Tin tức

Phòng ban

Thông báo

Cơ chế một cửa

Văn bản pháp quy

Phổ biến giáo dục pháp luật

Bổ trợ tư pháp

Trao đổi, nghiên cứu

Biểu mẫu

Lịch công tác

Rà soát hệ thống hóa VBQP

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Đề cương pháp luật

TCVN ISO 9001:2008

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 8240081
Đang online: 8
Đăng ngày: 01/12/2017

Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2017 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018). So với Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng nhiều đối tượng được TGPL (như: Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; người có khó khăn về tà​i chính,…) nhằm thực hiện sâu rộng chính sách nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo và dân tộc của Đảng, Nhà nước; kịp thời bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước trong tình hình mới (tăng từ 07 nhóm đối tượng lên 14 nhóm đối tượng)

Trong phạm vi bài viết này, người viết có một số ý kiến xung quanh đối tượng được TGPL mở rộng là người có khó khăn về tài chính được quy định tại Khoản 7 Điều 7 Luật TGPL năm 2017; từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định này trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý[1] (dự thảo Nghị định).

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật về TGPL thì khi yêu cầu TGPL, người được TGPL phải cung cấp cho tổ chức, người thực hiện TGPL các loại giấy tờ chứng minh mình thuộc đối tượng được TGPL[2]. Đối chiếu với quy định này, thì để được TGPL, người có khó khăn về tài chính phải cung cấp cho tổ chức, người thực hiện TGPL các loại giấy tờ chứng minh mình thuộc trường hợp có khó khăn về tài chính. Vấn đề đặt ra ở đây là cơ quan nào có trách nhiệm xác nhận trường hợp có khó khăn về tài chính? Trình tự, thủ tục xác nhận như thế nào (quy định về thủ tục hành chính)? Nội dung xác nhận ra sao? Đây là nội dung cần được Chính phủ hướng dẫn kịp thời, thống nhất nhằm đảm bảo quyền lợi cho đối tượng được TGPL khi Luật TGPL năm 2017 có hiệu lực thi hành.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo Nghị định, nội dung trên chưa được cơ quan soạn thảo chú ý (không quy định trong dự thảo Nghị định). Điều này sẽ gây khó khăn cho quá trình thực hiện Luật TGPL năm 2017 nếu dự thảo Nghị định ban hành không quy định cụ thể thủ tục hành chính về xác nhận đối tượng người có khó khăn về tài chính; bởi vì, theo lối tư duy cũ, người dân sẽ đến UBND cấp xã yêu cầu xác nhận; song đối với việc xác nhận này, hiện nay có nhiều bất cập; đó là:

- Hình thức xác nhận mỗi địa phương một khác, có nơi người dân tự viết đơn và yêu cầu UBND cấp xã xác nhận (xác nhận ở cuối đơn), có nơi yêu cầu người dân cung cấp một số loại giấy tờ về nhân thân, thu nhập,... từ đó cấp cho họ Giấy chứng nhận (hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, người khuyết tật,...) và có nơi quy định chính quyền thôn, bản có ý kiến trước khi UBND xã xác nhận,... Bên cạnh đó, có địa phương xác nhận ngay sau khi nhận đơn, có địa phương lại lấy lý do xác minh nên đến 2 đến 3 ngày mới xác nhận (chưa kể với lý do lãnh đạo UBND cấp xã đi công tác),... Đây là những quy định mà thực tiễn thời gian qua gây bất lợi cho đối tượng được TGPL, nhất là đối tượng được TGPL là người bị tạm giữ, tạm giam.

- Hiện nay, mối quan hệ giữ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã với người dân địa phương phần lớn là mối quan hệ người thân, quen biết, đan xen với các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư; do đó, nếu không quy định cụ thể thủ tục nêu trên, trong thực tiễn sẽ tạo ra cơ chế “xin – cho” giấy xác nhận đối tượng có khó khăn về tài chính hoặc vì lý do mâu thuẫn, lý do khác mà UBND cấp xã cố tình không xác nhận hoặc kéo dài thời gian xác nhận làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân khi họ thuộc đối tượng được TGPL theo quy định của pháp luật.

- Ngoài ra, việc không quy định thủ tục hành chính nêu trên dễ làm phát sinh “thủ tục hành chính con” hoặc “thủ tục chồng thủ tục” (ví dụ để chứng minh người cao tuổi có khó khăn về tài chính cần 02 lần xác nhận: (1) Xác nhận người cao tuổi; (2) xác nhận người cao tuổi có khó khăn về tài chính) ở các địa phương và các chi phí vô hình khác.

Thứ hai, theo Khoản 7 Điều 7 Luật TGPL năm 2017 thì “người khuyết tật; ... nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;...” thuộc đối tượng được TGPL khi họ là những người có khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 và điểm d Khoản 1 Điều 4 Luật Người khuyết tật năm 2010 thì nạn nhân của hành vi mua bán người người khuyết tật[3] thuộc đối tượng đương nhiên được TGPL mà không cần có quy định về điều kiện hoặc yêu cầu khác; do vậy, việc quy định 02 đối tượng trên chỉ được TGPL khi họ là người có khó khăn về tài chính là chưa phù hợp, thiếu tính thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật, gây khó khăn trong quá trình áp dụng và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người được TGPL là nạn nhân của hành vi mua bán người người khuyết tật.

Thứ ba, theo Luật TGPL năm 2006, thân nhân của liệt sĩ (cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ) được TGPL miễn phí mà không đòi hỏi điều kiện họ có thuộc trường hợp khó khăn về tài chính hay không; tuy nhiên, tại điểm a Khoản 7 Điều 7 Luật TGPL năm 2017 lại quy định thân nhân của liệt sĩ được TGPL miễn phí khi họ thuộc trường hợp có khó khăn về tài chính. Đây là quy định vừa thu hiệp đối tượng được TGPL là người có công với cách mạng, vừa không phù hợp với chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước, dễ gây hiểu nhầm (trước quan tâm nhiều thì cho hưởng chính sách TGPL miễn phí, nay ít quan tâm thì đặt điều kiện; người nghèo, cận nghèo chiếm số đông lại được ưu ái thụ hưởng chính sách TGPL, còn thân nhân của liệt sĩ đã cống hiến, hi sinh cho đất nước, độc lập dân tộc lại bị hạn chế, không được ưu ái bằng người nghèo, người thuộc hộ cần nghèo,…).

Để Luật TGPL năm 2017 triển khai thực hiện hiểu quả, đồng bộ, phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đề nghị Chính phủ cần quy định thủ tục hành chính xác nhận người có khó khăn về tài chính trong dự thảo Nghị định; đồng thời quy định, hướng dẫn cụ thể đối với đối tượng được TGPL là người có khó khăn về tài chính phù hợp với Luật Người khuyết tật, Luật Phòng, chống mua bán người và Pháp lệnh Người có công.

PTQ


[1] Dự thảo được đăng tải trên http://trogiupphaply.gov.vn

[2] Theo Khoản 1 Điều 9 và  điểm b Khoản 1 Điều 29 Luật TGPL năm 2017.

[3] Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 thì “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.

 

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm

Bản quyền © 2012 thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Chí Phương - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
Điện thoại: 055 815477 - Fax: 055 825447
Địa chỉ: 108 Phan Đình Phùng - Thành phố Quảng Ngãi.