Liên kết website

Thống kê truy cập

Đến nay, ở Quảng Ngãi đã kết thúc gieo sạ lúa vụ Hè Thu 2014, lúa đại trà đang thời kỳ đứng cái, làm đòng. Trà lúa muộn đang kết thúc đẻ nhánh. Để giúp bà con nông dân trong tỉnh có được một vụ lúa bội thu, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp kỹ thuật cần lưu ý trong chăm sóc lúa vụ Hè thu 2014.

1. Điều tiết nước: điều tiết nước hợp lý theo từng giai đoạn sinh trưởng theo chế độ "nông - lộ - phơi"; nghĩa là giữ mực nước ở mức sâm sấp “nông” trong giai đoạn lúa đẻ nhánh, nếu để ruộng bị khô nước hoặc nước quá nhiều cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đẻ nhánh. Khi các cây lúa trong ruộng đã đủ số chồi hữu hiệu cần thiết (khoảng trên 30-32 ngày sau khi sạ), nên tạo điều kiện cây lúa tập trung dinh dưỡng cho các chồi lúa đã đẻ có được trên 3 lá để làm tăng tỷ lệ chồi hữu hiệu, bông to, nhiều hạt, giảm tỷ lệ chồi vô hiệu và hạn chế sự gây hại của sâu bệnh ở thời điểm cuối vụ, bằng cách tháo cạn nước để "lộ" mặt đất ruộng lên và "phơi" khoảng 5-7 ngày, rồi cho nước vào để bón phân đợt cuối (giai đoạn từ 40-45 ngày sau khi sạ đối với giống lúa có TGST 90-95 ngày). Sau khi bón phân đợt cuối từ 7-10 ngày có thể rút nước cạn ruộng lần thứ 2 khoảng 5-7 ngày, rồi cho nước vào trở lại và tiếp tục giữ nước “nông” thường xuyên trong giai đoạn lúa có đòng và trổ bông. Giai đoạn lúa làm đòng, trổ bông đến chín sáp tuyệt đối không để ruộng khô hạn sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình thụ tinh, thụ phấn và chín của lúa. Nếu ruộng bị khô hạn, lúa sẽ bị lép lửng nhiều, giảm năng suất rất lớn. Trước khi thu hoạch 10-12 ngày nên tháo cạn nước trong ruộng khô để tiện cho việc thu hoạch.

2. Bón phân và chăm sóc: Cần bón phân theo nguyên tắc “4 đúng”. Ứng dụng bảng so màu lá lúa để bón đúng liều lượng, bón phân cân đối giữa lượng N,P,K; hạn chế bón thừa phân đạm. Ruộng sản xuất vụ Hè Thu dễ bị xì phèn, ngộ độc hữu cơ; Cần tăng cường bón vôi, phân lân trước khi gieo sạ nhằm giúp ruộng lúa hạ phèn và hạn chế hiện tượng ngộ độc hữu cơ.

Nên bón phân đợt 1 sớm (từ 8-10 ngày sau sạ): Cho đủ nước, bón phân đợt 1 sớm để kích thích bộ rễ phát triển tốt, đẻ nhánh sớm, tăng cường sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân chứa các nguyên tố đa vi lượng. Phải đảm bảo việc bón phân cân đối đạm, lân và kali, tránh việc bón thừa phân đạm, thiếu lân và thiếu kali, cây lúa bị lốp đổ, nhiều sâu bệnh; không bón đạm muộn, không bón đạm lai rai. Từ 10 đến 18 ngày sau sạ giữ nước trong ruộng lúa và bơm thêm nước cao dần theo chiều cao cây lúa.

Nên bón phân đợt 2 sớm (từ 18-20 ngày sau sạ, giai đoạn này tương đương cây lúa mới chỉ 3-4 lá thật): Cho thêm nước, bón phân đợt 2 sớm, tập trung để hạn chế lúa đẻ nhánh vô hiệu (bón thúc đẻ nhánh) giữ nước nước 5 - 10cm.có thể bón phân bón dưới dạng phân tổng hợp NPK (có nhiều ưu điểm: hoà tan chậm, dinh dưỡng giải phóng dần, thời gian sử dụng dài (35-40 ngày sau bón) hiệu quả sử dụng cao (70- 80%), kết hợp tỉa dặm sớm (khi lúa được 4-5 lá thật) nhằm tạo điều kiện cho lúa đẻ nhánh sớm.

Giai đoạn lúa đứng cái (sắp làm đòng) thì ruộng lúa thường có màu xanh vàng (mã tranh) hoặc xanh vàng sáng là đẹp, đủ dinh dưỡng, chỉ bón đạm bổ sung nuôi đòng cho các chân ruộng kém màu mở, hoặc ruộng chưa bón đủ lượng đạm cần thiết (liều lượng khoảng 30-40 kg urê/ha). Thời kỳ bón kali tốt nhất là lúc bón cho lúa đẻ nhánh (lần 2) và vào trước giai đoạn phân hoá đòng từ 7-10 ngày (lần 3). Khi ruộng lúa đang bị bệnh thì nên ngừng bón phân, nhất là đối với các dạng phân có chứa đạm; tập trung phòng trừ bệnh, sau đó có thể sử dụng một số dạng phân bón qua lá để giúp lúa mau phục hồi. Sau khi lúa đẻ kín hàng (30-32 ngày sau sạ) thì tháo nước cạn, phơi ruộng 4 - 5 ngày (lần 1) để ruộng nẻ chân chim nhằm hạn chế đẻ nhánh vô hiệu, xả độc hữu cơ, giúp rễ ăn sâu, hút được nhiều dinh dưỡng, cây phát triển tốt, ít sâu bệnh và hạn chế đổ ngã về sau.

Giai đoạn lúa bắt đầu làm đòng đến trổ (40-50 NSS, tuỳ TGST của từng giống): Khi 2/3 số cây trên ruộng lúa lá chuyển màu vàng tranh, chóp lá thắt eo, lá so le thì cho nước vào, bón phân đón đòng (tượng đòng cứt gián), đây là thời kỳ quyết định số hạt/bông, vì vậy cần phải bón phân thúc đòng đúng vào thời kỳ này mới có hiệu quả cao; lượng phân bón khuyến cáo bón từ 1,5 - 2kg Urê/sào (tuỳ theo màu xanh của lá lúa)+ 3-4kg Kali/sào, nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ dinh dưỡng để cây lúa hình thành số hạt trên bông cao nhất. Sau khi bón phân từ 7-10 ngày có thể rút nước cạn ruộng (lần thứ 2) độ chừng 5-7 ngày rồi cho nước vào trở lại và tiếp tục giữ nước từ 10-15 cm thường xuyên trong giai đoạn lúa có đòng (nước sẽ khống chế chồi vô hiệu), trổ bông cho đến chín sáp, tháo kiệt nước trước khi gặt 7 - 10 ngày để tiện việc thu hoạch.

             Một số điều cần lưu ý khi bón phân

Khi bón phân thúc đẻ nhánh và đón đòng cho lúa phải kịp thời và đúng lượng quy định; bón phân phải tập trung, không bón muộn phân urê, phân NPK và bón nhiều lần làm thời gian lúa đẻ kéo dài, đẻ lai rai, sinh ra nhiều nhánh lúa vô hiệu ảnh hưởng đến năng suất; vì đây là giai đoạn quan trọng nhất có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của cây lúa. Khi lúa kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu (sau gieo 30 - 35 ngày tuỳ theo thời gian sinh trưởng của từng giống), tháo cạn nước (hoặc cho nước ngập 10 - 15 cm) để khống chế lúa đẻ nhánh lai rai. Nếu dùng giống có thời gian sinh trưởng (TGST) là 95-100 ngày, thì bón đón đòng bắt đầu sau khi lúa sạ được 40-45 ngày (nghĩa là lấy TGST của giống lúa đó trừ đi 55), kết hợp phun thuốc Tilt super vào giai đoạn này góp phần nâng cao năng suất lúa, phòng trị rất tốt bệnh đốm vằn, vàng lá chín sớm và tập trung dinh dưỡng để nuôi đòng, hạn chế sự phát triển của chồi vô hiệu, sạch lá ủ lá chân, kéo dài tuổi thọ bộ lá giúp hấp thu phân bón hiệu quả hơn, hạn chế sự xâm nhiễm của các loại nấm bệnh, giúp tăng được số hạt chắc trên bông từ 3-5hạt/bông.  Cần áp dụng biện pháp tưới tiêu hợp lý, khoa học để tăng tiết kiệm nước và năng suất .

     3. Phòng trừ sâu bệnh:

Các đối tượng gây hại trong vụ hè thu như: sâu đục thân, rầy nâu- rầy lưng trắng, sâu keo bùng phát khi gặp nắng hạn kéo dài, nhện cắn gié giai đoạn lúa đẻ nhánh, bệnh khô vằn, bệnh cháy bìa lá (bạc lá), bệnh chết cây, bệnh thối thân, lem lép phát sinh mạnh vào cuối vụ, cần chủ động phun ngừa bệnh trước và sau khi lúa trổ 7 - 10 ngày. Nhưng trước hết cần tăng cường áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM); Khi thật cần thiết (đến ngưỡng hiệu quả phòng trừ), mới sử dụng thuốc hoá học; các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh nêu trên có bán tại các cửa hàng thuốc BVTV (liều lương, nồng độ, lương nước phun, xem hướng dẫn trên vỏ bao bì)

4. Thu hoạch và bảo quản:

Thu hoạch: Tháo khô nước trước khi thu hoạch 5-7 ngày (đối với ruộng cao), 10-15 ngày (đối với ruộng  trũng) để thúc đẩy quá trình chín.Thời điểm thu hoạch lúa vào khoảng 28-32 ngày sau trỗ hoặc khi thấy 85-90% số hạt trên bông lúa có vỏ trấu đã chuyển sang chín vàng rơm (nếu thu hoạch sớm hay trễ đều làm tăng tỷ lệ hao hụt). Sau khi cắt thì phải suốt ngay, không phơi mớ trên đồng, sẽ giảm chất lượng gạo xay chà, giảm chất lượng hạt giống; thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí so với gặt thủ công.

Bảo quản: Sau khi làm khô, giê sạch, sử dụng bao để đựng và bảo quản lúa ở những nơi khô ráo, thoáng; nếu bảo quản trong thời gian dưới 3 tháng, độ ẩm thóc phải đạt 13-14%. Nếu thời gian bảo quản trên 3 tháng, độ ẩm phải dưới 13%.

Để có một vụ mùa thắng lợi, bà con nông dân tiến hành chăm sóc, bón phân cho lúa theo nguyên tắc “4 đúng” và kịp thời phòng trừ các loại sâu bệnh.

 

Chúc bà con nông dân có vụ Hè Thu 2014 bội thu./.

KS. Phạm Văn Tuân – TP Nông nghiệp Sở

Tin đã đưa


Thông tin cần biết
  

Danh sách các cơ sở đủ điều kiện và chưa đủ điều kiện ATTP Quí II/2017 ATTP Quy II - 2017.docATTP Quy II - 2017.doc

 

Phim tư liệu
Nhà máy lọc dầu Dung Quất Quảng Ngãi
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

  Đẹp
  Bình thường
  Xấu

Bản quyền © 2014 thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Tô - Tổ Trưởng Tổ Thông tin