Liên kết website

Thống kê truy cập

Anh chinh.jpg

I. Thời vụ:

          - Vụ Đông xuân: Gieo hạt cuối tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau, khi hết mưa, độ ẩm đất khoảng 70%.

          - Vụ Hè thu: Gieo từ 20/5 đến 10/6 (Bố trí thời vụ sao cho giai đoạn trổ cờ phun râu né tránh nhiệt độ cao và giai đoạn chín tránh gặp mưa).​

II. Giống:

2.1. Giống và phẩm cấp hạt giống:

- Sử dụng các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng 90-95 ngày trong vụ Hè Thu, chống chịu với điều kiện nóng hạn, ít nhiễm sâu bệnh và cho năng suất cao như: CP.333, CP.111, PAC 999, ĐK6919, NK67…

- Lượng giống gieo trồng: 20 kg/ha

Hat ngo giong.jpg
             Hạt giống

2.2. Thử tỷ lệ nảy mầm:

Trước khi gieo hạt thử tỷ lệ tỷ lệ nảy mầm bằng cách: đếm 100 hạt giống ủ trong cát ẩm hoặc bọc trong bao vải, hàng ngày bổ sung nước cho đủ ẩm, sau ủ 5 - 6 ngày kiểm tra tỷ lệ nảy mầm. Nếu tỷ lệ nảy mầm đạt trên 80% là đạt yêu cầu.

Sau 10 ngay gieo.jpg
                 Sau khi gieo 10 ngày

III. Chọn đất và kỹ thuật làm đất:

3.1. Chọn đất:

Cây ngô lai có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất đỏ, đất bạc màu...Nhưng thích hợp nhất là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, kế đến là đất đỏ. Vì những loại đất này tơi xốp, nhiều chất dinh dưỡng, lớp đất mặt sâu và có độ ẩm thích hợp. Không nên trồng ngô lai trên vùng đất nhiễm phèn nặng, vùng quá khô hạn hay vùng bị ngập úng.

3.2. Làm đất, rạch hàng, bón phân lót:

3.2.1. Làm đất:   

Ngô có bộ rễ chùm rất phát triển, có thể lan rộng với bán kính trên 0,5m và ăn sâu trên đến 1m . Do vậy, đất trồng ngô cần đựợc phay đất sâu 18-20cm. Sau khi phay lần 1, rãi đều vôi, phân chuồng trên mặt ruộng và phay cho đến khi đất tơi, nhuyễn (thường phay 2-3 lần)

3.2.2. Rạch hàng:

- Trồng hàng đơn:

Tùy theo tính chất của đất và giống ngô có thể bố trí hàng đơn theo các khoảng cách cụ thể như sau:

+ Hàng cách hàng 65 cm, cây cách cây: 25cm 

+ Hoặc hàng cách hàng 70 cm và cây cách cây 25 cm.

+ Mật độ 61.000 - 71.000 cây/ha.

- Trồng hàng đôi (hàng rộng, hàng hẹp)

- Mật độ khoảng 66.000 cây/ha

Khoảng cách giữa 2 hàng hẹp:  30 - 35 cm

Khoảng cách giữa 2 hàng rộng: 80 - 90cm

Gieo giong theo hang.jpg
Gieo hạt giống theo hàng

* Cách lên hàng, bón phân lót:

Ø Cách 1:

* Lên hàng bằng tay: Đóng cọc, giăng dây; cọc cách cọc 1,1-1,2m; dùng cuốc rạch hàng (lấy 1 lớp đất nhẹ để tạo hàng); bón toàn bộ vôi và phân lót theo hàng, xáo lại cho phân trộn đều với đất,  lấy đất bỏ lên 2 bên mép hàng tạo thành rãnh sâu 15 -20cm hoặc lấy đất dưới rãnh lấp phân dày 7-10cm

Ø Cách 2:

*Lên hàng bằng máy: Điều chỉnh 2 lưỡi cày của máy cày cách nhau 1,1-1,2m , kéo hàng; bón toàn bộ vôi và phân lót theo hàng, xáo lại phân cho trộn đều trong đất, lấy đất bỏ lên 2 bên mép hàng tạo thành rãnh sâu 15 -20cm

* Lưu ý: Chân đất lúa có tầng đế cày, khó rút nước khi gặp mưa lớn hoặc tưới thừa nước nên cần phải tạo rãnh cao và rãnh rút nước xung quanh ruộng       

IV. Gieo hạt

- Đối với hàng đơn: Gieo trên 2/3 mép rãnh

- Đối với hàng đôi: Gieo hạt trên 2 mép rãnh cách nhau 30-35cm, gieo hạt cách hạt 25cm (hơn 1 gang tay), mỗi hốc gieo 01 hạt; 

- Dùng ngón tay ấn hạt sâu 2-3cm (tuỳ thuộc vào độ ẩm lúc gieo).

- Nên gieo dự phòng 2 đầu hàng hoặc trong bầu để dặm.

* Lưu ý:

+ Khi gieo hạt đất phải đủ ẩm

+ Nếu đất không đủ ẩm cho hạt nảy mầm thì cho nước theo rãnh vừa đủ thấm đất, sau 1-2 ngày tỉa hạt.

+ Tuyệt đối không gieo dưới đáy rãnh

          V. Bón phân

5.1. Lượng phân khuyến cáo bón cho 01 ha

Cây ngô thích nghi rất cao đối với đạm, ở ngô lai không có hiện tượng lốp đổ khi bón nhiều phân đạm như lúa, nhưng tùy loại giống, đất đai mà xác định lượng phân bón cho có hiệu quả nhất. Nhu cầu phân bón cho cây ngô lai cao nhưng phải bón cân đối đúng lúc, đúng kỹ thuật để phát huy hết tiềm năng về năng suất.

Lượng phân khuyến cáo bón  cho 1ha như sau:

- 8- 10 tấn phân chuồng + 500kg phân Lân Super + 360 - 400 kg phân Urê + 140 kg phân Kaliclorua + 400 kg vôi

Lượng phân bón cho 1 sào 500m2:

400-500kg phân chuồng + 25 kg phân Lân Super + 18-20 kg phân Urê + 07 kg phân Kaliclorua + 20 kg vôi)

Bon phanthuc 1.jpg

5.2. Cách bón:

* Cách bón: (Tính cho 1 sào = 500m2)

- Bón lót: Bón 100% P/C + 100% vôi + 100% Lân Super  + 03kg Urê (Bón khi rạch hàng)

- Bón thúc: Lượng phân Urê và Kaliclorua còn lại, chia làm 03 lần.

+ Lần 1:

Bón lúc cây có 3- 4 lá,

-         Bón với lượng 05-6 kg Urê + 02 kg Kaliclorua/sào.

-         Bón phân theo hàng cách gốc 10cm,

-         Bón phân kết hợp xới xáo, diệt cỏ.

  + Lần 2:

Bón lúc cây có 7 - 9 lá,

-         Bón với lượng 5-6 kg Urê + 02 kg Kaliclorua/sào.

-         Bón phân theo hàng cách gốc 10 -15cm,

-         Bón phân kết hợp xới sâu, diệt cỏ.

Bon phan 2.jpg

   + Lần 3:

-         Bón lúc cây có loa kèn,

-         Bón với lượng 05kg Urê + 03 kg Kaliclorua/sào.

-         Bón phân kết hợp vun cao gốc.

-          Lấy đất giữa 2 hàng rộng vun vào gốc.

Bon phan 3.jpg

* Lưu ý:

- Đối với chân đất bạc màu tuỳ theo tình hình sinh trưỏng của cây mà qui đổi một phần lượng phân trong mỗi đợt bón thành phân hỗn hợp DAP hoặc NPK để bón cho phù hợp.

- Ở giai đoạn chín sữa, chín sáp nếu cây ngô có biểu hiện thiếu dinh dưỡng thì bón bổ sung 2-3 kg NPK (16-16-8)/sào (Tuỳ mức độ thiếu)

VI. Các biện pháp chăm sóc khác:

6.1. Xử lý bằng thuốc cỏ tiền nảy mầm    

Sau khi gieo hạt 1- 3 ngày sử dụng một trong các loại thuốc cỏ tiền nảy mầm: DUAL GOLD 960 EC, DIBSTAR 50EC hoặc ANTACO 500ND

            * Khi sử dụng thuốc cần lưu ý:

+ Tránh thuốc tiếp xúc với hạt giống.

+  Phun thuốc đất phải đủ ẩm.

Thuoc.jpgThuoc tan.jpgThuoc tan 3.jpg

                 (Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn trên  nhãn bao bì)

6.2. Dặm, tỉa, bẻ cờ, lột lá chân:

- Dặm:

+ Dặm hạt (Trong điều kiện thuân lợi): Ủ hạt nứt nanh, sau khi mọc tiến hành dặm ngay.

+ Dặm cây: Lúc cây có 3 lá tiến hành dặm. Khi dặm không được làm đứt rễ mầm của cây đem dặm.

Tia dam 12.jpg
                    Tỉa dặm

- Tỉa định cây: Khi cây có 5 lá tiến hành tỉa định cây, không để mật độ quá dày ảnh hưởng đến năng suất sau này.               

- Bẻ cờ: Sau khi cây ngô thụ phấn thụ tinh (héo râu) tiến hành bẻ cờ để cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái và hạn chế rệp gây hai. Cắt cờ chừa lại 3-4 lá phía trên trái. Không được cắt sát trái khi ngô chưa đến thời kỳ chín sáp (Bao bi còn xanh).

- Tuốt lá:

-         Khi bước sang giai đoạn chín sáp nên tuốt lá chân.

-         Tuyệt đối không được tuốt lá mang bắp và 2 lá dưới bắp.

-         Lột lá chân lúc này sẽ hạn chế bệnh khô vằn phát sinh gây hại và tận dụng làm thức ăn cho trâu bò.

Bap it hat.jpgBap den ky thu hoach.jpg 

6.2. Tưới, tiêu nước:

- Tưới nước:

Áp dụng phương pháp tưới thấm theo rãnh vừa tiết kiệm nước, vừa phù hợp với nhu cầu cây ngô, tưới vừa đủ ẩm, không nên tưới thừa nước.

Tưới nước cần lưu ý các thời kỳ sau:

   + Từ khi mọc đến 3 - 4 lá: ngô có khả năng chịu hạn. Nếu ở thời gian này đất có độ ẩm thấp, rễ ngô phát triển xuống sâu hơn, thuận lợi cho sự dinh dưỡng về sau.

            + Thời kỳ 3 - 4 lá đến 7 - 8 lá: ngô bắt đầu sinh trưởng mạnh hơn. Độ ẩm đất thích hợp 70 – 80 %, độ ẩm đất ở thời kỳ này có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của ngô về sau.

            + Thời kỳ 7- 8 lá đến 13 - 14 lá: Nhu cầu nước và sinh trưởng của ngô tăng dần. Đây là thời kỳ đầu của quá trình phát dục,

thời kỳ phân hoá cờ của ngô và cũng là thời kỳ cần cung cấp đầy đủ nước, dinh dưỡng để ngô tăng trưởng về số lượng, tạo điều kiện cho trổ cờ và phun râu tốt về sau.

 Tuoi nuoc 1.jpg
                                                                      Tưới thấm

+ Thời kỳ trỗ cờ phun râu cần tưới đủ nước. Nếu đất khô ở giai đoạn này sẽ ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn thụ tinh, ngô không đủ hạt.

            + Từ lúc ngô thâm râu đến chín: Nhu cầu nước của ngô giảm dần, chỉ cần duy trì độ ẩm đất 60 -70%

- Tiêu nước: Cần tiêu lượng nước thừa ngay sau khi tưới và sau khi có mưa lớn.

VII. Phòng trừ sâu bệnh: Cần chú ý một số đối tượng sâu bệnh hại chính:

          7.1. Sâu hại

          7.1.1. Sâu xám:

 * Đặc tính sinh sống, gây hại

- Sâu non  tuổi 1 gặm lá non làm thủng lỗ chỗ hoặc khuyết mép lá. Từ tuổi 2 sâu sống dưới đất, đêm chui lên phá cây. Tuổi 2 - 3 gặm quanh thân cây. Tuổi 4 trở lên cắn đứt thân cây.

- Sâu non có tính giả chết ban ngày ẩn náu dưới đất, đêm chui lên cắn ngang gốc cây con (khi cây có 3-5 lá), và cắn phá rễ làm cây héo.

- Sâu hóa nhộng trong đất.

     Sau xam 12.jpgSau xam 1.jpg

* Biện pháp phòng trừ

- Cày bừa đất kỹ, dọn sạch tàn dư cây trồng trước khi gieo trồng để diệt trứng, sâu và nhộng.

- Gieo trồng đúng thời vụ, gieo tập trung, bón phân đúng quy trình kỹ thuật để tránh thời kỳ xung yếu của cây trùng vào thời kỳ sâu non ra rộ.

- Ở những vùng đất thường bị hại nặng trước khi gieo hạt cần xử lý đất bằng thuốc trừ sâu hạt: Diazinon, Diazan… với lượng 1-1,5 kg.sào

- Khi xuất hiện sâu xám  gây hại dùng: Map Jono 700WP, Regent, karate… phun vào gốc cây hoặc xới nhẹ quanh gốc bắt sâu bằng tay.

7.1.2. Sâu đục thân:

 * Đặc tính sinh học và gây hại

- Sâu non có 5 tuổi, khi đẫy sức ( dài khoảng 22 – 28 mm) sâu hóa nhộng ở ngay đường đục trong thân cây hoặc trong bẹ lá, lõi ngô, lá bao.

- Vòng đời trung bình 35 – 40 ngày, trong đó thời gian trứng 5 – 6 ngày, sâu non 20 – 25 ngày, nhộng 7 – 10 ngày, bướm đẻ trứng 1 – 2 ngày.

-  Sâu thường phá hại khi cây ngô đã lớn, từ khi có loa kèn, nhất là từ khi trổ cờ trở đi.

- Trưởng thành cái đẻ trứng thành từng ổ ở mặt sau của lá bánh tẻ gần gân chính, mỗi ổ từ 20-100 trứng. Một con cái có thể đẻ 300 –1000 trứng,  khi mới đẻ trứng có màu trắng sữa, sau 1 tuần trứng nở, trứng thường nở vào buổi sáng.

- Sâu thường hại đọt cây, thân, bông cờ, trái ngô. Cây  bị  hại kém phát triển, hạt bị lép, làm giảm năng suất và chất lượng hạt:

+ Đọt cây: Khi cây được 4-5 tuần tuổi, sâu tuổi nhỏ thường cắn phá lá, chui vào đọt đục thủng đọt thành một lỗ xuyên ngang nên khi lá phát triển có một hàng lỗ thẳng hàng, xếp ngang nhau, lá nhăn, vàng nhỏ.

+ Thân cây: Thường phá hoại 4 ngày sau khi gieo. Sâu lớn thường đục từ nách lá, đục rỗng thân, làm hang,  làm cây mất sức, thân dễ bị gẫy. Nơi miệng lỗ của hang có những bã vàng như mạt cưa do phân và thân ngô vụn thải ra.

+ Bông cờ: Cắn phá vào lúc cây ngô vừa ló bông cờ, làm bông cờ ít hoặc không tung phấn và dễ bị gãy, héo.

+ Trái ngô: Sâu đục từ thân xuyên qua cuống trái, cắn phá lõi và hạt ngô.

Sau duc than.jpg
Sâu đục thân hại ngô

* Biện pháp phòng trừ

- Vệ sinh đồng ruộng, dùng giống cứng cây, bón phân đầy đủ và cân đối N, P, K. Dùng thuốc: Diazinon xử lý đất trước khi gieo hoặc rắc vào cạnh nách lá lúc ngô cloa kèn

- Thu gom thân ngô bị hại nặng tiêu hủy để diệt nhộng.

- Khi sâu tuổi nhỏ phun lên cây bằng thuốc: Virtako 40WG, Mapy 48EC, satrungdan Padan 95 EC, Tungrell 25EC...

7.1.3. Rệp hại cờ ngô:

*Đặc tính sinh học, gây hại

- Ban đầu, rệp cái có cánh từ các cây ký chủ dại bay tới các ruộng ngô, sinh sản và gây hại.

- Rệp thường gây hại từ khi cây ngô có 8, 9 lá đến khi thu hoạch. Rệp bám trên lá, trong nõn, bẹ lá, lá bi, hoa cờ v.v… chích hút nhựa các bộ phận làm cây còi cọc, ngô nhỏ, năng suất và chất lượng bắp giảm.

- Rệp phát triển nhanh và gây hại mạnh khi nguồn thức ăn đầy đủ, nhất là những ruộng bắp gieo dày, ẩm độ không khí trong ruộng cao hoặc ruộng bắp bị hạn. Đến cuối vụ khi cây bắp đã già, không còn thức ăn nữa thì các con rệp có cánh di chuyển sang các ruộng bắp non hơn hay cây ký chủ khác và duy trì trên các cây ký chủ này cho tới vụ bắp sau. Rệp còn là môi giới truyền virus gây bệnh khảm lá, đốm lá bắp.

            Rep hai co ngo.jpg
                                                                 Rệp hại cờ ngô

* Biện pháp phòng trừ

             Sau mỗi vụ thu hoạch cần thu dọn tàn dư cây trồng để cắt đứt nơi cư trú và nguồn thức ăn cho rệp ngô.

             Trồng với mật độ hợp lý, tỉa cây sớm, bón phân hợp lý để tạo sự thông thoáng cho ruộng ngô.

Khi rệp mới phát sinh có thể ngắt bỏ các ngọn non có ổ rệp và diệt hết rệp, khi rệp phát triển nhiều thì  dùng thuốc phòng trừ  như: Goldmectin 36EC, Emalusa 20.5EC, Tinero 36.1EC, Emamec 250EC…

             7.2. Bệnh hại:

             7.2.1. Bệnh cháy lá lớn, cháy lá nhỏ

             * Bệnh cháy lá lớn

- Vết bệnh lúc đầu xuất hiện trên lá những vệt nhỏ màu nâu nhạt sau lớn dần tạo nên hình thoi màu nâu,

- Nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm lá bị cháy và rách,

- Bệnh xuất hiện lá dưới trước rồi lan lên lá trên,

- Nếu gặp trời ẩm ướt trên vết bệnh phía mặt dưới của lá xuất hiện lớp nấm mốc màu đen.

Chay la lon la nho.jpg
Bệnh cháy lá lớn

* Bệnh cháy lá nhỏ

- Vết bệnh xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu vàng sau lớn dần tạo thành hình bầu dục hoặc hình tròn,

- Ở giữa màu hơi xám trắng, tiếp theo là màu đỏ, đến màu vàng ở ngoài cùng,

- Nhiều vết bệnh kết hợp nhau làm lá khô cháy, bệnh xuất hiện ở cả bẹ lá. 

- Nấm gây bệnh cháy lá nhỏ thường phát triển ở điều kiện thời tiết nóng ẩm, cây sinh trưởng kém. Nấm gây bệnh cháy lá lớn thường phát triển khi ẩm độ cao và nhiệt độ tương đối thấp.

- Bệnh lây lan bằng bào tử, xâm nhập vào cây qua vết thương xây xát. Bào tử nấm tồn tại ở tàn dư cây bệnh, hạt giống, trong đất.

- Nơi thâm canh không tốt, đất xấu dễ đóng váng bệnh phát triển.

Chay la nho 1233.png
                                                                    Bệnh cháy lá nhỏ

* Biện pháp phòng trừ

- Chủ yếu bằng biện pháp thâm canh đúng kỹ thuật để cây ngô sinh trưởng, phát triển tốt hạn chế được sự gây hại của nấm bệnh.

- Đất trồng cần có hệ thống tưới tiêu tốt, không để mưa làm ngập úng. Đất trồng phải khô thoáng, tránh đọng nước.

- Thu hoạch xong thu gom cây bệnh tiêu hủy diệt nguồn bệnh.

- Có thể dùng thuốc Boocđô 1% phun phòng bệnh khi cây được 3-4 lá.

          - Khi bệnh xuất hiện có thể phun thuốc: Vicarben 50WP, Dizeb - M45 80WP, Tungmanzeb 800WP, Antracol 70WP), Tilt 250EC …

             7.2.2. Bệnh khô vằn:

             *  Triệu chứng gây hại:

    - Bệnh do nấm Rhizoctonia solani Kuhn gây ra.Nấm này có phổ ký chủ rất rộng (lúa, bắp, khoai tây, thuốc lá, lạc, cà chua, bông, cải ngô, đậu đỗ, bèo tây,....)

    - Nguồn bệnh tồn tại chủ yếu trên tàn dư cây bệnh, trong đất ở dạng hạch nấm có sức sống lâu dài trên một năm.

    - Bệnh thường xảy ra khi trời ẩm ướt và mưa nhiều, nhất là trên những ruộng trồng dày, bón phân không cân đối, bón thừa phân đạm, bệnh lây lan nhanh, ảnh hưởng lớn đến năng suất.

             - Bệnh hại trên các bộ phận phiến lá, bẹ lá, thân và bắp ngô tạo ra các vết bệnh lớn màu xám tro, loang lổ đốm vằn da hổ, hình dạng bất định như dạng đám mây. Vết bệnh lan từ các bộ phận phía gốc cây lên tới áo bắp và bắp ngô, bông cờ làm cây, lá úa vàng tàn lụi, khô chết bắp thối khô. Vết bệnh khô vằn ngô cũng tương tự vết bệnh khô vằn hại trên lúa.

                             Kho van.jpg
                                                                       Bệnh khô vằn hại ngô

* Biện pháp phòng trừ:

 - Chọn  những giống ngô ít nhiễm bệnh, hạt giống tốt, gieo đúng thời vụ.

   - Mật độ trồng vừa phải, không trồng quá dầy, tránh úng đọng nước.

             - Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tiêu huỷ các tàn dư thân lá cây ngô bệnh sau thu hoạch.

             - Làm đất, ngâm nước ruộng để diệt trừ nguồn bệnh là hạch nấm và tàn dư trong đất.

             - Khi bệnh xuất hiện có thể phun thuốc Validacin 5SL; Tilt super 300ND, Rovral 50WP.

-    Phun 2 - 3 lần cách nhau 10 ngày, kết hợp tỉa bóc lá bệnh khô chết trên cây.

-    Bón chế phẩm Trichoderma vào đất trước khi gieo trồng hoặc pha nước tưới gốc sau khi cây con đã mọc, phun vào gốc, mặt đất và cây con khi chớm có bệnh trên đồng ruộng.

             7.2.3. Bệnh gỉ sắt

             * Triệu chứng

             - Bệnh hại chủ yếu ở phiến lá, có khi ở bẹ lá và áo bắp.

             - Vết bệnh lúc đầu rất nhỏ chỉ là một chấm vàng trong, xếp không có trật tự, khó phát hiện,

             - Về sau to dần, vết vàng nhạt tạo ra các vết đốm nổi (1mm),

tế bào biểu bì nứt vỡ, chứa một khối bột nâu đỏ, vàng gạch non, đó là giai đoạn hình thành ổ bào tử hạ.

             - Đến cuối giai đoạn sinh trưởng của ngô, trên lá bệnh có thể xuất hiện một số vết bệnh là những ổ nổi màu đen, đó là giai đoạn hình thành các ổ bào tử đông. Vết bệnh thường dầy đặc trên lá dễ làm lá cháy khô.

   Gi sat o la.jpgGi sat o hat.jpg
     ​Bệnh gỉ sắt ở lá                                       Bệnh gỉ sắt ở hạt

             * Biện pháp phòng trừ:

             - Cần dọn sạch tàn dư lá bệnh, cày bừa kỹ để tiêu diệt nguồn bệnh ở đất

             - Tăng cường các biện pháp thâm canh kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt, tăng sức chống bệnh và hạn chế tác hại do bệnh gây ra.

             - Khi bệnh xuất hiện sớm lúc ngô có 5 - 6 lá, mà bệnh đốm lá cũng đồng thời xuất hiện cùng phá hoại thì có thể phun thuốc như: Score 250ND ; Tilt 250EC ; Bayleton 25EC (WP) ...

             7.2.4. Bệnh thối thân

             Bệnh thường gây hại giai đoạn loa kèn trở về sau, nhất là vụ Hè thu khi có mưa dông.

- Đối với bệnh này biện pháp phòng là chính, biện pháp sử dụng thuốc hóa học hiệu quả thấp.

                    * Biện pháp phòng trừ

-         Từ giai đoạn loa kèn trở về sau không nên tưới thừa nước, bón thừa đạm,

-         Khi xuất hiện bệnh nên nhổ cây bệnh đem chôn hoặc đốt để tránh lây lan.

-    Bỏ vôi vào gốc cây bị bệnh.

              Thoi than.jpg
       VI. Thu hoạch, chế biến, bảo quản:

             6.1.Thời điểm thu hoạch ngô:

             Nguyên tắc chung là khi ngô chín sinh lí thì có thể thu hoạch. Ngô chín sinh lí được xác định bởi các biểu hiện sau:

             - Có thời gian sau khi thụ phấn khoảng 45-55 ngày (tuỳ theo giống và vụ gieo trồng)

             - Lá bắt đầu vàng, lá dưới ngô đã khô

    - Lá bi đã vàng, đôi khi các lá bên thấy vết sẹo đen ở chân hạt

    - Độ ẩm hạt khoảng 30-35% (tuỳ theo giống)                   

             - Thu hoạch trước khi chín sinh lí có thể làm giảm năng suất vì ngô chưa đủ thời gian tích luỹ vật chất vào hạt nên khối lượng hạt thấp.

             - Mặt khác, thu non khi lượng nước trong hạt còn lớn sẽ tốn kém công sức, tiền để cho phơi, sấy khô, chất lượng hạt giảm và khó bảo quản.

             - Thu hoạch quá muộn, hạt có thể bị mọt hoặc mốc làm giảm chất lượng hạt. Thực tế cũng khó thực hiện thu hoạch muộn vì ảnh hưởng đến gieo trồng vụ sau.

                                           Ngo den Thu hoach.jpg
                                                              Ngô đến thời kỳ thu hoạch

6.2.Kỹ thuật thu hoạch

Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khi bảo quản. Các bước tiến hành khi thu hoạch:

             - Gặp ngày khô, nắng cần nhanh chóng thu hoạch ngô đã chín về rải mỏng phơi khô.

             - Nếu ngô chín vào đợt mưa dài ngày, cần vặt râu, bẻ gập bắp ngô chúi xuống để nước mưa không thấm vào bên trong làm thối hỏng hạt ngô. Đến khi nắng ráo sẽ thu về phơi.

             - Ngô bẻ về không nên đổ đống vì ngô tươi có độ ẩm cao dễ bị thối mốc.

             - Việc cắt bỏ thân lá trước khi thu hoạch khoảng 7-10 ngày là cần thiết để tập trung dinh dưỡng vào bắp và hạn chế sự xâm nhập của dịch hại vào hạt qua thân, lá cây…

             6.3. Tách hạt:

             - Phần lớn hạt ngô được tách ra khỏi bắp trước khi phơi, sấy. Nó sẽ giúp chúng ta tiết kiệm năng lượng, thiết bị phơi, sấy; phơi sấy nhanh hơn và tiết kiệm kho chứa sau này.

             - Có thể tách hạt bằng tay (thủ công) và bằng máy (cơ giới), nhưng phải bảo đảm sự nguyên vẹn của hạt ngô, giữ gìn và bảo vệ phôi hạt

             - Cũng có thể bảo quản ngô cả bắp mà không cần tách hạt như trong bảo quản ngô giống

                                     Tach hat.jpg
                                                                      Máy tách hạt ngô 

             6.4.Chế biến, bảo quản:

- Mục đích của phơi, sấy là làm giảm thủy phần của nông sản, ức chế hoạt động trao đổi chất của nông sản và các vi sinh vật, công trùng có trên nông sản.

             - Ngô hạt không có vỏ trấu, nếu điều kiện bảo quản không tốt (ngô chưa chín già, phơi chưa thật khô, dụng cụ chứa đựng không kín...) chim, chuột, mốc, mọt có thể phá hỏng hoàn toàn trong vòng vài ba tháng.

             - Cần làm ngô khô đến độ ẩm 12-13%  để có thể bảo quản an toàn, hạn chế mức độ hư hỏng. Có thể cho hạt ngô vào chum vại, bao bì để bảo quản. bảo quản nơi cao ráo tránh ẩm dột, chuột bọ gây hại ./.

Tin đã đưa


Phim tư liệu
Nhà máy lọc dầu Dung Quất Quảng Ngãi
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

Đẹp  200%
Bình thường  100%
Xấu  100%

Bản quyền © 2014 thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Tô - Tổ Trưởng Tổ Thông tin