Tin tức

Phòng ban

Thông báo

Cơ chế một cửa

Văn bản pháp quy

Phổ biến giáo dục pháp luật

Bổ trợ tư pháp

Trao đổi, nghiên cứu

Biểu mẫu

Lịch công tác

Rà soát hệ thống hóa VBQP

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Đề cương pháp luật

TCVN ISO 9001:2008

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 7980070
Đang online: 4
Đăng ngày: 28/09/2016; 239 lần đọc

Khi tham gia tố tụng trong các vụ án hành chính, UBND và Chủ tịch UBND là những đương sự, có các quyền và nghĩa vụ như các đương sự khác. Một trong các quyền của đương sự là “…, nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình” (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp). Xung quanh vấn đề này người viết xin nêu ra một số ý kiến cá nhân sau đây:

Thứ nhất, tại Khoản 13 Điều 49 Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2010 không quy định cụ thể chủ thể luật sư là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự mà chỉ quy định là “…người khác …”. Tuy nhiên, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung chủ thể luật sư là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (NBVQ&LIHP) cho đương sự (UBND, Chủ tịch UBND) trước chủ thể “… người khác...”. Việc bổ sung thêm NBVQ&LIHP như trên, theo cá nhân người viết có một số vấn đề cần trao đổi sau:

Một là, khi UBND, Chủ tịch UBND nhờ luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì trong trường hợp này giữa UBND, Chủ tịch UBND và luật sư sẽ ký kết loại hợp đồng nào? Hợp đồng lao động? Hay hợp đồng dịch vụ pháp lý?

Hai là, về bản chất, hai loại hợp đồng trên đều thể hiện mối quan hệ giữa bên thuê – trả tiền với bên được thuê. Tuy nhiên, đối với đương sự trong vụ án hành chính là UBND và Chủ tịch UBND (bên thuê - trả tiền) khác với đương sự là công dân, tổ chức kinh tế - xã hội; đó là, đối với các đương sự khác, việc thỏa thuận, ký hợp đồng và tiền trả thù lao cho luật sư dựa trên sự thỏa thuận của các bên và trên cơ sở nguồn tài chính của đương sự; còn đối với đương sự là UBND, Chủ tịch UBND thì việc thỏa thuận, xác lập hợp đồng, mức chi trả thù lao cho luật sư bị chi phối bởi cơ chế hành chính Nhà nước. Do đó, có người cho rằng, đối với trường hợp UBND, Chủ tịch UBND nhờ luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án hành chính thì cơ sở pháp lý nào để các bên thỏa thuận về xác lập hợp đồng, mức thù lao trả cho luật sư (luật sư thu phí dịch vụ theo nguyên tắc thị trường còn Nhà nước chi trả kinh phí theo nguyên tắc luật định) và trong trường hợp Chủ tịch UBND thua kiện mà lỗi thuộc về cá nhân Chủ tịch UBND thì ai là người chịu trách nhiệm đối với số tiền đã chi trả thù lao cho luật sư? Ngân sách nhà nước hay cá nhân Chủ tịch UBND?

Ba là, hầu hết luật sư hoạt động trên cơ sở lợi nhuận và thu phí dịch vụ theo cơ chế thị trường (thường thì thu khoảng 10% – 20% giá trị tài sản trong vụ án hành chính, thậm chí có khi là 30%); trong khi đó, nguồn kinh phí Nhà nước có hạn, mỗi năm có hàng trăm vụ án hành chính (mức độ phức tập khá cao và kéo dài) và thủ tục chi trả tiền trong lĩnh vực công hết sức phức tạp. Do đó, việc nhờ đội ngũ luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND và Chủ tịch UBND gặp nhiều khó khăn; đôi khi, vì thù lao chi trả thấp, thủ tục quá nhiều nên các luật sư sẽ không chú trọng đến các vụ án được UBND, Chủ tịch UBND nhờ bảo vệ mà chuyển sang các hợp đồng dịch vụ pháp lý khác, làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.

Thứ hai, theo Khoản 13 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 thì ngoài luật sư, đương sự có quyền “… nhờ… người khác…” bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Người khác được hiểu là Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có kiến thức pháp lý, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.”[1]. Với cách hiểu này, thì chủ thể làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND, Chủ tịch UBND trong vụ án hành chính rất rộng, họ có thể là lãnh đạo các Sở: Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Lao động – Thương binh và Xã hội,… hay trợ giúp viên pháp lý hoặc công chức, viên chức khác đáp ứng điều kiện tại Điểm c Khoản 1 Điều 61 Luật TTHC năm 2015.

Việc quy định mở rộng chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp – người khác nêu trên tuy tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết vụ án hành chính, giúp UBND, Chủ tịch UBND kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước song hầu hết các chủ thể “… người khác…” có nhiều hoạt động kiêm nhiệm, khối lượng công việc chuyên môn khá lớn, hầu hết thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng, nhất là đối với các vụ án hành chính kéo dài, có liên quan đến nhiều người, nhiều cơ quan,… do đó, hiệu quả tranh tụng, đối thoại trong vụ án hành chính không cao.

Có ý kiến cho rằng, nên sử dụng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cơ quan Nhà nước với lý do họ vừa là viên chức Nhà nước, được ký hợp đồng làm việc không thời hạn, được hưởng các chế độ về hoạt động tố tụng (25% trách nhiệm, mức bồi dưỡng vụ việc là 40% so với luật sư,…), vừa hoạt động nghề nghiệp như luật sư,… đồng thời, sử dụng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý sẽ tiết kiệm được ngân sách Nhà nước, nâng cao hiệu quả tố tụng (trợ giúp viên pháp lý sẽ tham gia tố tụng với trách nhiệm của người thực thi nhiệm vụ hành chính của cấp trên; còn luật sư tham gia với tư cách cung cấp dịch vụ và không bị chi phối mối quan hệ điều hành nên có thể thực hiện hợp đồng hoặc không thực hiện hợp đồng). Tuy nhiên, ý kiến này lại không phù hợp với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, vì UBND và Chủ tịch UBND không thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Một số kiến nghị

Thứ nhất, các bộ, ngành trung ương cần nghiên cứu, tham mưu trình Chính phủ ban hành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Khoản 13 Điều 55 Luật TTHC năm 2015; đặc biệt quy định khung pháp lý để cơ quan Nhà nước có cơ sở xác lập hợp đồng với luật sư (loại hợp đồng nào) khi nhờ họ tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các vụ án hành chính, đồng thời quy định cụ thể mức chi thù lao đối với luật sư trong từng vụ án cụ thể, phù  hợp với hoạt động nghề nghiệp của luật sư cũng như mức thù lao họ nhận được trong một vụ án do cá nhân tổ chức khác nhờ họ làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; bên cạnh đó, cần tăng cường cải cách thủ tục hành chính về thanh toán, chi trả tiền thù lao cho luật sư khi họ hoàn thành hợp đồng nhằm kịp thời động viên, khích lệ họ tham gia bảo vệ công lý trong lĩnh công.

Thứ hai, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về tố tụng cho đội ngũ công chức, viên chức, nhất là đội ngũ lãnh đạo các sở, ngành, công chức, viên chức phụ trách lĩnh vực thường xuyên xảy ra tình trạng khiếu nại, khiếu kiện. Đối với các cơ quan tư pháp, cơ quan tham mưu giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính, tổ tham mưu giúp việc cho UBND nên cử công chức, viên chức tham gia các khóa đào tạo nghề luật sư hoặc các khóa đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo hay tham dự các phiên tòa hành chính để nâng cao trình độ, kỹ năng tham gia tố tụng trong vụ án hành chính phục vụ cho việc làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND, Chủ tịch UBND khi có yêu cầu ./.

PTQ


[1] Điểm c Khoản 1 Điều 61 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm

Bản quyền © 2012 thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Chí Phương - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
Điện thoại: 055 815477 - Fax: 055 825447
Địa chỉ: 108 Phan Đình Phùng - Thành phố Quảng Ngãi.