Giới thiệu

Tin tức

Văn bản pháp quy

Thủ tục hành chính

Đề tài - dự án đang triển khai

Văn bản chỉ đạo điều hành

Lịch công tác

Chiến lược - Quy hoạch

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 1936288
Đang online: 16
Đăng ngày: 20/05/2019
Dự án "Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thử nghiệm ương giống cá Bớp (Rachycentron canadum) giai đoạn từ trứng lên cá giống tại Quảng Ngãi” được Trung tâm Giống tỉnh Quảng Ngãi tiếp nhận thành công và xây dựng hướng dẫn quy trình kỹ thuật ương giống cá bớp từ giai đoạn trứng lên cá giống phù hợp với điều kiện tại Quảng Ngãi. Để nghề ương giống cá bớp được nhân rộng và phát triển trên địa bàn tỉnh nhà, sau đây chúng tôi xin giới thiệu quy trình kỹ thuật ương giống cá bớp giai đoạn từ trứng lên cá giống tại Quảng Ngãi.
1. Kỹ thuật ương giai đoạn cá bột lên cá hương ao ương ngoài trời:

1.1 Bố trí ao ương:

- Ao ương có diện tích từ 1.000 – 3.000 m2, ao đất hoặc ao lót bạt chống thấm, ao ương có độ sâu 1,5m trở lên. Sục khí được bố trí đều khắp ao nuôi.

- Ao sau khi lắp đặt hệ thống xong, tiến hành vệ sinh ao sạch sẽ, cấp nước vào ương nuôi.

1.2 Chuẩn bị nước thả ương:

- Nước được bơm từ biển vào ao ương qua túi lọc, mức nước duy trì trong ao 1,5m trở lên. Nước sau khi cấp đủ, dùng Chlorine XC 2ppm, sau 2 ngày kiểm tra hết dư lượng Chlorine, xử lý Vikon A 1ppm, sau đó xử lý tiếp Iodine 1ppm, sau đó xử lý EDTA 2ppm.

- Dùng EM đã nhân sinh khối bón vào ao nuôi 50l/1.000m3, bón liên tục 3 ngày, dùng khoáng và vi sinh bón vào ao ương để ổn định môi trường. 

- Các chỉ số môi trường ao ương pH từ 8,0 – 8,5, oxy hòa tan >5mg/l, độ mặn đảm bảo từ 28 - 32‰, nhiệt độ nước 25 - 300C, độ trong 40 – 50cm. Khi các yếu tố môi trường ổn định ta tiến hành thả trứng.    

anh.jpg
Bảng mô tả các yếu tố môi trường
1.3 Kỹ thuật ấp trứng:

- Ương giống cá bớp tại Quảng Ngãi trong những tháng đầu năm, thời tiết thường không ổn định, vì vậy cần theo dõi thời tiết để thả trứng ương nuôi cho phù hợp, nhiệt độ nước ≥ 250C. Các yếu tố môi trường của nước khi thả trứng phải như sau (bảng mô tả):

- Mật độ trứng ấp: 100 - 150 trứng/lít.

- Trứng sau khi vận chuyển về trại thả trứng vào thau, trứng thụ tinh nổi trên mặt, trứng bị vỡ và trứng không thụ tinh chìm xuống đáy thau, dùng ống siphong để loại bỏ trứng hư, tắm iodine với lượng 1ppm, rửa lại bằng nước biển sạch, đưa vào bể ấp, sục khí nhẹ để tránh vỡ trứng.

- Trứng sau khi nở ra cá bột được 12h dùng ống nhựa mềm phi 34 hút nước và cá bột chảy trực tiếp vào hồ ương, nước được đưa vào hồ ương bằng dòng chảy nhẹ, tại nơi có vòi khí lớn để cá phân đều trong ao.

1.4 Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:

1.4.1 Mật độ ương:

Cá bột lên cá hương khoảng 500 – 700con/m3.

1.4.2 Thức ăn và cho ăn:

- Trong 3 ngày đầu cá dinh dưỡng bằng noãn hoàn lúc này cá chưa ăn thức ăn ngoài. Từ cuối ngày thứ 3 cá bắt mở miệng và ăn thức ăn bên ngoài, vì vậy giai đoạn này cấp luân trùng, mật độ luân trùng trong hồ ương 10 con/ml, ngày cấp 2 – 3 lần luân trùng sao cho đảm bảo mật độ duy trì 10 con/ml.

- Từ ngày thứ 7 đến ngày 12 cho ăn luân trùng, Copepoda, Artemia, cho ăn xen kẻ giữa các loại thức ăn, duy trì mật độ thức ăn 15con/l. Theo dõi độ no và tốc độ tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Cần bổ sung thêm Artemia sinh khối, để tăng sức đề kháng cho cá hương.

- Khi cá hương được 15 ngày tuổi, vào ban đêm chong đèn để cá tập hợp, tạo cho cá có phản xạ. Mục đích để theo dõi sức khỏe của cá, cuối giai đoạn cá hương, tập cho cá ăn thức ăn tổng hợp, đưa vào ương trong nhà.

- Từ ngày thứ 12 – 25 cho ăn Copepoda, Artemia và từ ngày thứ 20 tập cho cá ăn thức ăn tổng hợp Lansy PL, NRD 3/5. Giai đoạn này cá chỉ ăn thức ăn tươi sống, mồi động, thức ăn tổng hợp chỉ tập cho cá quen mùi.

- Thường xuyên theo dõi dự báo thời để có kế hoạch chuẩn bị dự trữ thức ăn và có chế độ chăm sóc quản lý hợp lý. Trước mỗi đợt có dự báo thời tiết thay đổi (ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc, không khí lạnh) cho cá ăn thật no bổ sung  thêm vitamin và khoáng để tăng sức đề kháng cho cá, khi nhiệt độ giảm thấp cá sẽ giảm ăn hoặc bỏ ăn nên trước đó cá đã được ăn no nên đã có nguồn năng lượng dự trữ để chống chịu được 1 đến 2 ngày.

1.4.3 Chế độ siphong thay nước:

 Trong quá trình ương không cấp nước vào ao ương mà chỉ cấp bù nước do hao hụt thấm lậu, nước cấp vào ao ương phải được xử lý như chuẩn bị nước thả cá bột, lượng nước cấp vào trong ngày chỉ 10 - 20% lượng nước trong hồ.

1.4.4 Quản lý môi trường nước ao ương:

- Triển khai sản xuất trong những tháng đầu năm khó khăn nhất là thời tiết không ổn định, chịu sự tác động trực tiếp của không khí lạnh và gió mùa Đông Bắc, có khi nhiệt độ giảm xuống ≤ 230C thì cá ngừng bắt mồi. Ương ao ngoài trời chúng ta không chủ động khống chế được nhiệt độ, mà nhiệt độ nước chịu sự tác động trực tiếp của thời tiết. Nếu nhiệt độ giảm quá thấp ương gặp nhiều khó khăn. Vì vậy chọn thời điểm thả trứng phải theo dõi dự báo thời tiết, trong một tuần đầu mới thả trứng nhiệt độ phải duy trì ≥ 250C.

- Các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm chịu sự tác động trực tiếp của tảo trong ao nuôi, vì vậy nên duy trì độ trong 40 – 50 cm nếu quá dày tảo sẽ dễ bị tàn. Nếu nước quá trong > 60 cm cá sẽ bị stress, pH ao nuôi duy trì trong khoảng 8,0 – 8,5, định kỳ từ 3 – 5 ngày/lần sử dụng khoáng và Ankaline 3kg/1.000m3 để ổn định độ kiềm. Sử dụng vi sinh, EM định kỳ 5 ngày/lần đánh vào ao nuôi để ổn định môi trường nước ao ương.

- Cá hương được 20 - 25 ngày (cá 4 – 5 cm) đánh chuyển cá vào hồ xi măng để ương giai đoạn cá giống.

2. Kỹ thuật ương giai đoạn cá hương lên cá giống:

2.1 Chuẩn bị trại ương:

- Trại ương phải kín gió vào mùa mưa và thoáng mát vào mùa nắng, được lắp đặt hệ thống khí, điện, cấp và thoát nước chủ động.

- Bể nuôi bằng composite hoặc bể xi măng, có dạng hình tròn hoặc hình vuông, thể tích bể ương từ 5 - 15 m3 .

- Khử trùng trại ương ngâm nước ngọt có xử lý chlorine, vikon A, các dụng cụ phục vụ sản xuất. Vệ sinh lại nước ngọt sạch sẽ.

2.2. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:

2.2.1 Mật độ ương:

Cá hương lên cá giống khoảng 100 – 150con/m3.

Ở giai đoạn này cá cần không gian rộng để bơi lội, vì vậy mật độ ương phải phù hợp, nếu ương nhiều quá cá sẽ bị chết ngợp.

2.2.2 Thức ăn và cho ăn:

- Trong  giai đoạn này cá bắt mồi chủ động thức ăn gồm artemia và thức ăn tổng hợp, tùy theo kích cỡ miệng của cá, cho ăn lần lượt NRD 3/5, NRD 5/8, NRD G8, NRD G12, NRD P16S.

- Lượng thức ăn từ 500 – 700g/1000 cá/ngày.

- Cách cho ăn: Bắt dây khí trong hồ ương chừa một khoảng trống khí nhẹ để cho cá dễ bắt mồi. Thức ăn được rải từ từ cá tập trung tại một điểm để cho cá bắt mồi, khi ăn no sẽ xuống đáy thì ngừng. Ngày cho ăn 2 lần (sáng và chiều).

- Cá bớp là loài cá dữ cá luôn luôn ăn no, nếu cá đói sẽ còi cọc, ăn thịt lẫn nhau gây hao hụt. Vì vậy trong quá trình ương phải cung cấp thức ăn đầy đủ.

2.2.3 Quản lý môi trường nước hồ ương:

- Lượng thức ăn được sử dụng nhiều nên môi trường nước nuôi dễ bị ô nhiễm, độ độc tăng cao từ lúc cho ăn đến khi cá thải ra nên cá dễ bị ngộ độc và chết hàng loạt; khi nước đục phải được thay kịp thời hoặc chuyển hồ mới.

- Cá giống hoạt động mạnh nên cần lượng oxy nhiều,  bố trí dây khí phải mạnh để cung cấp đủ lượng oxy hòa tan trong hồ ương, duy trì oxy > 5mg/l.

- Cá giống trước khi chuyển hồ hoặc lọc phân cỡ phải cho cá nhịn ăn 12 giờ để cá đói, nếu cá no sẽ dễ bị sốc, bỏ ăn và chết. Trong quá trình ương định kỳ từ 3 – 5 ngày tiến hành lọc phân cỡ cá, để hạn chế cá ăn thịt lẫn nhau, cạnh tranh thức ăn cá nhỏ không bắt mồi được, tạo ra đàn cá có kích cỡ đồng đều, tăng tỷ lệ sống.

2.2.4 Kỹ thuật lọc cá:

- Chuẩn bị dụng cụ: Thau nhựa đường kính 1m, vợt đánh cá, chén lọc cá.

- Phương pháp thực hiện: Rút nước còn 30cm nước hồ ương, đánh cá ra thau có sục khí, tiến hành phân loại cá theo từng kích cỡ giống khác nhau. Thao tác thực hiện nhẹ nhàng, nhanh, tránh làm cá xây sát, yếu cá.

3. Kỹ thuật phòng bệnh cho cá:

3.1. Giải pháp quản lý chất lượng nước:

Quản lý chất lượng nước là một khâu vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công trong sản xuất giống cá bớp. Cá bớp là đối tượng cá dữ, sử dụng lượng thức ăn hằng ngày lớn, chính vì vậy một lượng lớn vật chất dinh dưỡng được đưa vào hồ nuôi thông qua con đường cung cấp thức ăn cho cá, thức ăn thừa, chất thải sẽ tích tụ trong  hồ nuôi và sẽ làm cho chất lượng nước giảm dần. Bên cạnh đó các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, ni trít cũng ảnh hưởng lớn đến cá nuôi và chất lượng nước nuôi. Trong điều kiện thời tiết Quảng Ngãi những tháng đầu năm nhiệt độ thường hay giảm thấp có khi giảm xuống dưới 230C là cá đã giảm ăn hoặc bỏ ăn. Lượng phân thải và thức ăn thừa làm nồng độ ni trít thường tăng cao, cá dễ bị chết ngợp vì khí độc. Để nâng cao chất lượng nước cần có những giải pháp sau: 

- Chọn thời điểm thả trứng ương phải phù hợp, nhiệt độ thời điểm thả trứng > 250C, với thời tiết Quảng Ngãi thời điểm thả trứng vào đầu và giữa  tháng 03 hàng năm là phù hợp. Sử dụng thiết bị nâng nhiệt để làm tăng nhiệt độ bể ương.

- Trại ương phải kín gió vào mùa mưa, thoáng mát vào mùa nắng.

- Hệ thống ao xử lý nước, ao chứa lắng phải lớn, đủ lượng nước dự trữ thay nước hằng ngày, nguồn nước cấp vào ương nuôi phải xử lý kỹ, qua hệ thống lọc.

- Thay nước hằng ngày từ 100 – 200% lượng nước hồ nuôi, cứ 2 ngày chuyển hồ để hạn chế ô nhiễm do thức ăn thừa, phân thải bám vào thành hồ và môi trường nước hồ ương.

- Định kỳ sử dụng khoáng, ankaline, chế phẩm sinh học vi sinh, EM để ổn định môi trường nước nuôi.

3.2 Phòng và trị bệnh cho cá ương:

Trong sản xuất giống luôn đặt vấn đề phòng bệnh cho cá lên hàng đầu và nguyên tắc là: phòng bệnh là chính, chữa bệnh khi thật cần thiết. Để sản xuất giống hiệu quả trong quá trình ương nuôi cần thực hiện các biện pháp sau:

- Trước vụ sản xuất trại ương phải được vệ sinh sạch sẽ, các dụng cụ phục vụ sản xuất phải được tiệt trùng, rửa sạch.

- Nguồn thức ăn tươi sống phải được tắm qua hóa chất để loại bỏ mầm bệnh lây nhiễm, sử dụng các loại axit amin để làm giàu và sử dụng trực tiếp để tăng sức đề kháng cho cá nuôi.

- Chọn nguồn cung cấp trứng cá đảm bảo chất lượng tại các công ty có uy tín trên thị trường.

- Sử dụng các loại thức ăn có chất lượng, bảo quản sử dụng thức ăn hợp lý, không để thức ăn bị ẩm mốc.

(Theo Bản tin KH&CN, số 02/2019) 

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Thông tin cần biết
   
Thực hiện Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/72019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng và ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi tại Công văn số 3711/UBND-NC ngày 02/7/2019 về tăng cường các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ; Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi thông báo số điện thoại đường dây nóng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân liên quan đến các hoạt động thuộc thẩm quyền giải quyết của Khoa học và Công nghệ. Xem chi tiết Thông báo số 906/TB-SKHCN.pdf

 

   
Triển lãm Quốc tế chuyên ngành thiết bị và công nghệ nông – lâm ngư nghiệp – GROWTECH năm 2019 là sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế I.C.E, số 91 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, thời gian từ ngày 31/10/2019 đến ngày 01/11/2019 (3 ngày).

Triển lãm là nơi trưng bày giới thiệu các công nghệ và thiết bị, mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và là cơ hội để các tổ chức, cá nhân, cơ sở nông nghiệp được tiếp cận trực tiếp với công nghệ mới. Triển lãm cũng nhằm mục đích hỗ trợ thương mại hóa các sáng chế, kết quả nghiên cứu của các địa phương thông qua hoạt động quảng bá các sáng tạo công nghệ áp dụng và sản xuất nông nghiệp do tổ chức khoa học và Công nghệ, viện nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân sáng chế. Xem chi tiết tại đây: Công văn số 788/SKHCN_QLCN.pdf

 

   
​Ngày 22/5/2019 UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 705/QĐ-UBND Về việc thành lập Tổ công tác hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh​. Mời bạn đọc xem chi tiết: Quyết định số 705/QĐ- UBND.pdf
 

 

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy giao diện website thế nào. Ý kiến của bạn:

  Đẹp
  Xấu
  Bình thường

Bản quyền © 2013 thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Văn Thành - Giám đốc Sở
Điện thoại: 055.8556002
Địa chỉ: 202 - Đường Trường Chinh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.