như ngạn ngữ của người Hy Lạp nói: Hậu quả của sự tức giận hay trả thù nghiêm trọng hơn nhiều so với nguyên nhân gây ra nó. Đành rằng so sánh là khập khiễng, nhưng nếu trong trận Trân Châu Cảng người Nhật làm tổn thất trên 2300 binh sĩ Hoa Kỳ, thì chỉ tính riêng số người thiệt mạng trong vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima đã lên đến con số 167.000 người. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây không phải là sự so sánh thiệt hơn giữa hai cựu thù Mỹ-Nhật. Điều cần bàn là, sau những biến cố tàn khốc đó, ngay cả những học giả hay chính khách lạc quan nhất cũng không bao giờ dám nghĩ đến việc giao hảo giữa hai quốc gia này. Ấy vậy mà, họ đã bang giao với nhau ngay sau khi chiến tranh kết thúc.  Không chỉ dừng lại ở mối quan hệ hữu hảo, mà họ còn trở thành đồng minh thân cận của nhau theo một hiệp ước an ninh được ký kết chưa đầy bảy năm sau chiến tranh.   

Lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XV cũng minh chứng hùng hồn cho khát vọng hòa bình và nhân ái của quân dân nước Việt. Sau khi đánh tan quân Minh xâm lươc, thay vì giết hết số quân đầu hàng và bị bắt cho hả giận về những tội ác dã man chúng gây ra, vua Lê Thái Tổ đã tha bổng và còn cấp ngựa xe, lương thảo cho chúng về nước. Tinh thần hòa hiếu và nhân đạo của dân tộc Việt Nam không chỉ truyền mãi tiếng thơm đến ngàn thu mà còn đem lại cho đất nước một thời kỳ thái bình, thịnh trị, dứt mối chiến tranh lâu dài nhất trong lịch sử giữ nước. Bài học lịch sử ấy sau này cũng được vua Quang Trung áp dụng. Sau khi chiến thắng quân Thanh xâm lược, không những chiêu nạp và nuôi dưỡng tất cả tù binh và tàn binh quân Thanh, hoàng đế Quang Trung còn sai thu nhặt xác quân Thanh trên các chiến trường chôn cất và lập đàn cúng tế. Nối tiếp tinh thần hòa hiếu của dân tộc, năm 1946, giữa lúc chính quyền cách mạng non trẻ đang đối mặt với tình hình “ngàn cân treo sợi tóc”, lưỡng đầu thọ địch, thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quyết định ký Tạm ước 14/9/1946 nhằm cứu vãn hòa bình sau thất bại của Hội nghị Fontainebleau và Hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Trên thực tế, Tạm ước này, dù không cứu được cuộc chiến, đã kéo dài thời gian hòa bình cho đất nước.   

Trở lại sự kiện Mỹ Lai 16/3/1968. Trong sự tàn khốc của chiến tranh, trong nỗi đau đớn và oan khiên dậy đất, vẫn hiện lên một Sơn Mỹ của nhân ái và hòa bình. Về thăm Sơn Mỹ, những cánh đồng lúa xanh ngắt, những con đường tất bật bước chân người nông dân gợi lên trong lòng người về một làng quê đầm ấm thanh bình như chưa từng có một Mỹ Lai của tháng 3 năm 1968. Nói đúng hơn, Sơn Mỹ đã hồi sinh bằng một sức sống mãnh liệt được nuôi dưỡng bởi lòng nhân ái và khát vọng hòa bình. Hình ảnh hai anh em năm xưa, đứa lớn lấy thân mình che chắn hiểm nguy cho đứa bé đã làm lu mờ đi cảnh tượng bạo tàn của súng ống chiến tranh. Động lực nào thôi thúc, ý chí nào dẫn dắt một đứa trẻ chưa đầy 10 tuổi dám lấy thân mình làm lá chắn che chở cho người em nếu không phải là lòng nhân ái thương người như thể thương thân của dân tộc Việt Nam đã hun đúc lên, chảy trong huyết quản của mỗi con dân đất Việt, truyền từ đời này sang đời khác. Có thể sẽ là võ đoán, nhưng không loại trừ khả năng chính nghĩa cử cao đẹp của em bé đó đã ngay lập tức thức tỉnh lương tri hay tính bản thiện của những người lính Mỹ. Một Huge Thompson (và Larry Coburn) quyết định trực tiếp can thiệp cứu sống chín thường dân khỏi lưỡi hái tử thần ngay trước mũi súng của những người cùng chiến tuyến với ông chắc không thể đến từ mệnh lệnh cấp trên. Có lẽ, nó đến từ một mệnh lệnh cao hơn: Lòng nhân ái hay chí ít là lương tri con người.

Như mọi người dân Việt Nam, người dân Sơn Mỹ hiền lành, yêu chuộng hòa bình và căm ghét chiến tranh. Họ chỉ miễn cưỡng can dự vào chiến tranh khi “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Sau chiến tranh người dân lại nhanh chóng vượt qua những đau thương, mất mát, dành sức lực để dựng xây hòa bình, lấy sự bao dung để vượt lên hận thù. Hình ảnh người dân Sơn Mỹ những năm sau hòa bình lập lại niềm nở đón tiếp và vui vẻ trò chuyện cùng các cựu binh Hoa Kỳ về thăm Mỹ Lai khắc họa một Sơn Mỹ hiền hòa và nhân ái, khiến chính những cựu chiến binh ấy phải bất ngờ. Không phải vì những người nông dân chân lấm tay bùn này đã quên đi một quá khứ điêu linh tang tóc từng phủ lấp làng quê, xứ sở mình, mà họ đang nhớ đến và thực thi lối ứng xử hòa hiếu, mã thượng của tổ tiên: Dùng đại nghĩa đối hung tàn, lấy chí nhân xử cường bạo. Trong tâm thức, những người nông dân lam lũ ấy đang hướng đến một khát vọng lớn lao hơn cho quê hương đất nước, cho chính họ và cho nhân loại: Một thế giới thanh bình nơi “người yêu người sống để yêu nhau”. 

Một Sơn Mỹ của khát vọng hòa bình còn là câu chuyện của “Ông vĩ cầm ở Mỹ Lai”. Đó là câu chuyện cứ mỗi độ tháng 3 về, ông Mike Boehm, một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Củ Chi, Sài Gòn, lại xuất hiện ở Mỹ Lai với cây đàn violon. Ông tấu lên những bản nhạc, cho người chết và người sống. Thứ ngôn ngữ âm nhạc ông mang đến không chỉ là lời cầu an tưởng niệm những người đã chết hay lời sám hối, chuộc lỗi của những người gây ra thảm kịch, mà quan trọng hơn, từ Mỹ Lai ông đã truyền đi thông điệp hòa bình đến với mọi người năm châu, bốn biển. Chính ông chắc hẳn đã phải vượt những bất đồng của người thân và chiến hữu để làm những gì mà sâu thẳm nơi trái tim ông mách bảo. Cảm hứng về hành động của Mike Boehm, năm 1998 đạo diễn Trần Văn Thủy đã hoàn thành bộ phim tài liệu có tựa đề “Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai”. Bộ phim đã đoạt giải thưởng Phim ngắn hay nhất tại Liên hoan Phim châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 43 tổ chức ở Thái Lan năm 1999. Cũng trong khoảng thời gian ấy, ý tưởng về một công viên hòa bình Mỹ Lai đã ra đời; và cũng chính người cựu chiến binh Mỹ Mike Boehm đã vận động, quyên góp để biến ý tưởng trên thành hiện thực. Và một công viên hòa bình Mỹ Lai đã xuất hiện, dù vì nhiều lý do khác nhau, công viên không hoạt động và phát huy như mong muốn.

Tiếp nối khát vọng này, Quỹ Hòa bình Mỹ Lai đã chính thức ra đời. Chia sẻ mạch tư duy về một Sơn Mỹ hòa bình và nhân ái, những người sáng lập quỹ đã đề xuất quy hoạch xây dựng Công viên hòa bình Mỹ Lai, nhằm tạo ra một không gian cho người dân tưởng niệm và sinh hoạt. Lớn hơn thế, dù không cao đạo, nhưng sâu thẳm trong con tim và khối óc, nhóm sáng lập nhất định muốn biến một Sơn Mỹ rùng rợn năm xưa thành nơi “tiếng chim gù thương mến”. Cho Sơn Mỹ, cho Việt Nam, và cho nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. Có thể nói, xuyên suốt chiều dài lịch sử, Đông cũng như Tây, xưa cũng như nay, hòa bình và nhân ái luôn là khát vọng của con người. Ý nghĩa hơn, khát vọng đó luôn được hiện thực hóa thành những nỗ lực không mệt mỏi, trong thời bình và ngay cả lúc con người còn đang say khói thuốc súng.             

Năm mươi năm đã trôi qua. Chưa ai quên Sơn Mỹ, những người thân của các nạn nhân chưa bao giờ phai nhạt nỗi nhớ, những kẻ gây ra thảm kịch Sơn Mỹ hẳn vẫn còn cắn rứt lương tâm, lương tri của nhân loại còn thức tỉnh. Một trăm năm sau và có thể cả ngàn năm nữa, sự kiện Sơn Mỹ có lẽ cũng không thể nhòa đi trong ký ức của nhân loại. Nếu không có điều đó, loài người ắt diệt vong. Duy chỉ có điều, đối với người dân Sơn Mỹ, người dân Quảng Ngãi, nhân dân Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới, nhớ đến Sơn Mỹ không phải để khơi gợi, nuôi dưỡng hận thù hay nung nấu ý chí trả thù, mà là nhớ đến một Sơn Mỹ nơi hòa bình át chiến tranh, và nơi tình yêu vượt trên lòng hận thù. Sơn Mỹ, Quảng Ngãi và Việt Nam sẽ đủ “mạnh” để không một thế lực nào có thể gây thêm những thảm cảnh tương tự, và đủ “lớn” để không đi vào vết xe đổ của lịch sử.

Nguyễn Minh Trí

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm

Bản quyền © 2012 thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Chí Phương - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
Điện thoại: 055 815477 - Fax: 055 825447
Địa chỉ: 108 Phan Đình Phùng - Thành phố Quảng Ngãi.