Giới thiệu

Tin tức

Văn bản pháp quy

Thủ tục hành chính

Đề tài - dự án đang triển khai

Văn bản chỉ đạo điều hành

Lịch công tác

Chiến lược - Quy hoạch

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 1938828
Đang online: 11
Đăng ngày: 17/07/2019
Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Sở KH&CN Phổ biến các văn bản luật tại “Hội nghị phổ biến văn bản quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2019”.
Cách đây tròn 30 năm, ngày 14/7/1989 UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 100/QĐ-UB thành lập Ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi, đây là sự kiện quan trọng đánh dấu quá trình hình thành và phát triển của ngành KH&CN tỉnh Quảng Ngãi. Sau đó, đến tháng 11/1993, Ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh  đổi tên thành Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Và đến ngày 9/5/2003, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 88/QĐ-UB đổi tên Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành Sở Khoa học và Công nghệ như ngày nay.
I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Trải qua 30 năm hình thành và phát triển, ngành Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Quảng Ngãi đã phấn đấu đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đất nước.

(1) Trong lĩnh vực công nghiệp và sản xuất kinh doanh, hoạt động KH&CN đã góp phần tạo ra những chuyển biến vượt bậc về năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường. Đặc biệt, phải kể đến Chương trình nghiên cứu Cảng biển nước sâu và Khu Công nghiệp Dung Quất là Chương trình nghiên cứu khoa học có giá trị và ý nghĩa vô cùng to lớn, những luận cứ khoa học của Chương trình đã đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển Khu Kinh tế Dung Quất, tác động to lớn đến sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh từ những năm đầu thập kỷ 90 cho đến ngày nay.

Thực hiện chủ trương “đồng hành cùng doanh nghiệp”, việc triển khai các Chương trình KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp đã đạt được kết quả tích cực. Từ năm 2006 đến nay, đã hỗ trợ 13 doanh nghiệp đổi mới công nghệ; hỗ trợ xây dựng 340 hồ sơ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu, sáng chế và kiểu dáng công nghiệp; hỗ trợ 193 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất chất lượng. Các doanh nghiệp tại Khu kinh tế Dung Quất đã đầu tư áp dụng công nghệ, hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong lĩnh vực lọc hóa dầu, sản xuất thiết bị công nghiệp nặng, chế biến gỗ xuất khẩu. Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp của tỉnh đã đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trong bảo quản hạt giống, chế biến nông sản, thực phẩm, chế tạo cơ khí,… Cùng với việc đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ và áp dụng hệ thống, công cụ quản lý hiện đại, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo xây dựng nhãn mác hàng hóa, tạo lập thương hiệu cho sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc thù, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh.

(2) Trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, việc thực hiện các đề tài, dự án KH&CN thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và thu nhập cho nông dân, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đóng góp tích cực vào xây dựng nông thôn mới. Nhiều mô hình, dự án KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn được áp dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả thiết thực. Tiêu biểu là dự án ứng dụng KH&CN sản xuất tỏi ở huyện Lý Sơn theo hướng bền vững đã xây dựng được mô hình canh tác tỏi trên hệ thống tưới phun, tiết kiệm gần 50% lượng nước tưới và số ngày công lao động; dự án xây dựng mô hình canh tác mía trên đất gò đồi theo hướng bền vững tại các huyện Ba Tơ, Minh Long và Sơn Hà đã ứng dụng giống mía mới, đưa cơ giới vào khâu làm đất, tạo đường đồng mức đối với vùng đất dốc và áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, bón phân hợp lý, tăng năng suất mía của các huyện miền núi từ 40 tấn/ha lên trên 65 tấn/ha; dự án nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên đất dồn điền đổi thửa tại HTXNN Bình Dương, huyện Bình Sơn đã thực hiện thành công việc dồn điền, đổi thửa với diện tích hơn 150 ha, ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ khâu làm đất đến chăm sóc, thu hoạch, đưa năng suất lúa trên cánh đồng "mẫu lớn" tại xã Bình Dương, đạt bình quân trên 75 tạ/ha, thu nhập người sản xuất tăng từ 15-20%; dự án phát triển cây ăn quả (Sầu riêng hạt lép, Bưởi da xanh, Chôm chôm java) tại huyện Nghĩa Hành đã tạo lập cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế cho hộ nông dân. Các mô hình ứng dụng KH&CN thực hiện tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại xã Đức Phú, huyện Mộ Đức; liên kết giữa doanh nghiệp - nông dân để sản xuất ngô thương phẩm tại huyện Sơn Tịnh;  phát triển chăn nuôi bò lai ở huyện Đức Phổ và huyện Sơn Tịnh... đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, được nông dân tích cực hưởng ứng và nhân rộng; hiện nay đàn bò lai của tỉnh đạt tỷ lệ 70,6% đứng trong tốp đầu toàn quốc. Việc áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến và giống mới vào sản xuất thành công trên diện rộng đã làm cho năng suất các loại cây trồng, vật nuôi ở Quảng Ngãi đã có bước tăng trưởng nhanh. Đối với cây lúa năng suất bình quân năm 2010 đạt 53,8 tạ/ha/vụ, đến nay nhiều cánh đồng lúa cho năng suất trên 65 tạ/ha/vụ; đối với cây ngô năng suất bình quân năm 2010 đạt 50,6 tạ/ha/vụ, đến nay đạt 60 tạ/ha/vụ; năng suất lạc từ 19 tạ lên 21 tạ/ha. Với các giống vật nuôi mới, năng suất, sản lượng và giá trị thương phẩm đều tăng 1,5- 2 lần so với giống cũ địa phương. Điểm nổi bật là thông qua các nhiệm vụ KH&CN, đã xây dựng được các mô hình sản xuất nông sản sạch, an toàn, bảo đảm sức khỏe nhân dân, tạo tiền đề phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và đã hình thành một số chuỗi liên kết giữa người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đóng trên địa bàn trong việc nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ các nông sản chủ lực, sản phẩm có lợi thế của tỉnh.

DAtoiLySon.jpg
Dự án ứng dụng KH&CN sản xuất tỏi ở huyện Lý Sơn theo hướng bền vững.​
(3) Thực hiện Chương trình phát triển kinh tế biển, đảo, nhằm bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy hải sản, tạo ra đối tượng nuôi mới, chủ động con giống và phát triển nghề nuôi trồng thủy hải sản cho ngư dân, các đề tài, dự án khoa học đã tập trung điều tra đánh giá nguồn lợi và đề xuất giải pháp bảo vệ, phát triển và khai thác bền vững nguồn lợi cá Dìa, cua Dẹp, Nhum sọ tại huyện đảo Lý Sơn và các huyện ven biển; thử nghiệm kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa đen; nghiên cứu sinh sản nhân tạo và nuôi thử nghiệm thương phẩm cá bống cát sông Trà; trồng phục hồi rạn san hô khu vực biển ven bờ đảo Lý Sơn...

(4) Trong công tác điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, các đề tài nghiên cứu khoa học đã thiết lập được một số ngân hàng cơ sở dữ liệu tương đối phong phú, đồng bộ về tài nguyên khoáng sản, điều kiện tự nhiên, môi trường trên địa bàn tỉnh phục vụ cho công tác quản lý chuyên ngành và xây dựng các dự án đầu tư phát triển kinh tế-xã hội; cung cấp luận cứ khoa học cho việc quy hoạch, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý hơn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững; dự báo, cảnh báo nguy cơ thiên tai để có giải pháp phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản.

(5) Trong lĩnh vực y tế, kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN đã cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chủ trương phát triển y tế, tiếp cận thành tựu y học hiện đại ứng dụng vào thực tiễn, góp phần tích cực trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Từ 2010 đến nay, đã có 152 nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh và cơ sở triển khai thực hiện. Điển hình trong khám, chữa bệnh có dự án “Hỗ trợ ứng dụng chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật điều trị trĩ bằng phương pháp Longo” đã huấn luyện, chuyển giao thành công kỹ thuật phẫu thuật cho 20 thành viên của 03 bệnh viện tuyến huyện; lĩnh vực  y học cộng đồng có đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chống một số bệnh học đường thường gặp ở học sinh cấp tiểu học”; trong y tế dự phòng, phòng chống các bệnh xã hội có các đề tài “Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp đối với trẻ tự kỷ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý y tế.

(6) Các đề tài nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển của tỉnh. Một số đề tài nghiên cứu về tri thức bản địa, lịch sử, văn hoá, âm nhạc, lễ hội dân gian của địa phương, đã góp phần bảo tồn, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giáo dục truyền thống địa phương. Tiêu biểu có các đề tài như: “Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện các nhóm giải pháp trong công tác phòng chống tham nhũng ở tỉnh Quảng Ngãi”; đề tài “Nghiên cứu hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên tỉnh Quảng Ngãi”; đề tài: “Phát huy vai trò của doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi”...

phuchoirangsanho.jpg
Nhiệm vụ “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng phục hồi rạn san hô khu vực biển ven bờ huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi”.​
(7) Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, lao động sáng tạo đạt kết quả tích cực. Hội thi sáng tạo kỹ thuật tổ chức 2 năm/lần và Cuộc thi sáng tạo trong thanh thiếu niên nhi đồng tổ chức hàng năm đã thu hút hàng trăm giải pháp của các tổ chức và cá nhân tham gia. Nhiều giải pháp đã đạt giải thưởng cao và đem lại kết quả thiết thực; tiêu biểu là Giải pháp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, lắp đặt bộ thu hồi ngoài và tháp ngưng tụ để tăng hiệu suất thu hồi đường của Công ty CP Đường Quảng Ngãi, đạt Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật lần thứ 8 đã làm lợi cho Công ty hơn 82,5 tỉ đồng; Giải pháp “Nâng cao độ tin cậy và tối ưu hóa vận hành Trạm giảm ôn giảm áp trong Nhà máy Lọc dầu Dung Quất” của Công ty THHH MTV Lọc Hóa dầu Bình Sơn, đạt giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật lần thứ 10 đã giúp duy trì Nhà máy Lọc dầu Bình Sơn vận hành an toàn, ổn định, nâng cao hiệu quả sản xuất và tiết kiệm chi phí hơn 12 tỷ đồng/năm.

(8) Công tác đầu tư, phát triển tiềm lực KHCN đã được quan tâm thực hiện; cơ sở vật chất và và nguồn nhân lực KH&CN tăng lên đáng kể. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng, sau ngày tái lập tỉnh hầu như không có gì đến nay, toàn tỉnh đã có 29 phòng thí nghiệm (PTN) chuyên ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau. Nhiều PTN đạt chứng nhận, chỉ định theo ngành, lĩnh vực hoạt động, góp phần phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước, nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp, nâng cao hoạt động nghiên cứu, đào tạo, góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà.

Nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh tăng lên rõ rệt qua các năm. Năm 1999, theo kết quả điều tra, số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 13.281 người, trong đó tiến sĩ có 06 người, thạc sĩ chuyên khoa I, chuyên khoa II của ngành y tế là 89 người, đại học 7.157 người. Đến thời điểm hiện nay, tính riêng khối Nhà nước và khối Đảng, Mặt trận, đoàn thể của toàn tỉnh về trình độ chuyên môn: Tiến sĩ và tương đương có 73 người, thạc sĩ và tương đương có 1.409 người, đại học 13.145 người, cao đẳng có 5.163 người, trung cấp 3.377 người.

(9) Công tác quản lý nhà nước về KH&CN ngày càng được đổi mới và hiệu quả hơn. Đã kịp thời tham mưu cấp ủy, chính quyền cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm, chính sách phát triển về KH&CN của Trung ương và Chính phủ vào điều kiện cụ thể của địa phương để tổ chức thực hiện đạt kết quả. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN từng bước được củng cố; hiệu lực, hiệu quả quản lý được nâng lên. Hoạt động KH&CN đã bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, tập trung phục vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN được đẩy mạnh. Công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được chú trọng. Việc huy động các nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân cho hoạt động KH&CN được quan tâm thực hiện. Công tác quản lý nhà nước về công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân được triển khai đồng bộ, hướng về cơ sở, phục vụ hiệu quả sản xuất kinh doanh. Công tác quản lý về tiêu chuẩn đo lường chất lượng được quan tâm thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, bảo đảm tiêu chuẩn, đo lường; hạn chế hàng giả, kém chất lượng, thiếu định lượng lưu thông trên địa bàn tỉnh. Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực KH&CN được tổ chức thực hiện nghiêm túc, xử lý kịp thời các đối tượng vi phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của tổ chức và người tiêu dùng.

thepdaidung.jpg
Công nhân trong giờ làm việc tại Xưởng cơ khí Công ty Cổ phần Kết cấu thép Đại Dũng Miền Trung.​
Có thể nói, 30 năm xây dựng và phát triển là chặng đường lưu dấu những thành tựu, cống hiến to lớn của đội ngũ trí thức, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã và đang làm việc trong ngành KH&CN của tỉnh trong suốt thời gian qua. Để có được những thành quả, những dấu ấn tốt đẹp đó, tập thể những người lao động trong ngành mãi mãi trân trọng, tri ân sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ; lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi; sự phối hợp, hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan Trung ương và các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố; các đơn vị, cá nhân, các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh; là kết quả của sự đoàn kết nỗ lực sáng tạo bền bỉ của tập thể lao động qua các thế hệ trong suốt 30 năm qua. Ghi nhận những thành tích đó, ngành KH&CN của tỉnh đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì; Chính phủ tặng 02 Cờ Thi đua; Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi tặng Cờ Thi đua và nhiều Bằng khen cho các tập thể và cá nhân.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, nhìn chung hoạt động KH&CN vẫn chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chưa có các đề tài, dự án có tính đột phá và sức lan tỏa rộng để tạo động lực, tác động mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động nghiên cứu phát triển chuyển giao ứng dụng KH&CN cấp cơ sở còn nhiều hạn chế. Tiềm lực KH&CN của tỉnh nói chung và các tổ chức khoa học hiện nay yếu; thiếu các chuyên gia giỏi, các nhà khoa học đầu ngành để dẫn dắt hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN. Nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN còn thấp, chưa đạt tỷ lệ theo quy định. Đa số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ và năng lực tài chính hạn chế, do đó việc huy động nguồn vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp và hình thành các chuỗi liên kết với hợp tác xã và nông dân còn nhiều khó khăn. Sự gắn kết giữa kế hoạch hoạt động của các ngành, các cấp đối với công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN chưa thường xuyên. Cơ chế quản lý KH&CN còn đang trong giai đoạn tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.

II. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG THỜI GIAN TỚI

Để tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được, khắc phục những hạn chế vừa qua, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, ngành khoa học và công nghệ của Tỉnh tiếp tục quán triệt triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KH&CN, mà cụ thể là tập trung triển khai thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu như sau:

- Tập trung triển khai thực hiện tốt các nội dung Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, hải đảo phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Triển khai nghiên cứu, ứng dụng KH&CN đồng bộ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ nông sản theo chuỗi liên kết để nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực, có lợi thế của tỉnh. Quan tâm hỗ trợ, tập huấn, hướng dẫn nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa nhanh tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nhất là xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Chú trọng việc tạo lập và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc thù mang thương hiệu của tỉnh Quảng Ngãi.

- Tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu ứng dụng KH&CN, làm chủ và đưa công nghệ mới vào sản xuất. Chú trọng thực hiện các nhiệm vụ trong Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Xây dựng và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh. Đa dạng hóa các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, nâng cao vai trò các trường đại học, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp trong các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng, tạo bước phát triển mới trong cộng đồng doanh nghiệp của tỉnh, góp phần  xây dựng Quảng Ngãi trở thành tỉnh công nghiệp, theo hướng hiện đại.

- Cùng với việc triển khai các hoạt động nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật, công nghệ để hiện đại hóa sản xuất, tập trung đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội và xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng con người Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội. Nghiên cứu đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề đặt ra về môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh, phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn.

  - Quan tâm xây dựng và phát triển tiềm lực KH&CN, đầu tư đồng bộ cả về cơ sở vật chất hạ tầng và nguồn nhân lực KH&CN. Đầu tư hạ tầng cho KH&CN là một nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; trước hết, tập trung đầu tư các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho nghiên cứu phát triển các sản phẩm chủ lực, có lợi thế của tỉnh. Đẩy mạnh hoạt động KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng; gắn nghiên cứu với chuyển giao ứng dụng công nghệ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức tốt Hội thi sáng tạo kỹ thuật 2 năm/lần và Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng hàng năm để phát huy trí tuệ, tinh thần sáng tạo, tiến công vào KH&CN của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

- Mở rộng hợp tác về KH&CN với các tổ chức KH&CN bên ngoài; tranh thủ sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh, thiết lập các kênh hợp tác phát triển KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, doanh nghiệp KH&CN trong tỉnh thực hiện hợp tác quốc tế về KH&CN, trao đổi thông tin, gửi cán bộ khoa học tham gia các chương trình đào tạo, nghiên cứu tại nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao.

- Tiếp tục nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN, nhất là cơ chế đầu tư. Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư cho KH&CN, nhất là nguồn lực ngoài ngân sách. Trong việc xác định nhiệm vụ KH&CN và phân bổ kinh phí phải chú trọng hiệu quả ứng dụng và huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội, xác định doanh nghiệp là lực lượng chính trong nghiên cứu, ứng dụng KH&CN và đổi mới sáng tạo. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan đề xuất đặt hàng nhiệm vụ KH&CN gắn với thực hiện các mục tiêu quy hoạch của ngành, địa phương; gắn trách nhiệm sử dụng kết quả nghiên cứu phục vụ nhu cầu của tổ chức, cá nhân với nhân rộng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

-  Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn, tập trung và hiệu quả. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực KH&CN đáp ứng quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tổ chức và người dân, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.

NGUYỄN VĂN THÀNH

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ

(Theo Bản tin KH&CN, số 03/2019)

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Thông tin cần biết
   
Thực hiện Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/72019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng và ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi tại Công văn số 3711/UBND-NC ngày 02/7/2019 về tăng cường các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ; Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi thông báo số điện thoại đường dây nóng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân liên quan đến các hoạt động thuộc thẩm quyền giải quyết của Khoa học và Công nghệ. Xem chi tiết Thông báo số 906/TB-SKHCN.pdf

 

   
Triển lãm Quốc tế chuyên ngành thiết bị và công nghệ nông – lâm ngư nghiệp – GROWTECH năm 2019 là sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế I.C.E, số 91 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, thời gian từ ngày 31/10/2019 đến ngày 01/11/2019 (3 ngày).

Triển lãm là nơi trưng bày giới thiệu các công nghệ và thiết bị, mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và là cơ hội để các tổ chức, cá nhân, cơ sở nông nghiệp được tiếp cận trực tiếp với công nghệ mới. Triển lãm cũng nhằm mục đích hỗ trợ thương mại hóa các sáng chế, kết quả nghiên cứu của các địa phương thông qua hoạt động quảng bá các sáng tạo công nghệ áp dụng và sản xuất nông nghiệp do tổ chức khoa học và Công nghệ, viện nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân sáng chế. Xem chi tiết tại đây: Công văn số 788/SKHCN_QLCN.pdf

 

   
​Ngày 22/5/2019 UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 705/QĐ-UBND Về việc thành lập Tổ công tác hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh​. Mời bạn đọc xem chi tiết: Quyết định số 705/QĐ- UBND.pdf
 

 

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy giao diện website thế nào. Ý kiến của bạn:

  Đẹp
  Xấu
  Bình thường

Bản quyền © 2013 thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Văn Thành - Giám đốc Sở
Điện thoại: 055.8556002
Địa chỉ: 202 - Đường Trường Chinh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.