Liên kết website

Thống kê truy cập

Cá ngựa là loài có giá trị kinh tế cao nên đã có nhiều nghiên cứu trước đây về sản xuất giống cá ngựa, nhưng khó khăn hiện nay là nguồn thức ăn cho cá ngựa ở giai đoạn giống(mới sinh ra đến 4 cm/con). Nghiên cứu sản xuất giống cá ngựa ở Quảng Ngãi nguồn thức ăn cho cá ngựa ở giai đoạn giống cũng khó tìm trong những ngày mưa gió. Do đó để xây dựng một qui trình sản xuất giống ổn định, có thể nhân rộng ở nhiều vùng, nhiều địa phương, tìm thức ăn, mùa vụ nuôi thích hợp cho sản xuất giống là điều rất cần thiết.

I. Giới thiệu:

Cá ngựa có dược tính cao, chữa được khá nhiều bệnh nên thường được dùng làm thuốc đông y ở nhiều nước châu Á; một số nước ở châu Âu chúng còn được lựa chọn nuôi làm cảnh. Theo ước tính hàng năm có khoảng 20 triệu con cá ngựa được tiêu thụ trên thế giới cho các mục đích trên.

Do tiêu thụ cá ngựa ngày càng lớn dẫn đến sự khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi cá ngoài tự nhiên ngày càng giảm, điều này thể hiện qua sự suy giảm về kích thước của cá ngựa khai thác được và sản lượng khai thác hàng năm.
 

II. Phương pháp nghiên cứu:

1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Thời gian nghiên cứu: Chia thành 2 đợt: Đợt 1: từ tháng 8-12/2016; Đợt 2 từ tháng 1-4/2017.
 
2. Phương pháp nghiên cứu:
 
2.1 Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu:

 

ca ngua 12.jpg
 
 
 

2.2 Sản xuất giống cá ngựa
Toàn bộ hệ thống bể nuôi đều nằm trong nhà che chắn kín. Sử dụng bóng đèn neon để chiếu sáng đảm bảo đủ ánh sáng cho cá bắt mồi vào ban ngày. Các bể nuôi cá được sơn bằng nước màu xanh (màu sáng giúp cá dễ bắt mồi và cá có màu vàng đẹp).

 

Nguồn nước nuôi dưỡng cá đực và ương giống: Nước được bơm từ biển vào hệ thống bể chứa lắng thông qua bể lọc thô để lọc những chất bẩn có kích thước lớn như rác, san hô..,Xử lý nước bằng Iodine liều lượng 1 ppm. Phơi nắng nguồn nước đã xử lý trong thời gian 2 – 3 ngày (kết hợp sục khí) để loại bỏ hóa chất (Iodine). Cấp nước vào bể nuôi thông qua hệ thống bể lọc tinh (bể lọc tinh từ trên xuống: cát mịn – than hoạt tính – cát thô – đá 2x3 – đá 4x6). Sau khi cấp nước vào bể nuôi, sục khí liên tục. Bố trí mỗi bể nuôi 5 cục sứ, đá bọt ở 4 góc và giữa bể.

a. Chọn cá đực mang trứng, vận chuyển, lưu giữ và cho sinh sản:

- Nguồn cá đực: Cá đực đã mang trứng được đánh bắt từ tự nhiên ở các vùng biển miền Trung như: Khánh Hòa, Phú Yên… Kích thước cá đực đạt chiều dài từ 13 cm trở lên. Cá khỏe, bơi lội bình thường, không bị thương tổn hay lở loét,…
 
- Vận chuyển: Cá được vận chuyển bằng phương pháp vận chuyển kín. Vận chuyển trong bao ni lông có bơm oxy, kích thước 20 x 35 cm. Mỗi bao đóng 1 con. Khi cá về đến cơ sở, thuần hóa trong khoảng 2 giờ. Sau đó tắm bằng formol nồng độ 100 ppm trước khi đưa vào bể nuôi.
- Nuôi dưỡng cá đực trong bể xi măng :
 
+ Cho ăn: Do cá tự nhiên mới đánh bắt nên ít ăn được thức ăn đông lạnh. Do đó những ngày đầu khi tập cho cá ăn thức ăn đông lạnh, cần cho vào một số lượng thức ăn nhiều hơn khả năng sử dụng thức ăn thực tế của cá để tăng khả năng bắt mồi cho cá. Thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi dưỡng sẽ là: Ruốc đông lạnh, Mysis đông lạnh, Artemia trưởng thành, mỗi loại thức ăn cho vào bể khoảng 10 gam. Cho ăn ngày 3 lần.
 
+ Chăm sóc: Xiphôn 3 lần/ngày sau khi cho cá đực ăn 2,5 giờ để loại bỏ thức ăn thừa. Không thay nước trong quá trình nuôi cá đực. Theo dõi thường xuyên cá đực, khi thấy bụng cá căng bóng là dấu hiệu cá sắp đẻ (thông thường nuôi cá đực trong bể tối đa 15 ngày cá sẽ sinh sản). Chuyển cá sang các bể ương cho cá đẻ trực tiếp vào bể ương.Thời gian nuôi dưỡng cá đực khoảng 1 tháng/ 1 đợt sản xuất.
 
b. Phương thức thu vớt và xử lý copepoda trước khi cho cá ngựa ăn.
-       Nguồn copepoda: Mua tại các ao nuôi nuôi thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện Đức Phổ.
-       Cách thu: Dùng vợt thu động vật phù du có đường kính 40 cm vớt động vật phù du trong ao (thành phần chủ yếu của động vật phù du là copepoda), cho vào canh nhựa có sục khí bằng pin để vận chuyển về trại sản xuất giống.
-       Xử lý trước khi cho ăn: Lọc lại copepoda bằng lưới vớt động vật phù du (có thể dùng vợt đánh Nauplius cho trại tôm giống). Rửa lại bằng nước ngọt trước khi cho cá con ăn.
 
c. Ương cá ngựa giống từ khi sinh sản đến 4-6cm/con.
-  Số lượng bể để ương cá giống: 9 bể thể tích 4 - 6 m3. Tùy theo kích thước cá đực, mỗi bể thả 1 – 3 con cá đực. Mật độ ương nuôi ban đầu khoảng 150 – 200 con/m3.Khi cá đẻ vớt cá đực ra khỏi bể, bổ sung thức ăn là copepoda sống trong khoảng thời gian 12 giờ sau khi đẻ, mật độ thức ăn dao động 2 – 5 con/ml trong suốt thời gian ương cá. Sau thời gian nuôi 10 ngày có thể bổ sung thêm Nauplius của Artemia, Copepoda đông lạnh.Khi cá đạt kích thước 4 cm tiến hành treo vật bám vào cho cá và luyện cá cho ăn Mysida đông lạnh.Cách luyện: Tắt sục khí, bật đèn để tạo phản xạ có điều kiện, tạt nhẹ thức ăn nơi cá tập trung nhiều. Thời gian cho ăn kéo dài khoảng 1 giờ, sau đó mở sục khí và bổ sung thức ăn như giai đoạn nhỏ. Thông thường luyện 3 – 5 ngày cá sẽ ăn hoàn toàn bằng thức ăn Mysida đông lạnh.
 
Chăm sóc quản lý: Si phông hàng ngày vào buổi tối để loại toàn bộ phân cá, thức ăn thừa ở đáy bể. Định kỳ 3 ngày xử lý bể ương bằng chế phẩm vi sinh. Sục khí nhẹ liên tục.Giai đoạn này không thay nước.
 
3. Phương thức thu thập và xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu đ­ược thu thập và xử lý theo các phương pháp thống kê sinh học sử dụng phần mềm MS Excel và SPSS version 16.0 for window.
 
III. Kết quả nghiên cứu:
1. Kết quả nuôi thành thục cá ngựa mang trứng cho sinh sản
- Cá ngựa đen đực mang trứng nhập về trại chia làm 2 đợt sản xuất: Đợt 1 : Thả 50 con; Đợt 2 : Thả 50 con; kích cỡ : ≥13cm/con.
- Sau 15 ngày  nuôi thành thục cá ngựa đen mang trứng kể từ ngày nhập cá về của mỗi đợt thì tỷ lệ hao hụt đợt 1 tỷ lệ hao hụt là 40%; Đợt 2 tỷ lệ hao hụt là 42%.
 
Nhìn chung tỷ lệ sống nuôi thành thục cá ngựa mang trứng như trên như vậy là tốt. Đến nay, chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu nào báo cáo kết quả liên quan đến tỷ lệ sống của cá ngựa khi vận chuyển và tỷ lệ sống của cá ngựa khi nuôi thành thục cho sinh sản nhân tạo.
 
Sức sinh sản của cá đực 2 đợt gần như tương đương nhau bình quân 450con/con cá đực.
 
2. Sinh trưởng và phát triển của cá

ca ngua 3.jpg
Hình 1 Tăng trưởng về chiều dài của cá đợt 1

 
 
ca ngua 4.jpg
Hình 2 Tốc độ sinh trưởng về trọng lượng của cá ngựa đợt 1

 

ca ngua 5.jpg
Hình 3 Tốc độ sinh trưởng về chiều của cá ngựa đợt 2
ca ngua 6.jpg
Hình 4 Tốc độ sinh trưởng về trọng lượng của cá ngựa đợt 2
 

Sau khi ương nuôi được 120 ngày kể từ lúc mới sinh ra cá đạt chiều dài từ 42 - 67mm và khối lượng 575,00- 676,00mg đối với đợt sản xuất thứ nhất;  chiều dài từ 57 -73 mm và khối lượng 590,00- 715,00mg đối với đợt sản xuất thứ hai. Nhìn chung sinh trưởng của cá ngựa ở cá bể không có sự khác biệt lớn trong cùng một đợt sản xuất và đợt sản xuất thứ nhất cá ngựa giống chậm lớn hơn so với đợt sản xuất đợt 2. Nguyên nhân như đã phân tích trên là do thời tiết của đợt sản xuất thứ 2 thuận lợi hơn nên cá lớn nhanh hơn. Tuy nhiên sự chênh lệch giưa hai đợt là không lớn. Ngoài ra chúng ta thấy một số bể cá chậm phát triển.

3.Kết quả sản xuất
Bảng 3.7: Số lượng cá giống ương đến 4-6cm/con và tỷ lệ sống:

 

ca ngua 7.jpg
Qua 2 đợt sản xuất, chúng tôi thu được kết quả tỷ lệ sống của cá ngựa ương nuôi từ khi mới đẻ cho đến giai đoạn con giống tỷ lệ sống dao động trong khoảng 47-75%. Trong đó, đợt 1 số lượng cá sản xuất ra là 5.052 con giống, tỷ lệ sống giai đoạn con giống dao động trong khoảng 48-71%; Tỷ lệ sống trung bình của đợt 1 là 58,2%. Đợt 2 số lượng cá sản xuất ra 6.144 con giống, tỷ lệ sống giai đoạn con giống dao động trong khoảng 49-75%, tỷ lệ sống trung bình của đợt sản xuất thứ 2 là 66,2% . Nhìn chung tỷ lệ sống của đợt 2 cao hơn đợt 1. Nguyên nhân chủ yếu là do đợt thứ nhất sản xuất giống vào mùa mưa lạnh nên nhiệt độ xuống thấp ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của cá ngựa, đợt 2 sản xuất vào mùa vụ chính, thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ sống cao hơn.

 

IV Kết luận và đề xuất:
1. Kết luận:
- Việc nuôi dưỡng thành thục cá bố mang trứng được mua từ tỉnh Khánh Hòa để tuyển chọn cho sinh sản nhân tạo bước đầu đã thành công. Kết quả tỷ lệ sinh sản đợt 1 là 40%; đợt 2 là 42%.
- Thử nghiệm sản xuất giống cá ngựa đen: Việc sản xuất giống cá ngựa tại Quảng Ngãi ở cả 2 đợt cá giống đều sinh trưởng phát triển tốt với nguồn thức ăn Copepoda sống và bổ sung thêm Nauplii Artemia. Qua 4 tháng sản xuất của hai đợt thử nghiệm sản xuất giống cá ngựa đen kết quả đã sản xuất được 11.196 con cá ngựa đen giống; kích cỡ trung bình 4,2-7,3 cm/con đạt yêu cầu mà thuyết minh đề tài đã đề ra cụ thể như sau:
- Đợt 1 sản xuất ra 5.052; tỷ lệ sống 58,2%; kích cỡ chiều dài trung bình 4,2-6,6 cm/con; khối lượng trung bình 575 – 673 mg/con:
- Đợt 2 sản xuất ra 6.144; kích cỡ chiều dài trung bình 5,7-7,3 cm/con; khối lượng trung bình 590 – 715 mg/con
 
2. Đề xuất:
- Về nguồn cá bố mẹ cho sản xuất giống phải mua thu gôm ngoài tự nhiên vì vậy để chủ động và nhân rộng sản xuất giống cá ngựa, đề xuất nghiên cứu đàn cá bố, mẹ từ nguồn cá thương phẩm (đàn cá bố mẹ F1), như vậy sẽ giảm áp lực cho việc khai thác cá bố mẹ từ tự nhiên.

- Nghiên cứu loại thức ăn mới có thể thay thế được thức ăn copepoda và mysida để người nuôi chủ động nguồn thức ăn hơn trong việc sản xuất giống cá ngựa.

Nguyễn Hữu Thái – Trung tâm Khuyến nông Quảng Ngãi

Tin đã đưa


Thông tin cần biết
Phim tư liệu
Nhà máy lọc dầu Dung Quất Quảng Ngãi
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

  Đẹp
  Bình thường
  Xấu

Bản quyền © 2014 thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Dương Văn Tô - Tổ Trưởng Tổ Thông tin