Liên kết website

Thống kê truy cập

vy 04-2015.jpgI. Đặc điểm và công dụng: 

1.Đặc điểm hình thái:

Quế có tên khoa học Cinnamomum cassia Blume, thuộc họ Long não (Lauraceae)

Là loài cây gỗ nhỡ, sống lâu năm, cây trưởng  thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm. Lá đơn hình trứng ngược, mọc cách có 3-5 gân cùng gốc, mặt trên xanh bóng, mặt dưới xanh đậm. Thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. Rễ phát triển mạnh, cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau. Vì thế quế có khả năng sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. Cây 7- 8 năm tuổi bắt đầu có hoa, hoa nở vào tháng 4-5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau. Quả non có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng có một hạt. Một kg hạt có từ 2.500 – 3.000 hạt.

2. Đặc điểm sinh thái:

Quế là loài cây thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, lượng mưa từ 2000 mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 210 - 230C, độ ẩm bình quân trên 80%. Quế sinh trưởng tốt trên vùng đất  có độ dốc thoải, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoát nước, độ pH khoảng 5 - 6, phát triển tốt trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granít. Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hoá, tầng đất mỏng, khô, nghèo dinh dưỡng, đất đá ong hoá, đất chua phèn, đất ngập nước và đất đá vôi khô. Độ cao thích hợp từ 300 – 700m so với mặt nước biển. Theo kinh nghiệm của nhân dân vùng có quế cho biết ở vùng cao cây quế có xu hướng thấp lùn, chậm lớn nhưng vỏ dày và có nhiều dầu. Quế lúc còn nhỏ cần che bóng từ 20-30%, khi 2-3 tuổi quế hoàn toàn ưa sáng.

La que.jpgHat que.jpg

3. Công dụng:

Các bộ phận của cây quế như: vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4-5%. Tinh dầu quế có màu vàng, vị thơm, cay, ngọt thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70-90% dùng trong y dược, hoá mỹ phẩm và thực phẩm.

Que lam gia vi.jpg         Que lam thuoc.png           Que lam my pham.png
            Làm gia vị                            Làm thuốc                      Mỹ phẩm

II. Kỹ thuật gieo ươm:

1. Chuẩn bị vườn ươm:

Phải là nơi đất tốt, thoát nước, không bị úng ngập, gần nguồn nước sạch, gần hiện trường trồng rừng và đường giao thông. Vườn ươm phải có giàn che, độ che phủ bên trên 70-80% và che tủ cả 4 bên, đặc biệt hướng Tây và Bắc cần che kín.

1.1. Vườn ươm tạo cây con trồng rễ trần:

Chọn đất tơi xốp, cuốc xới lượm sach cỏ dại, gốc cây. Làm luống gieo ươm cao 20 cm, bề mặt luống rộng 1m. Gieo hạt theo rạch, rạch cách rạch 10cm, hạt cách hạt 2-3 cm, gieo xong lấp đất mịn phủ kín hạt ở độ sâu 1-1,5cm.

1.2. Vườn ươm tạo cây con có bầu:

- Túi bầu: Là túi PE có kích thước 9x14 hoặc 10x16 (cm), được chặt bỏ 2 góc hay đục 4-8 lỗ ở phần dưới của bầu..

- Ruột bầu: Gồm 80-90% đất mùn tơi xốp + 20-10% phân chuồng hoai có ủ 1-2% supper lân. Đất dùng để làm hỗn hợp bầu cần qua sàng để lọc đá, rễ cây, tạp vật…

          - Dồn bầu: Cho hỗn hợp vào 1/3 bầu, ém chặt đáy bầu cho thành thẳng đứng, tiếp tục cho đất vào bầu thổ nhẹ cho đến khi đầy bầu.

- Xếp luống: Mỗi luống xếp từ 16-20 bầu theo chiều rộng, chiều dài khoảng 10-15m là vừa. Xếp bầu xong nên tém đất vào quanh chân luống để giữ cho bầu ổn định không bị lay ngã do va chạm.

Bau que.jpg

2. Xử lý hạt giống:

Hạt quế cần gieo ngay sau khi thu hoạch, nếu bảo quản tốt chỉ để được 7-10 ngày, nếu để lâu hạt sẽ giảm tỷ lệ nảy mầm. Trái thu hái về ủ 1-2 ngày cho chín đều, sau đó ngâm vào trong nước chà xát đãi bỏ vỏ và hạt lép. hạt sau khi chế biến ngâm trong nước ấm 400C trong 12 giờ, vớt ra rửa sạch rồi ủ trong cát ẩm. Hàng ngày kiểm tra và tiếp ẩm đảm bảo đủ độ ẩm để hạt nẩy mầm.

3. Cấy mầm hạt:

Sau ủ 5-7 ngày hạt nứt nanh, lựa hạt có mầm cấy vào bầu. Khi hạt đã nứt nanh cấy vào bầu, cấy 1 mầm/ bầu, ở độ sâu 1-1,5cm và phủ kín hạt bằng đất tơi mịn. Có thể cấy cây con lúc vừa nhú hình kim hay 4-5 cặp lá vào bầu.

Chuan bi tui bau.jpg

4. Chăm sóc cây ươm:

- Che tủ: Chú ý giàn che bên trên và xung quanh. Sau 6-7 tháng cây ổn định, cần dỡ bỏ bớt giàn che chỉ còn từ 30-50% và dỡ dần trước lúc trồng 1 tháng chỉ còn lại 20-30%. Giàn che có thể làm bằng lá, nứa đập giập hay lưới nilông sẫm màu.

- Tưới nước: 15 ngày đầu sau khi cấy mầm (gieo hạt), tưới nước bằng hoa sen lỗ nhỏ (2 lần/ ngày vào lúc sáng sớm và chiều mát) luôn giữ ẩm cho luống cây. Về sau có thể tưới nước ngày 1 lần, đảm bảo đất trong bầu (luống) đủ ẩm để cây sinh trưởng.

- Làm cỏ: Hàng ngày tưới nước kết hợp nhổ cỏ cho cây. Định kỳ 20-30 ngày làm cỏ, xới váng cho cây 1 lần. Nhất là sau những trận mưa dài ngày nên xới váng ngay để cây được thông thoáng.

- Tưới phân thúc:

 Tưới phân: Cây sinh trưởng kém thì dùng phân NPK pha loãng 0,2-0,3% (20-30g trong 10 lít nước), 1 lít dung dịch tưới cho 3-4 m2 đất

* Chú ý: Tưới phân xong phải tưới lại bằng nước lã để rửa sạch và ngưng tưới phân trước khi trồng 1 tháng.

- Phòng trừ sâu bệnh: Định kỳ 20-30 ngày phun thuốc phòng bệnh cho cây. Sau mỗi trận mưa lớn cần phun thuốc phòng bệnh cho cây. Nếu phát hiện có bệnh thì phun trừ theo từng loại:

          + Rầy nhớt: theo dõi thấy xuất hiện rầy nhớt cần phun Actara, confidor...

          + Bệnh lỡ cổ rễ: thường xuất hiện vào giai đoạn cây con từ 2-3 tháng tuổi. Nếu độ ẩm cao, mưa nhiều có thể làm cho cây con chết hàng loạt. Loại thuốc thường dùng là: Boóc đô nồng độ 1%, Benlát C,

Anvil...các loại thuốc trừ bệnh có gốc đồng (Cu).

          + Bệnh nám lá, thán thư: thường xuất hiện lúc cây con từ 5-6 tháng tuổi khi mà nhiệt độ cao, độ ẩm không đảm bảo, thì phun thuốc: Champion, Score...các loại thuốc có gốc lưu huỳnh (S).

          + Bọ xít nâu: Thuốc trị Admire 50EC

+ Sâu đục cành: Dipterec

* Lưu ý: Liều lượng sử dụng theo chỉ dẫn ghi ở bao bì. Thời gian phun vào lúc sáng sớm sau khi ráo sương. Khoảng cách giữa 2 lần phun là 3-7 ngày và phun 2-3 lần liên tục cho đến khi hết bệnh.

 - Đảo bầu, phân loại cây:

+ Lần 1: Khi cây cao 8-10 cm  

+ Lần 2: Khi cây cao 15 -20 cm.​

+ Lần 3: Trước khi xuất trồng 1 tháng để cây cứng, khỏe.

III. Kỹ thuật trồng rừng:

1. Chọn đất trồng rừng:

- Đất đồi tương đối tốt, ẩm.

- Trồng quế dưới tán rừng nghèo kiệt hoặc rừng mới phục hồi sau nương rẫy.

- Trồng trong vườn, trồng xen theo hình thức nông lâm kết với với các loài cây ăn quả.

2. Trồng rừng:

          2.1. Thời vụ trồng:

Trồng vào mùa mưa từ tháng 9 - 12 hàng năm, tốt nhất là đầu vụ mưa để cây trồng đạt tỷ lệ sống cao.

2.2. Mật độ trồng:

Tuỳ theo mục đích kinh doanh và khả năng đầu tư mà xác định mật độ trồng cho phù hợp:

- Nếu trồng thuần thì bố trí mật độ 3.300-5.000 cây/ ha.

          - Nếu trồng xen với các loài cây khác thì bố trí theo mật độ 800-1.670cây/ ha

2.3. Chuẩn bị đất trồng rừng:

2.3.1 Phát dọn thực bì:

- Phát theo băng: Nếu trồng dưới tán rừng thì luỗng phát theo băng, băng phát 3,0 m, băng chừa 1,0 m. Phát thực bì cỏ dại có trong băng phát, chiều cao gốc chặt không quá 10 cm, thỉnh thoảng để lại những cây lớn để che phủ.

- Phát theo hố: Có thể phát theo hố trồng rộng 1 m.

- Nếu trồng theo hình thức nông lâm kết hợp thì phát trắng và dọn

sạch thực bì.

2.3.2. Làm đất:

- Đào hố: Trong băng phát đào 2 hàng hố, hàng cách hàng 2m, hố cách hố 1,0-1,5-2,0 (m). Hố đào có kích thước 30x30x30 (cm) hoặc 40x40x40 (cm).

- Bón phân lót, lấp hố: Bón 0,2-0,5 kg phân lân vi sinh/ hố hoặc 0,02-0,03 kg NPK/ hố, trộn đều phân vào đất và lấp đầy hố trước khi trồng ít nhất 5-7 ngày.

2.3.3. Kỹ thuật trồng cây:

* Tiêu chuẩn cây giống:

- Cây có bầu: Cao 20-30 cm có từ 4-5 cặp lá, có ngọn, cây khoẻ.

- Cây rễ trần: Cao từ 25-35 cm có từ 4-5 cặp lá, cây khoẻ, không sâu bệnh, cụt ngọn.

Cay giong du tieu chuan.jpg
     Cây giống đủ tiêu chuẩn

- Trồng cây có bầu:

Dùng cuốc khoét 1 lỗ nhỏ, rạch bỏ túi bầu, đặt cây ngay ngắn giữa lỗ, tém đất vào gốc và ém chặt bầu từ ngoài vào trong và từ trên xuống dưới.

- Trồng cây rễ trần: Cây sau khi nhổ xong phải hồ rễ. Dùng cuốc cuốc 1 lỗ sâu hơn chiều dài rễ, đặt cây ngay ngắn giữa lỗ, kẹp thân cây giữa 2 ngón chân tém đất vào gốc và dện chặt lum dạng mu rùa.

* Chú ý: Lựa cây theo cỡ chiều cao bố trí trồng trên khoảnh đất để có điều kiện chăm sóc giúp rừng cây sinh trưởng đều.

IV. Chăm sóc rừng trồng:

          Chăm sóc liền 3-5 năm sau khi trồng, mỗi năm chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 2-3, lần 2 vào tháng 8-9. Nội dung chăm sóc gồm: trồng dặm, dẫy cỏ tém gốc, bón phân, rong tỉa cành, phòng trừ sâu bệnh và quản lý bảo vệ rừng trồng. Cần lưu ý điều chỉnh ánh sáng hợp lý để cây nhanh lớn và vỏ dày hơn.

          - Chú ý cây che bóng: Khi cây mới trồng đến tròn 1 năm tuổi cần có độ che bóng từ từ 30-40%, tránh ánh sáng. Khi quế được 2 năm tuổi phát bỏ cây che bóng.  

- Phát dọn thực bì, cỏ dại. gỡ dây leo quấn quanh thân cây.

          - Dẫy cỏ, xới xáo quanh gốc: Dẫy sạch cỏ dại quanh gốc cây và xới xáo xung quanh gốc sâu 10-15cm, rộng 0,6-0,8 m.

          - Bón phân: Bón phân NPK 16-16-8.13S, với liều lượng 0,05-0,1kg/gốc/năm.

          - Phòng trừ sâu bệnh:

                   + Sâu: Sâu ăn lá, sâu đo, sâu đục thân thì dùng Trebon, Lanat...

                   + Bệnh: Bệnh đốm lá, bệnh tua mực: cần vệ sinh rừng sạch sẽ thông thoáng đề phòng bệnh. Nếu có bệnh thì dùng Anvil, Bavistin...

* Chú ý: Liều lượng và cách dùng theo chỉ dẫn ghi ở bao bì.

V. Thu hoạch rừng trồng và thị trường giá cả:

1. Thu hoạch rừng trồng: .

Tại Quảng Ngãi có 2 mùa thu hoạch đó là tháng 2-3 và 7-8. Có 2 phương thức thu hoạch.

1.1. Thu hoạch 1 lần (khai thác trắng):

Khi rừng trồng đạt tiêu chuẩn sản phẩm (có đường kính từ 15 cm trở lên) có thể khai thác trắng 1 lần. Sau đó làm đất và trồng lại.

1.2. Thu hoạch chọn (khai thác chọn):

- Sau 4-5 năm chọn những cây cong queo, sâu bệnh, những cây sinh trưởng kém... khai thác và chừa lại những cây sinh trưởng tốt tiếp tục nuôi dưỡng.                             

- Cũng có thể sau 4-5 năm, chọn những cây sinh trưởng tốt lớn hơn ở trong rừng để khai thác trước và khai thác dần cho đến hết (cách nầy chỉ sử dụng cho những ai thiếu vốn). Trên một cây quế có thể chặt ngã cây và khai thác tất cả vỏ một lần hoặc cũng có thể khai thác vỏ nhiều lần trong nhiều năm trên một cây.

Boc vo que.jpg

 1.3. Chuẩn bị rừng khai thác:

Bóc thử một vài cây để xác định thời điểm khai thác. Ở Quảng Ngãi một năm có 2 mùa: tháng 2-3 và 7-8.

- Dùng dụng cụ bóc vỏ để bóc một khoanh vỏ quanh thân sát gốc có chiều dài từ 40-60cm.

- Chặt ngã cây.

- Dùng dao bóc vỏ để bóc vỏ ra khỏi thân cây theo quy cách đã xác định.

Trong khi bóc vỏ ra khỏi thân cây, cần chú ý để có nhiều khoanh vỏ đẹp, hợp quy cách các loại sản phẩm ngay từ lúc cắt khoanh, để các thanh vỏ quế thẳng, đều, không bị mắt chế, không bị thủng lỗ. Khi lột vỏ ra khỏi thân cây cần nhẹ nhàng, không để lòng thanh quế bị xây xát hai đầu thành không bị nứt ran, cũng có thể lau sạch thanh quế, lau khô n­ước lòng thanh quế trư­ớc khi đem ủ để tránh mốc.

2. Thông tin thị trường và giá cả:

2.1. Thông tin:

Vào ngày 30 tháng 8 năm 2010 Quảng Ngãi đón nhận thương hiệu Quế Trà Bồng. Hàng năm Quảng Ngãi khai thác khoảng 500 tấn quế vỏ.

2.2. Giá cả:

          - Quế xô:                                          - Quế thanh:

+ Quế tươi: 8.000 đ/ kg                  + Quế miền Bắc:  20.000 đ/ kg

          + Quế khô:                                      + Quế địa phương:24.000đ/ kg

          . Quế miền Bắc: 14.000 đ/ kg

          . Quế địa phương: 18.000 đ/ kg

          * Chú ý: Cây càng lớn, vỏ càng dày, giá trị càng cao.

Tin đã đưa


Phim tư liệu
Nhà máy lọc dầu Dung Quất Quảng Ngãi
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

Đẹp  200%
Bình thường  100%
Xấu  100%

Bản quyền © 2014 thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Tô - Tổ Trưởng Tổ Thông tin