Liên kết website

Thống kê truy cập

Cay mia.jpg 
Hiện cây mía đang bị cạnh tranh bởi nhiều cây trồng khác, diện tích mía khó có thể gia tăng thậm chí nhiều vùng còn có xu hướng bị thu hẹp dần. Chính vì vậy việc phát triển mía theo hướng thâm canh để đạt năng suất đường cao nhất trên một đơn vị diện tích là vần đề thiết thực và đúng đắn. Để đạt được điều đó cần phải có biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ làm đất, chọn giống, trồng, bón phân, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

I. KỸ THUẬT TRỒNG MÍA

1.Thời vụ trồng:

          - Vụ Đông xuân: Trồng từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Trồng tốt nhất từ tháng 12 đến hết tháng 2 năm sau.

2. Đất đai:

2.1 Chọn đất:

- Đất có thành phần cơ giới trung bình hoặc hơi nhẹ. Đất có cấu tượng viên tốt; giữ nước tốt và luôn luôn xốp thoáng.

- Đất có điều kiện thoát nước triệt để, không bị úng nước.

- Đất có tầng canh tác dày từ 80cm trở lên;

- Đất trung tính có độ pH từ 6 đến 7.        

2.2 Kỹ thuật làm đất:

a. Tác dụng làm đất sâu:

+ Tăng khả năng chống hạn cho mía ở các tháng ít mưa, đặc biệt là ở đất đồi, đất khô hạn.

+ Tạo môi trường tốt cho rễ phát triển (cây sinh trưởng phát triển nhanh, chống đổ tốt).

+ Tăng khả năng cung cấp chất dinh dưỡng nhất là các nguyên tố vi lượng cần thiết cho mía.

b. Cách làm đất:

Tiến hành vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại, mầm mống sâu bệnh, làm cho đất tơi xốp thông thoáng. Cày đất là khâu quan trọng giúp bộ rễ mía ăn sâu, chịu hạn, chống đổ và tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây. Cày lần đầu cần sâu khoảng 40 - 50 cm, bừa kỹ, dọn sạch cỏ rác. Bón vôi  trước khi bừa lần cuối.

* Một số yêu cầu trong kỹ thuật làm đất:

- Chuẩn bị đất trồng phải kỹ, đảm bảo giữ ẩm, sạch cỏ dại, bằng phẳng, tơi xốp.

- Đất phải cày bừa 2-3 lần. Hướng cày lần sau phải vuông góc với lần trước để tránh lõi và đạt độ sâu cần thiết.

Độ sâu cày máy từ 20-30cm, độ sâu cày trâu bò 14-15cm.

3. Trồng mía

3.1. Giống:

 Chọn hom giống:

- Hom giống được lấy từ mía cây 7÷8 tháng tuổi tại ruộng mía giống hoặc lấy hom chiếc, hom đôi từ mía 11÷12 tháng tuổi (Tốt nhất lấy từ ruộng mía tơ).

- Giống phải thuần, không lẫn, không sâu bệnh, mỗi hom phải có 2÷3 mắt mầm sống, chiều dài hom 30÷35cm, đường kính hom > 2cm.

 Xử lý hom:

Hom sau khi lột sạch bẹ lá dùng nước vôi 1,5÷2% để xử lý (Cứ 100lít nước hoà với 1,5÷2kg vôi bột để lắng, lấy phần nước trong tưới đều lên hom giống và ủ thời gian từ 20÷24 giờ sau đó đem trồng). Mục đích để mối không ăn 2 đầu hom và kích thích hom nẩy mầm nhanh.

3.2. Bố trí mật độ, khoảng cách trồng:

          - Lượng giống: 8 tấn/ha

          - Mật độ, khoảng cách:

Khoảng cách hàng trồng tùy theo điều kiện chăm sóc. Nếu xới bằng máy khoảng cách 1,0 - 1,2 m, mật độ: 35.000÷40.000hom/ha. Nếu chăm sóc thủ công có thể trồng dày hơn khoảng 0,8 - 1 m

          Nhìn chung tuỳ thuộc vào điều kiện giống, đất đai, khả năng cơ giới hoá, khả năng đầu tư mà có khoảng cách mật độ trồng khác nhau.

3.3. Rạch hàng và bón lót.

Rạch hàng sâu 25- 30cm, dưới hàng có lớp đất nhỏ xốp dày 5 - 10cm.

Trước khi đặt hom cần bón lót toàn bộ phân hữu cơ, phân lân và một phần phân đạm và phân kaly. Ở những nơi có mối hoặc mầm mống của sâu bệnh có thể bón lót thêm thuốc trừ mối, trừ sâu (Sago Super 3G ...). Các loại phân và thuốc hóa học được rải theo rãnh đặt hom mía, dùng cuốc trộn đều phân, thuốc với đất ở rãnh trồng rồi mới rải hom.

*Lượng phân bón lót cho 1 ha:

          + Phân hữu cơ: 10-14tấn.

          + Phân đạm urê: 120 kg.

          + Lân Super: 600 kg.

          + Vôi bột: 700 kg.

3.4. Đặt hom và lấp đất:

Hom được đặt dọc theo đáy rãnh nối đuôi nhau (Riêng ROC27 nếu lóng dài có thể đặt gối ¼ hom để đảm bảo tỷ lệ mọc mầm), sau đó dùng cuốc lấp kín hom, nếu đất ẩm lấp dày 3÷4cm, nếu đất khô lấp dày 5÷6cm. Mỗi đầu hàng bố trí 3÷4 hom để trồng dặm.

3.5. Phun thuốc cỏ (Tiền nẩy mầm):

- Sau khi trồng 1÷5 ngày dùng thuốc Metrimex 80 wp để phun.

- Cách phun: Pha 50gram thuốc/bình 16lít nước phun đều trên băng mía đã trồng (Mỗi sào phun 2 bình với 100 gram thuốc), phun xong không được xới xáo.

4. Phân bón:

4.1 Ý nghĩa của việc bón phân cho mía:

          Mía là cây trồng có sinh khối lớn nên cây mía cần nhiều chất dinh dưỡng hơn các cây trồng khác.

          Ở mỗi thời kỳ sinh trưởng, yêu cầu về dinh dưỡng của cây mía cũng khác nhau. Giai đoạn đầu sinh trưởng, thời kỳ nảy mầm cây con sống nhờ dinh dưỡng chứa trong hom mía. Khi bộ rễ thứ sinh phát triển cây hút dinh dưỡng và nước từ trong đất và nhu cầu tăng lên.

          Thời kỳ mía giao lá, làm lóng vươn cao mạnh là thời kỳ cây cần nhiều dinh dưỡng. Sang giai đoạn chín, tích lũy đường, cây vẫn hấp thụ các chất dinh dưỡng.

          Các chất khoáng chứa trong mía với tỷ lệ rất nhỏ nhưng lại giữ vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống cây mía như N, P, K, Ca và các nguyên tố vi lượng khác. Các chất này một phần có sẵn trong đất, phần chủ yếu lại được cung cấp dưới các dạng phân bón: Phân hữu cơ, phân vô cơ, phân vi lượng, phân vi sinh.v.v... Trong số đó, phân hữu cơ chiếm vị trí quan trọng hàng đầu rồi mới đến phân vô cơ, vi lượng, vi sinh vì ngoài tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho cây như phân vô cơ thì phân hữu cơ có những tác dụng mà loại phân khác không thể thay thế được như: Tạo điều kiện thoáng xốp cho rễ mía phát triển, Giữ ẩm tốt ở khu vực rễ mía, chứa axit humic giúp bộ rễ phát triển tốt, tăng lượng mùn trong đất, làm cho đất có cấu tượng tốt.

4.2. Các loại phân bón cho cây mía.

4.2.1. Phân hữu cơ:

          Phân hữu cơ là các loại phân chuồng (trâu, bò...), phân rác phế thải chế biến, bùn lọc ở các nhà máy đường, phân xanh v.v...

          Tác dụng của phân hữu cơ:

- Cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.

- Cải thiện đặc tính vật lý của đất, tăng hàm lượng mùn cho đất.

- Làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, giữ ẩm tốt, nhờ vậy cây hấp thụ chất dinh dưỡng trong đất tốt hơn, cho năng suất cao hơn.

Trong phân hữu cơ có đầy đủ các chất đạm, lân, kaly và các chất vi lượng cần thiết cho cây mía. Bón phân hữu cơ, dễ thực hiện sự cân đối giữa các chất N, P, K đồng thời đảm bảo sự cung ứng đều đặn các chất dinh dưỡng trong suốt cả quá trình sinh trưởng, giúp cho cây sinh trưởng tốt, ổn định, dẫn đến năng suất cao chất lượng tốt.

Thông thường phân hữu cơ dùng để bón lót trước khi trồng.

4.2.2. Phân hóa học:

a. Đạm:

Đạm chỉ chiếm khoảng 1% tổng trọng lượng chất khô trong cây mía khi thành thục, song nó giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với năng suất và chất lượng của cây mía. Tác dụng của phân đạm là giúp cho cây mía mọc khỏe, đẻ nhiều nhánh, mật độ cây cao. Ruộng mía bón đủ đạm cây phát triến mạnh, tốc độ làm lóng vươn cao nhanh, bộ lá xanh tốt.

Các dạng phân đạm phổ biến bón cho mía: Sunfat amôn, nitrit amôn, phân urê, phân tổng hợp NPK...

b. Phân lân:

Là một trong ba nguyên tố lớn quan trọng tham gia vào quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mía.

Tác dụng chính của phân lân là:

- Giúp cho cây mía phát triển tốt bộ rễ, nhờ đó sự hấp thu dinh dưỡng, nước được tốt hơn, khả năng chịu hạn được tăng lên.

- Giúp cây mía đẻ nhánh khỏe, vươn cao nhanh hơn và giữ cân bằng giữa đạm – lân – kali giúp cho mía phát triển cân đối giữa năng suất và chất lượng.

c. Kali.

Là một loại phân bón mà cây mía cần nhiều nhất. Tác dụng của Kali tham gia vào quá trình hình thành tế bào, tổng hợp protein, quang hợp. Giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển protein và đường, giữ sự cân bằng nước trong cây,  tăng khả năng chịu hạn và chống đổ của cây mía. Nó còn có tác dụng tăng hàm lượng xenluloza trong cây, tăng khả năng đề kháng với sâu bệnh.

          Thiếu Kali mía sẽ đẻ kém hoặc không đẻ nếu thiếu nghiêm trọng. Thiếu Kali bộ rễ phát triển kém, kich thước lá giảm, dễ nhiễm sâu bệnh, chịu hạn kém, năng suất mía cây thấp, phẩm chất kém. Trên cây nếu thiếu Kali biểu hiện rõ là lá từ xanh chuyển vàng. Bắt đầu từ ngọn lá rồi lan xuống giữa lá.

            Bón kali đầy đủ và cân đối với đạm và lân sẽ làm cho mía sinh trưởng mạnh, đẻ nhiều, bộ rễ phát triển tốt, năng suất cây mía cao, tích lũy đường tốt và tích lũy sớm hơn so với thiếu Kali. Phẩm chất nước mía tốt, độ thuần khiết cao, dễ chế biến.

          Có hai dạng phân kali: Sunphat kali và Clorua kali. Trong đó bón phổ biến cho mía là Clorua kali.

d. Vôi (Canxi):

          Tác dụng chính của vôi là khử chua, làm tăng độ pH trong đất, giúp cho mía hấp thụ có hiệu quả các chất dinh dưỡng. Mặt khác, bón vôi cũng cải thiện đặc tính vật lý của đất, làm cho quá trình phân giải các chất hữu cơ và hoạt động của các vi sinh vật trong đất tốt hơn. Trong cây mía khi thành thục, Canxi tích lũy nhiều ở rễ rồi đến lá và thân.

          Tùy độ chua của đất để bón lượng vôi cho phù hợp.

e. Phân vi lượng:

          Là loại phân chứa các nguyên tố: Magiê, lưu huỳnh, sắt, mangan, đồng, kẽm...Đây là loại phân dùng với số lượng tương đối ít hoặc rất ít. Nhưng thiếu chúng cũng gây ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng cây mía. Thông thường bón phân hữu cơ, phân lân nung chảy, photphat lân chúng ta đã cung cấp một số phân vi lượng cần thiết cho mía.

          Nếu có điều kiện nên bón bổ sung thêm để năng suất và chất lượng mía được đảm bảo.

4.3. Những yêu cầu đối với bón phân:

          Bón phân cho mía phải đạt 3 mục tiêu: Tăng năng suất mía, tăng hàm lượng đường, nâng cao độ phì nhiêu của đất, để vừa đạt được hiệu quả kinh tế cao trước mắt, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế ổn định lâu dài.

          Thực tế trong sản xuất cho thấy: thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân chính hạn chế năng suất mía. Bón phân không cân đối, bón muộn là nguyên nhân mía nguyên liệu không đạt chữ đường cao. Vì vậy bón đủ phân - cân đối- đúng cách là biện pháp cần thiết và quan trọng nhất để tăng năng suất và chất lượng mía.

II. CHĂM SÓC MÍA

1. Đối với mía tơ:

1.1 Trồng dặm:

- Sau trồng 20÷30 ngày mía mọc cao 10÷15cm, có 1÷2 lá thật, lúc này mía sắp kết thúc giai đoạn nẫy mầm, kiểm tra ruộng mía những nơi không có mầm mọc sử dụng hom dự phòng ở đầu hàng hoặc ủ hom giống nức nanh để trồng dặm.

- Lợi dụng trời râm mát hoặc có mưa để dặm

1.2. Cuốc cỏ xới xáo:

Trường hợp phun thuốc cỏ tiền nẫy mầm thì sau trồng 40÷50 ngày tiến hành xới xáo để rễ mía phát triển và mía đẻ nhánh tập trung. Nếu không sử dụng thuốc cỏ tiền nảy mầm thì có thể xới xáo sớm hơn để diệt cỏ (25÷30 ngày sau trồng).

1.3 Bón phân thúc:

*Lượng phân bón thúc cho 1 ha:

Ðể đạt năng suất cao thì cần bón đủ và đúng theo nhu cầu của cây. Lượng phân cần bón tùy theo loại đất, với mía thâm canh cần bón lượng phân như:

- Bón thúc lần 1: Sau mọc mầm 30-35 ngày tiến hành bón phân thúc, lượng phân bón:  140 kg Urê + 200 kg Kali/ha, bón cách gốc 10 - 15cm.

- Bón thúc lần 2 kết hợp vun gốc: Khi mía khoảng 3 tháng  tiến hành bón phân lần 2. Lượng phân bón: Urê 140 kg + 200 kg Kaliclorua/ha, bón cách gốc 10 - 15cm.

          Lưu ý: Bón phân cho cây mía phải rạch hàng (có thể dùng máy rạch hàng hay dùng bò cày), rải phân và lấp đất để phân bón không bị thất thoát do mưa rửa trôi hay nắng bốc hơi, làm tăng hiệu quả phân bón, bảo đảm dinh dưỡng cho cây mía hấp thu tốt, đạt năng suất và chữ đường cao.

          Không nên bón cho mía khi trời mưa to hoặc nắng to. Kết hợp các đợt xới xáo, làm cỏ để bón thúc.

1.4. Vun gốc:

Vun gốc kết hợp vào các thời điểm bón phân thúc để giúp rễ mía phát triển thuận lợi, đất tơi xốp, giữ ẩm, mía chống đổ tốt, hạn chế đẻ chồi muộn.

Lần 1: Vun nhẹ vào gốc kết hợp xới xáo, bón phân.

Lần 2: Vun cao sau khi xới xáo bón phân thúc lần 2, giúp khống chế các chồi muộn.

Ngoài ra có thể xới xáo vun gốc vào thời điểm mía được 3 - 4 lóng để giúp cây mía chống đổ tốt.

1.5. Lột lá mía:

Khi cây mía được khoảng 4 tháng tuổi, nên tiến hành lột lá để có được những lợi ích  sau:

          - Tạo sự thông thoáng trong ruộng mía, giảm thiểu những sinh vật có hại trong ruộng mía như: nấm bệnh, sâu hại, chuột bọ…

- Lớp lá mía ở mặt đất, có thể duy trì độ ẩm của đất.

- Hạn chế cỏ dại trong ruộng mía.

1.6. Tỉa mầm định cây: Có 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Trong thời kỳ đẻ nhánh: sau mọc mầm khoảng 2 tháng

+ Giai đoạn 2: Thời kỳ bắt đầu vươn lóng: sau mọc mầm khoảng 3 tháng. Đến tháng thứ 11 về sau dừng tỉa mầm để giữ lại những mầm thu (nhằm giúp mía sau thu hoạch mọc mầm khoẻ).

1.7. Tưới, tiêu nước:

Chỉ thực hiện ở vùng mía thâm canh chủ động tưới tiêu, cách tưới theo phương pháp tưới thấm, đưa nước vào rãnh và tưới theo hàng mía, chú ý đối với đất xám bạc màu tưới từ 2-3 lần/vụ vào thời kỳ: mía đẻ nhánh (30-35 ngày), hình thành lóng và vươn lóng; đối với đất phù sa tưới vào thời kỳ mía đẻ nhánh và vươn lóng.

Riêng đất không có khả năng tưới nước mà dựa vào nước trời thì chọn thời điểm đất còn ẩm trong tháng 2-3 dương lịch để xuống giống và lợi dụng các cơn mưa giông hoặc mưa tiểu mãn để bón phân thúc cho mía.

 Lưu ý: Đất trồng mía không được để nước ngập úng, phải thoát nước nhanh không để đọng nước vào mùa mưa. Sau khi trồng 10-15 ngày nếu gặp mưa nên xới phá váng.

Nên giữ ẩm cho cây mía trong giai đoạn mía đẻ nhánh và vươn lóng, nhất là thời kỳ bón phân.

- Tiêu nước: Trong mùa mưa vét rãnh tiêu nước kịp thời, không để úng cục bộ trong ruộng mía.

2. Đối với mía lưu gốc:

2.1. Lợi ích của mía gốc:

- Mía gốc giảm 30% chi phí sản xuất so với trồng mới (công đào gốc, làm đất, đánh rãnh, hom trồng...).

- Mầm mía gốc mọc sớm và nhanh hơn mía tơ, rễ của mía gốc cũng mọc nhanh và dày đặc, chịu ngập chịu hạn tốt hơn mía tơ.

- Mía gốc có nhiều mầm (1 khóm khoảng 60 mầm), do đó khả năng tăng số cây hữu hiệu trên một đơn vị diện tích rất lớn, các mầm nằm sâu trong đất có sức sống cao; mầm mía gốc to hơn mầm mía tơ nhiều lần.

2.2 Kỹ thuật xử lý và chăm sóc mía lưu gốc:

          Trong cùng một điều kiện như nhau, ruộng mía để lưu gốc sau khi thu hoạch được xử lý, chăm sóc kịp thời mía sinh trưởng và phát triển nhanh, đạt năng suất mía và hàm lượng đường trên mía cao. Dưới đây là các bước trong công việc chăm sóc:

* Bạt gốc sớm:

          Sau khi thu hoạch xong, ruộng mía để lưu gốc phải được xử lý ngay. Phải tiến hành bạt gốc sớm, để khắc phục tình trạng trồi gốc của mía lưu gốc. Bạt gốc là cắt bỏ đoạn gốc thừa ở phần trên cùng, chỉ để lại đoạn gốc phần dưới cùng dài từ 6 – 10cm, bao gồm từ 3 đến 5 đai rễ ( tức có từ 3 – 5 mầm ngầm là được).

* Khi mầm gốc đã mọc đều, tiến hành kiểm tra đồng ruộng xem nơi nào bị chết mất khoảng thì phải dặm lại để đảm bảo độ đồng đều và mật độ cây cần thiết của ruộng mía.

          * Làm cỏ, bón phân, xới xáo, vun gốc v.v.. vào các giai đoạn sinh trưởng của mía được thực hiện đầy đủ và kịp thời như đối với những ruộng mía trồng mới.

          - Đối với bón phân:

          + Lượng bón: Tương tự mía tơ. Riêng về phân đạm, lượng bón ở mía gốc thường tăng từ 15 – 20% so với lượng bón cho mía tơ.

          2.3. Một số chú ý về mía gốc:

          - Giống mía để gốc phải chọn loại có khả năng tái sinh mạnh.

          - Ruộng mía để gốc phải chọn ruộng mía tốt, đồng đều, không bị mất quãng quá 20%.

          - Những ruộng mía bị nhiễm nặng các loại sâu bệnh quan trọng không nên để gốc (bệnh than, rệp bông v.v.)

          - Những ruộng mía sẽ lưu gốc phải chọn thời điểm thu hoạch thích hợp để giữ cho gốc không bị chết và tái sinh thuận lợi. Nghĩa là không thu hoạch ruộng mía để gốc vào các thời điểm khô hạn, giá  rét và úng ngập.

          - Sau khi thu hoạch xong ruộng mía để gốc, phải được xử lý, chăm sóc ngay không chậm trễ, tạo điều kiện cho mầm mọc nhanh và phát triển.

III. QUY TRÌNH PHÒNG TRỪ DỊCH HẠI TỔNG HỢP IPM

1. Giai đoạn trước khi trồng

- Đối tượng phòng trừ: Các loài sâu đục thân, rệp sáp, sùng trắng, các bệnh do vi khuẩn, nấm lây qua hom giống.

- Nội dung thực hiện:

+ Vệ sinh đồng ruộng: Trước khi trồng cần vệ sinh, phát quang bờ lô, băm vùi lá mía để diệt các mầm mống sâu bệnh trong tàn dư mía của vụ trước, đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của sâu bệnh. Những ruộng mía bị sậu bệnh nặng thì cho đốt lá để tiêu diệt nguồn sâu bệnh hại trước khi tổ chức trồng lại.

+ Lựa chọn thời vụ trồng thích hợp sẽ đảm bảo cho cây mía sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loại sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho cây trồng tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

+ Chọn các giống mía tốt, sạch bệnh, chống chịu sâu bệnh: Giống tốt sẽ sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng cao. Còn giống chống chịu sâu bệnh tốt sẽ giúp giảm sử dụng thuốc hóa học, giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ được thiên địch, giữ được cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp trong ruộng mía.

+ Chọn ruộng, chọn hom tốt: Ruộng giống không bị sâu bệnh, 6-8 tháng tuổi, thuần giống và khả năng nảy mầm tốt, mỗi cây có từ 3-4 hom, mỗi hom có 3 mắt mầm tốt. Chọn cây khỏe, đường kính thân trung bình, loại bỏ các cây quá nhỏ hoặc quá to và cây lẫn giống. Khi ra hom loại bỏ mắt quá già hoặc quá non, loại bỏ các hom bị sâu đục. Nên chủ động ruộng sản xuất giống để phục vụ cho kế hoạch trồng mới. Ruộng làm giống nên tưới, chăm sóc kỹ, bón đủ dinh dưỡng để có hom giống tốt.

+ Xử lý hom trước khi trồng bằng dung dịch nước vôi 1,5-2%

+ Cày sâu, bừa kỹ để làm lộ thiên các loài sâu hại trong đất như sùng trắng, xén tóc, mối, kiến,… cho chim ăn hoặc bị khô chết.

2. Giai đoạn trồng mía

- Đối tượng phòng trừ: Mối, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (đục mầm), sâu đục thân mình tím, cỏ dại

- Nội dung thực hiện:

+ Bón thuốc trừ sâu dạng hạt, bột xuống đáy rãnh trước khi đặt hom và lấp.

+ Ngay sau khi trồng, nếu đất đủ ẩm và có nhiều nguồn cỏ dại, có thể phun các loại thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm.

3. Giai đoạn mía kết thúc nảy mầm đến đầu vươn lóng

- Đối tượng phòng trừ: sâu đục thân 5 vạch đầu nâu, sâu đục thân mình tím, sâu đục thân mình trắng, bệnh than, trắng lá

- Nội dung thực hiện:

+ Thường xuyên thăm đồng, phát hiện và cắt bỏ những cây bị sâu hại đã khô ngọn không có khả năng cho thu hoạch 2 lần/tháng, đồng thời đào, bứng triệt để và tiêu huỷ những bụi bị bệnh than, trắng lá,...khi phát hiện.

+ Dùng máy kéo nhỏ (hoặc trâu bò) cày xới giữa hàng mía để cắt, vùi lấp cỏ. Hoặc có thể sử dụng thuốc trừ cỏ phun trong hàng mía (hạn chế để thuốc tiếp xúc ngọn và lá mía) hoặc làm cỏ thủ công kết hợp xới xáo giữa hàng, đảm bảo cho ruộng mía luôn sạch cỏ dại.

4. Giai đoạn mía bắt đầu vươn lóng đến 8 tháng sau trồng

- Đối tượng phòng trừ: Sâu đục thân 4 vạch, sâu đục thân mình tím, sâu đục thân mình trắng, sâu đục thân mình hồng, rệp sáp, bọ phấn trắng, nhện đỏ, bệnh than, thối đỏ...

- Nội dung thực hiện:

+ Bón phân sớm, tập trung, cân đối và hợp lý giúp cho cây khỏe, kháng sâu bệnh tốt hơn. Nên chú trọng bón các loại phân vi sinh, hữu cơ vi sinh, các loại phân có nguồn gốc hữu cơ, vừa có tác dụng tăng năng suất cây trồng, giảm lượng phân bón hóa học, tiết kiệm đầu tư sản xuất, vừa giúp giảm ô nhiễm môi trường đất, nước và thực phẩm.

+ Bóc lá khô, lá già, chặt các cây khô do sâu bệnh hại vào thời điểm 5, 7 và 8 tháng sau trồng.

+ Khi mía đạt 4 – 6 tháng sau trồng hoặc thu hoạch, có thể dùng các loại thuốc Diaphos 50 ND, Vibasu 40 ND, Padan 95 SP, Diaphos 10 H, Padan 4 H v.v… phun hoặc rải cục bộ, có chọn lọc cho những nơi mía bị hại (triệu chứng héo lá bên, lá lốm đốm trắng, héo đọt), từ 3 - 5 lần cách nhau 14 ngày. Làm như vậy vừa có thể tiết kiệm thuốc trừ sâu, tập trung thuốc đủ liều lượng có thể giết chết sâu ẩn chứa trong thân, vừa chừa lại những khoảng không gian nhất định cho các loài thiên địch cư trú.

+ Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, đào, bứng triệt để và tiêu hủy cây bị bệnh than, thối đỏ, trắng lá, chảy gôm, thân ngọn đâm chồi, khảm lá vi rút,...

+ Cắt mầm vô hiệu lúc mía 7- 8 tháng tuổi.

5. Giai đoạn 8 tháng đến trước thu hoạch

- Đối tượng phòng trừ: Sâu đục thân 4 vạch, sâu đục thân mình tím, sâu đục thân mình hồng, rệp sáp, bọ phấn trắng, nhện, bệnh than, thối đỏ, trắng lá, chảy gôm, thân ngọn đâm chồi, khảm lá vi rút,…

- Nội dung thực hiện:

+ Cắt mầm vô hiệu 1 lần/tháng.

+ Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, đào, bứng triệt để và tiêu hủy cây, bụi bị bệnh.

6. Giai đoạn thu hoạch

- Đối tượng phòng trừ: Các loài sâu đục thân, các bệnh vi khuẩn

- Nội dung thực hiện:

+ Chặt sát gốc để “thu hoạch” tránh dập gốc mía, đồng thời giúp cho mía gốc có khả năng tái sinh tốt hơn, đảm bảo mật độ cho vụ sau.

+ Không dùng chung dao khi chặt cho các lô mía giống khác nhau để tránh lây lan bệnh qua dao.

7. Giai đoạn sau thu hoạch

- Đối tượng phòng trừ: Các loài sâu đục thân, rệp, các bệnh vi khuẩn

- Nội dung thực hiện:

+ Phạt gốc thấp, dọn sạch tàn dư sau khi thu hoạch.

+ Phát quang bờ lô luôn sạch tránh sự ẩn náu của sâu hại.

+ Ruộng mía và bờ lô luôn được sạch cỏ dại.

+ Dùng máy tiến hành cày vun luống, bón phân, tưới nước sớm cho mía gốc, hạn chế mía bị sâu đục tấn công gây hại.

+ Luân canh cải tạo đất (trồng cây họ đậu) khi kết thúc một chu kỳ mía.

IV.  THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN MÍA

1. Thu hoạch:

1.1 Xác định độ chín của mía.

          Mía là nguyên liệu chế biến đường. Hàm lượng đường trên mía càng cao thì tỷ lệ đường thu hồi ở các nhà máy đường càng nhiều. Để có được hàm lượng đường trên mía cao, ngoài bản chất của giống, kỹ thuật chăm bón...mía khi thu hoạch làm nguyên liệu phải có độ chín quy định. Sở dĩ trong những

năm qua ở các nhà máy đường của ta tỷ lệ thu hồi đường thấp, bên cạnh các nguyên nhân khác, một nguyên nhân khá quan trọng đó là mía nguyên liệu đưa vào chế biến thu hoạch còn non, chưa đạt độ chín cần thiết hoặc qúa chín

Khi mía chín, hàm lượng đường trong thân cây mía đạt tối đa và giữ ở mức độ cao này  trong thời gian  khoảng 1 - 2 tháng tuỳ theo giống mía và thời tiết sau đó giảm dần. Thời tiết càng nắng nóng, đường bị chuyển hoá càng tăng lên. Mía càng để lâu sau khi thu hoạch thì lượng đường bị mất càng nhiều. Sự tổn thất càng tăng nhanh khi nhiệt cao và để mía ngoài nắng gió. Do đó mía sau khi đốn xong thì đưa vào chế biến càng nhanh càng tốt.

          Nhằm khắc phục nhược điểm thu hoạch mía chưa chín làm nguyên liệu, trước khi thu hoạch ruộng mía cần xác định độ chín của mía (lá chuyển vàng, thân cây chuyển màu, da bóng, độ Brix giữa ngọn và gốc chênh nhau 1 độ)

1.2 Một số điểm cần chú ý khi thu hoạch mía.

Ở nước ta cho đến nay thu hoạch mía vẫn là lao động thủ công với các công cụ thô sơ: dao hoặc búa chặt,...cũng có nơi thu hoạch mía bằng máy nhưng chi phí cao nên chưa phổ biến rộng rãi. Nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho sản xuất và chế biến cây mía trong khâu thu hoạch cần chú ý một số điểm dưới đây:

- Dụng cụ thu hoạch mía (máy, dao, búa, ...) phải sắc bén. Khi chặt phải chặt sát mặt đất, tránh làm dập gốc.

- Phải có kế hoạch chặt - giao nhận vận chuyển trước khi thu hoạch. Mía thu hoạch tới đâu vận chuyển chế biến ngay tới đó. Không để mía đã thu hoạch nằm lại quá lâu trên đồng ruộng, sân bãi vừa làm giảm năng suất vừa làm giảm tỷ lệ đường trên mía. Thời gian thu hoạch đến chế biến không quá 48 giờ.

- Ruộng mía thu hoạch vào ngày trời mưa không để xe, máy qua lại làm hư gốc và nén đất ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của mía và trở ngại cho công việc xử lý chăm sóc mía gốc về sau.

2. Bảo quản mía nguyên liệu:

 Trước khi vận chuyển mía về nhà máy cần xếp mía lên xe gọn gàng, tủ lá mía lên để hạn chế mất nước, hàm lượng đường giảm. Xe vận chuyển mía phải sạch sẽ, không bị lẫn các hóa chất độc hại trên thùng xe đựng mía, phải có bạt che để tránh nắng, mưa (trường hợp nhà máy đường ở xa vùng trồng cần chú ý hơn).

+ Nếu chưa thể vận chuyển mía đến nhà máy ngay thì có thể bảo quản mía trong vòng 48h bằng cách sau để hạn chế độ đường bị giảm như:

- Chất mía thành đống có thể giảm sự phân giải đường

- Dùng lá mía thấm nước hoặc bạt để che và có thể dùng nước tưới phun vào mía.

Tin đã đưa


Thông tin cần biết
  

Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Ngãi thông báo về việc tuyển dụng lao động hợp đồng 197-TB-TTNS19.pdf197-TB-TTNS19.pdf

 

  

Kế hoạch Triển khai đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban ngành và cấp huyện (DDCI) tỉnh Quảng Ngãi năm 2019 87.KH-UBND.pdf87.KH-UBND.pdf

 

  

​Hướng dẫn lịch thời vụ và các giải pháp kỹ thuật sản xuất lúa vụ Hè Thu 2019.1096.SNNPTNT.pdf1096.SNNPTNT.pdf

 

 

 

 

Phim tư liệu
Nhà máy lọc dầu Dung Quất Quảng Ngãi
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

  Đẹp
  Bình thường
  Xấu

Bản quyền © 2014 thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Tô - Tổ Trưởng Tổ Thông tin