Giới thiệu

Tin tức

Văn bản pháp quy

Thủ tục hành chính

Đề tài, dự án đang triển khai

Văn bản chỉ đạo điều hành

Lịch công tác

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 1635483
Đang online: 20
Đăng ngày: 08/06/2018
Vụ lúa Hè thu 2017 ở thôn Minh Xuân, xã Tịnh Bắc.
Ở xã Tịnh Bắc, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm phần lớn so với tổng diện tích tự nhiên toàn xã, trên 90,0% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi, lúa và sắn là hai đối tượng cây trồng chủ lực ở địa phương. Tuy nhiên, trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: Đối với cây lúa, phương thức tưới nước cho cây lúa được nông hộ sử dụng là tưới ngập thường xuyên đã kìm hãm sự phát triển của bộ rễ cây lúa. Vì vậy, chẳng những khả năng chống đổ ngã của cây lúa kém mà việc huy động dinh dưỡng từ trong đất của cây lúa cũng hạn chế; do vậy làm giảm năng suất khi thu hoạch, tăng chi phí đầu tư phân bón, mất cân đối trong bón phân đa lượng cho cây lúa, thừa đạm và lân nhưng lại thiếu kali dẫn đến nguy cơ dịch bệnh tăng cao, lượng giống gieo trồng hiện nay khoảng 120-130 kg/ha, cao hơn nhiều so với khuyến cáo của ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi (từ 80 - 100 kg/ha đối với sạ lan và so với phương thức sạ hàng từ 60 - 70 kg/ha).
Đối với cây sắn trong canh tác, giống đang sử dụng trong sản xuất chủ yếu là giống KM94 có tiềm năng năng suất cao nhưng đang bị thoái hóa do sử dụng lâu năm trong sản xuất và mức độ nhiễm bệnh chổi rồng cao, tỷ lệ sử dụng phân bón đa lượng trong thực tiễn sản xuất chưa hợp lý đã ảnh hưởng đến năng suất và hàm lượng tinh bột của cây sắn. Đối với chăn nuôi bò thịt, đồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò còn ít nên chưa chủ động được thức ăn thô xanh, còn phụ thuộc vào rơm rạ và cỏ mọc tự nhiên. Việc cung cấp thức ăn thô xanh cho bò chủ yếu là trực tiếp, chưa được băm nhỏ hoặc ủ chua nên hiệu suất sử dụng chưa cao.

Do vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở xã Tịnh Bắc cần thiết phải triển khai đồng loạt các giải pháp về chính sách, thị trường, dân trí, khoa học công nghệ, tuyên truyền, tổ chức lại sản xuất,… để phát huy những lợi thế đã có và khắc phục những hạn chế trong sản xuất. Trong đó, giải pháp về khoa học công nghệ và tổ chức lại sản xuất là những giải pháp then chốt được ưu tiên lựa chọn.

Thực hiện dự án “Hỗ trợ ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở xã Tịnh Bắc, huyện Sơn Tịnh”, qua 2 năm (2016 và 2017) Ủy ban nhân dân xã Tịnh Bắc (đơn vị chủ trì dự án) đã phối hợp với cơ quan chuyển giao công nghệ là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ xây dựng  mô hình 120 ha canh tác lúa theo hướng giảm chi phí đầu vào sản xuất theo cơ cấu lúa (Đông Xuân) – lúa (Hè Thu); 32 ha mô hình chuyển đổi đất 2 vụ lúa sang trồng 01 vụ lúa và 01 vụ màu theo cơ cấu lúa (Đông Xuân) - ngô (Hè Thu); 20 ha mô hình thâm canh tổng hợp cây sắn; 05 ha mô hình chuyển đổi đất trồng sắn sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò thịt. Sau 4 vụ triển khai, kết quả đạt được của các mô hình rất khả quan.

Đối với mô hình canh tác lúa theo hướng giảm chi phí đầu vào, ngoài việc giảm lượng giống xuống còn 80kg/ha, giảm thuốc bảo vệ thực vật còn áp dụng phương thức canh tác gieo sạ lúa bằng công cụ sạ hàng, đây là phương thức gieo sạ mới được áp dụng tại địa phương. Kết quả, lúa ngoài mô hình sạ dày, lượng giống 120 kg/ha nên mật độ bông rất cao dao động từ 305,3 – 403,0 bông/m2, cao hơn mô hình từ 35,5 – 40,9%, tuy nhiên số hạt chắc/bông lại thấp hơn mô hình từ  49,5 – 57,1%, tỷ lệ hạt lép cao hơn và khối lượng 1.000 hạt lại nhỏ hơn. Chính vì vậy, năng suất lúa trong mô hình luôn đạt cao hơn so với ngoài mô hình ở tất cả các điểm, trên các giống lúa trong cả 4 vụ, năng suất lúa trung bình trong mô hình dao động từ 60,2 – 68,2 tạ/ha và cao hơn ngoài mô hình 9,9%. Tổng doanh thu trong mô hình là 40,121 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn ngoài mô hình 8,8%; lãi thuần 16,959 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn ngoài mô hình 33,0%. Lợi nhuận mô hình đạt cao ngoài nguyên nhân do tăng năng suất còn do giảm vật tư đầu vào: 50,0%  lúa giống, 65,2% thuốc bảo vệ thực vật và giảm công lao động phun thuốc bảo vệ thực vật 11,9%.

Mô hình chuyển đổi đất 2 vụ lúa sang trồng 01 vụ lúa và 01 vụ màu theo cơ cấu lúa (Đông Xuân ) – ngô (Hè Thu) năng suất lúa bình quân của mô hình là 62,2 tạ/ha và năng suất ngô bình quân của mô hình đạt 6,6 tấn/ha, trong đó năng suất ngô tại thôn Minh Mỹ đạt 7,15 tấn/ha, thôn Minh Xuân chỉ đạt 5,0 tấn/ha. Nguyên nhân năng suất ngô tại thôn Minh Xuân đạt thấp là do chân đất thấp, điều kiện tiêu nước kém nên khi gặp mưa cây ngô bị úng, dẫn đến sinh trưởng, phát triển kém, mật độ cây thu hoạch thấp. Lãi thuần vụ lúa Đông Xuân đạt 15,73 triệu đồng/ha; vụ ngô Hè Thu đạt 15,23 triệu đồng/ha, cộng cả năm đạt 30,97 triệu đồng/ha. So sánh với mô hình lúa (Đông Xuân) – lúa (Hè Thu) trong cùng thời điểm, cùng điều kiện canh tác thì mô hình lúa – lúa hiệu quả kinh tế (đạt 33,91 triệu đồng/ha/năm) cao hơn 2,9 triệu đồng/ha (tương đương 9,5%). Tuy nhiên, so với mô hình lúa – lúa ngoài mô hình thì mô hình lúa - ngô vẫn cao hơn 7,1 triệu đồng/ha (tương đương 29,9%).

Mô hình thâm canh tổng hợp cây sắn, ngoài giống sắn KM94 đang sử dụng phổ biến tại địa phương còn bổ sung 2 giống sắn mới là SM937-26 và KM7 và trồng xen cây lạc. Hàm lượng tinh bột của các giống KM94, SM937-26 và KM7 lần lượt là 28,05%, 26,25% và 28,25%. Năng suất sắn bình quân 2 năm của giống sắn KM94 đạt 40,35 tấn/ha, cao hơn giống sắn SM937-26 (đạt 40,05 tấn /ha) là 6,5% và thấp hơn giống sắn KM7 (đạt 42,20 tấn/ha) là 4,6%. Năng suất sắn bình quân 2 năm cả 3 giống là 40,3 tấn củ tươi/ha và năng suất lạc bình quân là 13,2 tạ/ha; lãi ròng đạt 50,528 triệu đồng/ha/năm, cao hơn đối chứng ngoài mô hình 27,4%.

Mô hình chuyển đổi đất trồng sắn năng suất thấp sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò thịt, năng suất cỏ  bình quân của mô hình đạt 249,4 tấn/ha/năm.

Một số khuyến cáo từ kết quả mô hình như sau: Trong canh tác lúa nên áp dụng phương thức sạ hàng, giảm mật độ sạ còn 70-80 kg/ha. Lượng phân bón cho 1 ha: 5 tấn phân chuồng; 300 kg vôi; 400 kg super lân, 220 kg phân urê, 120 kg kali clorua. Đối với cây sắn bổ sung các giống sắn có năng suất cao, chất lượng tốt như giống KM7, SM937-26 vào cơ cấu giống sắn, từng bước giảm tỷ lệ diện tích sắn sử dụng giống KM94; lượng phân bón cho 1 ha là 500 kg phân hữu cơ vi sinh, 300 kg phân urê, 420 kg super lân và 225 kg kali clorua; trồng xen cây họ đậu ngoài tăng hiệu quả kinh tế còn có tác dụng cải tạo đất. Đối với mô hình chuyển đổi đất trồng 2 vụ lúa sang trồng lúa Đông Xuân – ngô Hè Thu cần lưu ý chỉ chuyển đổi những vùng chân đất cao, có khả năng chủ động tiêu nước tốt. Trong chăn nuôi bò thịt, chủ động trồng cỏ cung cấp thức ăn xanh đồng thời ứng dụng công nghệ ủ chua thức ăn thô xanh để tăng hiệu suất sử dụng và dự trữ thức ăn cho bò vào thời điểm khan hiếm thức ăn.

Tóm lại, từ kết quả đạt được của mô hình về năng suất và hiệu quả sản xuất  đã cho thấy việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp khoa học công nghệ đã làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của việc canh tác cây lúa, ngô, sắn và trồng cỏ chăn nuôi bò thịt ở xã Tịnh Bắc. Qua đó đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng của khoa học công nghệ trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung.

LƯƠNG VĂN TRỊ - HOÀNG THẾ VINH

 (Theo Bản tin KH&CN, số 02/2018) 

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Thông tin cần biết
   

Đề xuất nhiệm vụ tham gia Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Xem chi tiết Thông báo số 574/TB-SKHCN 

 

   
Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (GTCLQG) mang tính hội nhập quốc tế và khu vực; là hình thức tôn vinh, khen thưởng ở cấp độ quốc gia do Thủ tướng Chính phủ tặng cho tổ chức, doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo bảy tiêu chí của GTCLQG và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Sở Khoa học và Công nghệ (Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là cơ quan thường trực của Hội đồng sơ tuyển GTCLQG tỉnh Quảng Ngãi) thông báo đến tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tham gia GTCLQG năm 2018. Mời bạn đọc xem chi tiết nội dung Thông báo ​

 

   

​Nhằm phục vụ cho việc truy cập thông tin hướng dẫn về các chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Mời bạn đọc xem chi tiết Sổ tay hướng dẫn.pdf

 

   

Sở Khoa học và Công nghệ ban hành công văn số 01/SKHCN-QLKH về việc đề xuất, đăng ký thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2019. Mời bạn đọc tải biểu mẫu (Bieu1-PĐXNVnam2019.doc).​

 

   
Ngày 01/9/2016, Chủ tịch UBND tỉnh đã ký Quyết định số 1596/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020.

Xem nội dung chi tiết Quyết định số 1596-QĐ-UBND tại đây.

 

Phim tư liệu
Hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ở Quảng Ngãi
Xem thêm
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy giao diện website thế nào. Ý kiến của bạn:

  Đẹp
  Xấu
  Bình thường

Bản quyền © 2013 thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Hồ Trọng Phương - Phó Giám đốc.
Điện thoại: 055.8556011
Địa chỉ: Đường Trường Chinh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.