Tin tức

Phòng ban

Thông báo

Cơ chế một cửa

Văn bản pháp quy

Phổ biến giáo dục pháp luật

Bổ trợ tư pháp

Trao đổi, nghiên cứu

Biểu mẫu

Lịch công tác

Rà soát hệ thống hóa VBQP

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Đề cương pháp luật

TCVN ISO 9001:2008

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 8137681
Đang online: 12
Đăng ngày: 22/06/2017

Ngày 12/5/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 45/2017/TT-BTC quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại Luật đấu giá tài sản (Thông tư 45). Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2017 và thay thế Thông ​tư số 335/2016/TT-BTC ngày 27/12/2016; bãi bỏ Điều 13 Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Cụ thể, Thông tư 45 quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật đấu giá tài sản và áp dụng với các đối tượng sau: Người có tài sản đấu giá theo quy định tại khoản 5 Điều 5 của Luật đấu giá tài sản khi thực hiện đấu giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật đấu giá tài sản, trừ các trường hợp đấu giá tài sản do Hội đồng đấu giá tài sản được người có thẩm quyền thành lập thực hiện; tổ chức đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 12 Điều 5 của Luật đấu giá tài sản và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến trường hợp đấu giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật đấu giá tài sản.

Khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản cho một Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản trong trường hợp đấu giá thành được quy định như sau:  Mức thù lao tối thiểu: 1.000.000 đồng/01 Hợp đồng (Một triệu đồng/một Hợp đồng); mức thù lao tối đa tương ứng từng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 45 nhưng không vượt quá 300.000.000 đồng/01 Hợp đồng (Ba trăm triệu đồng/một Hợp đồng).

Thù lao dịch vụ đấu giá tài sản trên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng bao gồm các chi phí hợp lý, hợp lệ mà người có tài sản đấu giá trả cho tổ chức đấu giá để thực hiện đấu giá tài sản theo quy định. Trường hợp đấu giá tài sản không thành thì người có tài sản đấu giá thanh toán cho tổ chức đấu giá tài sản các chi phí thực tế hợp lý, hợp lệ đã được hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật đấu giá tài sản nhưng tối đa không vượt mức thù lao dịch vụ đấu giá tài sản trong trường hợp đấu giá thành.

Việc xác định thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản cụ thể cho từng Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản do người có tài sản đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản trên cơ sở kết quả lựa chọn tổ chức đấu giá và quy định về thù lao dịch vụ đấu giá tại Luật đấu giá tài sản nhưng không cao hơn mức tối đa và không thấp hơn mức tối thiểu của khung thù lao quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 45.

Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá thành hoặc đấu giá không thành, người có tài sản đấu giá thanh toán cho tổ chức đấu giá thù lao dịch vụ đấu giá tài sản hoặc các chi phí niêm yết, thông báo công khai, chi phí thực tế hợp lý khác quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật đấu giá tài sản; trừ trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Bên cạnh đó, Thông tư 45 còn quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng thù lao dịch vụ đấu giá tài sản (Điều 4); mức tối đa thù lao dịch vụ đấu giá tài sản tương ứng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật đấu giá tài sản (Phụ lục 1) và mức tối đa thù lao dịch vụ đấu giá tài sản tương ứng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất (Phụ lục số 2)./.

PTQ

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm

Bản quyền © 2012 thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Chí Phương - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
Điện thoại: 055 815477 - Fax: 055 825447
Địa chỉ: 108 Phan Đình Phùng - Thành phố Quảng Ngãi.