Liên kết website

Thống kê truy cập

I. Thời vụ:

IMG_1184.JPG
+ Vụ Đông Xuân gieo từ cuối tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau (
tránh gặp mưa đầu vụ).

+ Vụ Hè Thu gieo từ 20/5 đến 10/6 (Tránh gặp nắng nóng (>35 độ) vào giai đoạn ra hoa kết đâm tia, mưa cuối vụ).

II. Chuẩn bị đất trồng:

2.1. Làm đất:

Nếu đất khô không đủ ẩm, trước khi gieo trồng cho nước vào láng mặt ruộng, sau 2 – 3 ngày độ ẩm thích hợp (khoảng 70 – 80%) tiến hành phay (cày) đất. Sau khi phay đất lần 1, bón toàn bộ lượng phân bón lót đều trên mặt ruộng và phay lại cho đến khi đất tơi, nhuyễn (Thường phay 2 – 3 lần), kết hợp tạo luống.  

 2.2. Lên luống:

            - Lên luống rộng 1 – 1,2 mét, giữa 2 luống tạo rãnh với  chiều rộng 25 – 30 cm và sâu 20 – 25 cm.

- Luống dạng “mu rùa” tránh đọng nước giữa luống và dễ thấm nước khi tưới.

2.3. Vét rãnh:

- Xung quanh ruộng vét mương tưới, tiêu với chiều rộng 25 – 30 cm, sâu 25 – 30 cm.

- Tuỳ theo chiều dài và độ bằng phẳng của ruộng, cứ 9 – 10 m cắt một rãnh tiêu nước vuông góc với chiều dài luống.

Lam dat.jpgLen luong.jpg
                            Lên luống                                   Vét rãnh
* Lưu ý: Chân đất lúa có tầng đế cày nên khó rút nước khi gặp mưa lớn hoặc tưới thừa nước, nên cần phải lên luống (rò) cao và nhỏ.

III. Giống:

3.1. Giống và chất lượng hạt giống:

- Chất lượng hạt giống là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định đến khả năng nẩy mầm của hạt và năng suất sau này.

 + Nếu chất lượng hạt giống tốt sẽ cho tỷ lệ nẩy mầm cao, hạt nẩy mầm nhanh, đồng đều, cây mầm khỏe; đây là cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo mật độ cây con trên đồng ruộng;

+ Nếu chất lượng hạt giống kém sẽ dẫn đến tỷ lệ nẩy mầm thấp, thời gian nẩy mầm kéo dài, không đồng đều, cây mầm yếu…làm giảm mật độ, mất khoảng, cây con sinh trưởng kém, làm giảm năng suất, sản lượng sau này.

- Nên sử dụng hạt giống lạc cấp xác nhận để gieo trồng.

- Sử dụng giống lạc có thời gian sinh trưởng 90 – 100 ngày trong vụ Hè thu, chịu nóng, ít nhiễm sâu bệnh và có năng suất cao như: LDH-01, L14, L23…

Lac giong.jpg
             Lạc giống

3.2. Gieo trồng và khoảng cách gieo:

- Lượng giống gieo: 200kg/ha (10 kg/sào). Trước khi gieo trồng tiến hành bóc vỏ lấy nhân, loại bỏ những hạt lép, vỡ và có vết thâm đen.

- Xử lý hạt giống: Trước khi gieo xử lý hạt bằng thuốc Copper-Zinc, Copper-B, Rovral, Benlate,…(2 gram trộn đều cho 1kg hạt) hoặc chế phẩm Trichoderma để phòng bệnh chết cây con do nấm gây hại.

            - Gieo trồng theo chiều ngang luống với khoảng cách hàng cách hàng 25 – 30 cm, và cây cách cây 10 – 12 cm, gieo 01 hạt/hốc.

Gieo giong lac.jpg
Gieo trồng

IV. Xử lý thuốc cỏ:

4.1. Xử lý bằng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm:       

Sau khi gieo hạt 1- 3 ngày sử dụng một trong các loại thuốc cỏ tiền nảy mầm: DUAL GOLD 960 EC, DIBSTAR 50EC hoặc ANTACO 500ND

            * Khi sử dụng thuốc cỏ khô cần lưu ý:

+ Tránh thuốc tiếp xúc với hạt giống.

+  Phun thuốc đất phải đủ ẩm.

Thuoc 1.jpgThuoc 2.jpg  Thuoc 3.jpg
         (Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn bao bì)

4.2. Xử lý bằng thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm:

Trong trường hợp ruộng lạc có cỏ lá hẹp hoặc cây lúa do hạt lúa rụng từ vụ trước mọc nhiều cần sử dụng một trong các loại thuốc cỏ hậu nảy mầm sau để trừ:

- Khi phun thuốc mặt ruộng phải đủ ẩm, phun thuốc bám ướt đều trên bề mặt lá cỏ, lá lúa để thuốc tiếp xúc tốt hơn nhằm tăng hiệu quả phòng trừ.

- Thời điểm phun thuốc khi cỏ hoặc lúa lưu có 3 4

         Thuoc co 1.jpg    Thuoc co 2.jpg
                    (Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn bao bì)
                 *Lưu ý:     - Không sử dụng trên cây trồng lá hẹp như: lúa, ngô

- Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trên bao bì khi sử dụng

V. Bón phân:

5.1. Tổng lượng phân bón cho 1 ha:

Tùy theo độ phì của đất, lượng phân khuyến cáo bón cho 01 ha như sau:

5 - 8 tấn phân chuồng hoai + 100 kg Ure + 600 kg Super lân + 120 kg Kaliclorua + 500 kg vôi bột.

5.2. Cách bón:

                  - Vôi: Bón 2 lần

                   + Lần 1: Bón 50% khi làm đất.

                   + Lần 2: Khi lạc bắt đầu ra hoa, bón 50% lượng vôi còn lại.

                                         Bon phan.jpg
                                                                        Bón vôi

                  * Lưu ý: - Không bón vôi trễ khi cây đã ra hoa rộ vì vôi dính trên hoa sẽ làm hư hoa.

                                 - Bón vào gốc, bón vào buổi chiều mát.

                                 - Không trộn vôi với các loại phân khác.

                   - Phân chuồng: Để hạn chế bệnh chết cây do nấm gây hại, cần ủ phân chuồng với chế phẩm Trichoderma

Ø    Bón lót: 100% lượng phân chuồng + 100% lượng Phân Super lân + 50% lượng Kali clorua + 50% lượng Ure.

            thể bón phân lót theo 1 trong 2 cách sau:

·        Cách 1:

 Bón phân lót theo hàng: Vãi toàn bộ lượng phân trên theo hàng, lấp phân với lớp đất dày 3 – 4 cm để tránh hạt giống tiếp xúc với phân khi gieo.

·        Cách 2:

Bón khi làm đất: sau khi phay lần 1, vãi toàn bộ lượng phân nêu trên đều trên mặt ruộng. Sau đó tiến hành phay cho đến khi đất tơi nhuyễn (thường phay 2 lần), kết hợp lên luống.

Ø  Bón thúc lần 1:

- Sau gieo 12 15 ngày (khi lạc có 3 4 lá) bón 50% lượng Urê, 50% lượng Kaliclorua còn lại.

*Lưu ý: Không được bón phân Ure trễ sau khi gieo 20 ngày.

- Bón phân kết hợp xới xáo lấp phân và trừ cỏ dại.

Ø Bón thúc lần 2 (bón thúc vôi)

-   Khi lạc bắt đầu ra hoa, bón 50% lượng Vôi còn lại.

*Lưu ý: Không bón vôi trễ khi cây đã ra hoa rộ vì vôi dính trên hoa sẽ làm hư hoa.

-         Bón vào gốc, bón vào buổi chiều mát.

-         Không trộn vôi với các loại phân khác

                                    Cham soc.jpg
                                                     Bón thúc

            VI. Chăm sóc:

            6.1. Dặm, tỉa:

-         Dùng hạt lạc đã ủ nứt nanh để dặm.

-         Dặm càng sớm càng tốt (vừa mọc đều).

-         Nên dặm vào buổi chiều mát.

-         Dặm khi đất đủ ẩm.

                              Tia dam.jpg
                                                  Hạt giống dùng tỉa dặm

6.2. Tưới, tiêu nước:

Ø Tưới nước:

            - Áp dụng phương pháp tưới thấm. 

            - Cho nước vào rãnh đến khi vừa giáp mặt luống để nước ngấm vào giữa luống, không nên tưới tràn trên mặt luống.

            - Tưới nước cần lưu ý các giai đoạn sau:

            + Sau gieo 3 - 4 ngày, kiểm tra nếu đất không đủ ẩm cho hạt nảy mầm cần tưới bổ sung (Mực nước vừa chạm mép trên của luống). Nếu tưới ngập mặt ruộng sẽ bị váng và dễ bị thối mầm.

            + Giai đoạn nảy mầm đến 3 – 4 lá: Giai đoạn này cây lạc chỉ cần ẩm độ đất 60 – 70%. Nếu ẩm độ đất cao cây lạc sinh trưởng kém.

            + Giai đoạn cây ra hoa và đậu quả cần tưới đảm bảo ẩm độ đất từ 70 – 80%.

            + Tùy theo thành phần cơ giới đất và điều kiện thời tiết có thể tưới định kỳ 7 10 ngày/lần tưới.

Ø Tiêu nước: Tiêu nước ngay sau khi mưa lớn hoặc nước thừa khi tưới.

        Tuoi nuoc.jpg
                                  Tưới nước

          VII. Phòng trừ sâu, bệnh:

7.1. Sâu hại:

7.1.1. Sâu xám

* Đặc tính sinh sống, gây hại:

- Sâu non  tuổi 1 gặm lá non làm thủng lỗ chỗ hoặc khuyết mép lá. Từ tuổi 2 sâu sống dưới đất, đêm chui lên phá cây.

-Tuổi 2 – 3 gặm quanh thân cây. Tuổi 4 trở lên cắn đứt thân cây.

- Sâu non có tính giả chết ban ngày ẩn náu dưới đất, đêm chui lên cắn ngang gốc cây con (khi cây có 3-5 lá), và cắn phá rễ làm cây héo.

- Sâu hóa nhộng trong đất.

* Biện pháp phòng trừ:

- Cày bừa đất kỹ, dọn sạch tàn dư cây trồng trước khi gieo trồng để diệt trứng, sâu và nhộng.

- Gieo trồng đúng thời vụ, gieo tập trung, bón phân đúng quy trình kỹ thuật để tránh thời kỳ xung yếu của cây trồng vào thời kỳ sâu non ra rộ.

- Ở những vùng đất thường bị hại nặng trước khi gieo hạt cần xử lý đất bằng thuốc trừ sâu hạt: Diazinon, Diazan… với lượng 1-1,5 kg/sào.

- Khi xuất hiện sâu xám gây hại dùng: Map Jono 700WP, Regent, Karate… phun vào gốc cây hoặc xới nhẹ quanh gốc, bắt sâu bằng tay.

                                      Sau xam.jpg
                                                                        Sâu xám
7.1.2. Sâu khoang:

* Đặc tính gây hại: 

- Sâu tuổi nhỏ gặm lá non để lại vết trắng. Sâu tuổi lớn ăn trụi lá chỉ còn trơ lại thân và cành, khi mật độ cao có tới 70 - 80% diện tích lá bị hại.

- Sâu trưởng thành thường xuất hiện khi lạc mọc 15 - 20 ngày. Sâu hại nặng nhất vào giai đoạn hình thành quả và quả vào chắc.

Biện pháp phòng trừ:

- Bắt bằng thủ công khi mật độ thấp.

- Luân canh cây trồng và vệ sinh đồng ruộng.

- Dùng thuốc hoá học khi mật độ trên 10 con/m2. Sử dụng các loại thuốc:

  Padan 95SP, Match 50ND, Regent 800WP, Karate

                               Sau khoang.jpg
                                                                  Sâu khoang
7.1.3. Sâu xanh:

* Đặc điểm gâ y hại: 

- Gây hại chủ yếu trên hoa và búp non.

- Sâu non ăn đẫy sức hoá nhộng trong đất.  Sâu non sống quần tụ gặm mô lá để lại lớp biểu bì, sâu thích phá hại trên lá bánh tẻ.

- Sâu xanh xuất hiện sớm ngay khi lạc có 3 – 4 lá thật với mật độ chưa cao diện tích lá bị hại vào khoảng 5 – 10%. Mật độ các lứa sâu tăng dần và đạt cao vào giai đoạn ra hoa, hình thành quả.

Biện pháp phòng trừ:

- Bắt bằng thủ công khi mật độ thấp.

- Luân canh cây trồng khác và vệ sinh đồng ruộng.

- Dùng thuốc hoá học khi mật độ trên 30 con/m2. Sử dụng các loại thuốc:

  Padan 95SP, Regent 800WP, Match, Karate, Fastac, Amate,…

                 Sau xanh.jpg
                                                                 Sâu xanh

           *Chú ý:

           - Phun thuốc lúc sáng sớm hay chiều mát.

           - Phun sớm khi sâu non mới nở đang tập trung thành từng đàn.

            - Cần luân phiên với các thuốc trừ sâu khác có gốc hoá học để tránh trường hợp sâu kháng thuốc

            7.2. Bệnh hại:

7.2.1. Bệnh chết cây do nấm:

* Đặc điểm gây hại:

- Cây bị bệnh có triệu chứng héo rủ, lá màu xanh hoặc hơi vàng, cổ rễ và đoạn thân ngầm bị bệnh có màu nâu, thối mục khô xác, nhổ cây dễ bị đứt gốc, quan sát thấy gốc rễ có những nấm mốc màu đen hay màu trắng bám xung quanh. Sau một thời gian cây bị chết.

- Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lạc, nhưng nặng nhất ở thời kỳ ra hoa, làm quả.

- Bệnh thường phát sinh trong điều kiện nhiệt độ không khí cao 35 – 370C, ẩm độ cao. Sợi nấm và bào tử phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ không khí 27 – 300C.

- Bệnh phát sinh và lây lan mạnh trong điều kiện có các trận mưa rồi lại nắng bốc lên kéo dài.

                  Chet cay do nam.jpg
                                                         Chết cây do nấm
           * Biện pháp phòng trừ:

- Luân canh với các loại cây trồng khác như cây lúa, bắp…

- Chỉ sử dụng phân hữu cơ đã ủ hoai .(Có thể ủ phân với nấm Trichoderma)

- Chọn đất trồng lạc thoát nước tốt.

- Xử lý hạt trước khi gieo.

- Bón phân cân đối N, P, K.

- Phòng bệnh: Khi mọc đều phun phòng thuốc Validacin, Anvil….

- Trừ bệnh: Sử dụng một trong các loại thuốc sau: Validacin, RidomilGold, metaxyl, Daconil, Mannozeb, Carbendazim, Topsin,…

*Lưu ý: Phun ướt lá và gốc, phun vào buổi chiều mát.

7.2.2. Bệnh chết cây do vi khuẩn:

 * Đặc điểm gây hại:

- Bệnh thường gây hại giai đoạn ra hoa, đâm tia, đậu trái, ban ngày cây héo, ban đêm cây tươi, bệnh gây hại nặng trên chân đất trồng lặp nhiều vụ cây họ đậu, đất dí thoát nước kém.

* Biện pháp phòng trừ:

  - Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp

            - Luân xen canh các loại cây trồng khác họ.

            - Bón phân cân đối N, P, K.

            - Trồng lạc trên chân đất thoát nước tốt.

            - Áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật: lên luống, bón pân, tưới nước…

  - Nhổ bỏ cây bị bệnh tiêu hủy, rắc vôi bột vào gốc cây bị bệnh,

  - Có thể dùng một trong các loại thuốc sau phun trừ như: Bonny 4SC, Starner 50WP...

        Chet cay do vi khuan.jpg
                                                         Chết cây do vi khuẩn
7.2.3. Bệnh đốm lá:

Có hai loại bệnh đốm lá:  đốm nâu và đốm đen. Cả hai loại đều xuất hiện từ thời kỳ cây có trái non đến thu hoạch.

* Triệu chứng:

- Đốm nâu: Hại chủ yếu trên lá, vết bệnh có màu nâu, nâu vàng, xung quanh vết bệnh có quần vàng, trên vết bệnh có 1 lớp mốc màu xám, mặt dưới vết bệnh có màu nhạt hơn.

- Đốm đen: Bệnh xuất hiện đầu tiên ở những lá dưới gốc sau đó lan lên những lá phía trên, vết bệnh có màu đen đều ở 2 mặt. Vết bệnh có hình tròn, lớp nấm ở phía dưới lá màu đen sẫm, dày. Vết bệnh không có hoặc có viền vàng rất nhỏ hơn vết bệnh đốm nâu. Kích thước vết bệnh khoảng 4 mm. Trên lá đôi khi vết bệnh lan rộng phủ toàn bộ diện tích lá. Lá có nhiều vết bệnh sẽ bị biến vàng, khô và rụng.

- Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lạc, nhưng nặng nhất vào giai đoạn 60 – 70 ngày sau khi trồng. Bệnh thường phát sinh trong điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất từ 25 – 300C,

- Ở giai đoạn cây con, nếu bị bệnh nặng cây sẽ chết.

- Ở giai đoạn cây ra hoa, nếu bị bệnh nặng hoa sẽ bị bất thụ làm xáo trộn thời gian nở hoa.

            Dom la.jpg
                                                                       Bệnh đốm lá
          * Biện pháp phòng trừ:

- Luân canh lạc với các cây trồng khác như lúa nước, mía, ngô...

- Dùng giống kháng bệnh.

- Làm đất kỹ, thu dọn sạch thân lá sau khi thu hoạch.

- Xử  lý hạt giống bằng thuốc hoá học như Falizan 3kg/tấn hạt.

          - Phun phòng thuốc Boocđô 1% trước khi xuất hiện bệnh, phun 3 - 4 lần/vụ.

- Tăng cường bón vôi, kali cho cây.

- Tiến hành nhổ bỏ những cây bị bệnh, cây chết.

          - Khi bệnh mới xuất hiện sử dụng các loại thuốc Rovral, Score, Antracol.

          7.2.3. Bệnh gỉ sắt:

* Triệu chứng:

- Bệnh hại nặng nhất ở lá, có thể có trên thân cành. Ban đầu ở mặt dưới lá có những chấm nhỏ màu vàng trong, sau đó vết bệnh nổi lên trên mặt lá màu vàng nâu, biểu bì lá nát ra để lộ ổ bào tử có màu nâu vàng (màu gạch cua).

- Lạc bị bệnh gỉ sắt làm lá bị vàng, mất màu xanh, do đó năng suất và phẩm chất lạc bị giảm nghiêm trọng (20 – 50%), ở những ruộng bị nặng hầu như không được thu hoạch.

- Bệnh hại nặng nhất từ lúc ra hoa đến thu hoạch quả.

             Gi sat.jpg
                                                                  Bệnh gỉ sắt
        * Biện pháp phòng trừ: Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp

- Dùng giống kháng bệnh.

- Gieo trồng đúng thời vụ, đúng mật độ.

- Bón phân cân đối N, P, K.

- Vệ sinh đồng ruộng.

+ Phát hiện bệnh sớm và sử dụng thuốc kịp thời. Phun thuốc khi bệnh mới xuất hiện. Sử dụng các loại thuốc: Vicarben, Score, Daconil, Dithane, Bavistin, Tilt 250ND, Tilt super 300ND phun định kỳ 2 – 3 lần, cách nhau 10 – 15 ngày, trường hợp bệnh nặng thì phun định kỳ 7 ngày một lần cho đến khi bệnh dừng phát triển.

 VIII. Thu hoạch, bảo quản:

8.1. Thu hoạch:

Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của giống, xem lá đã già, (lá vàng, rụng nhiều), khi cây có 80 – 85% số quả già thì tiến hành thu hoạch.

          -  Phía trong vỏ có màu cánh dán.

          - Chọn ngày nắng ráo để thu hoạch.

                                Thu hoach lac.jpg
                                                             Thu hoạch lạc
          8.2. Chế biến, bảo quản:

          - Thu xong, phơi ngay để khỏi ảnh hưởng đến chất lượng quả.

- Phơi khô đảm bảo lạc có độ ẩm 8 – 9% (tróc vỏ lụa) thì cho vào bao gai, chum vại…bảo quản. Nên bảo quản  nơi khô ráo, thoáng mát. Bảo quản ở dạng lạc chưa bóc vỏ (dạng quả) ./.
                                        Che bien bao quan.jpg
                                                        Chế biến bảo quản lạc

Tin đã đưa


Phim tư liệu
Nhà máy lọc dầu Dung Quất Quảng Ngãi
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

Đẹp  200%
Bình thường  100%
Xấu  100%

Bản quyền © 2014 thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Tô - Tổ Trưởng Tổ Thông tin