Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 15646207
Đang online: 41
Đăng ngày: 27/12/2017
Quy định về quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hình sự, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân là một trong những phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam. Mà theo đó, khi giải quyết vụ án hình sự có sự tham gia của nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức. Cho nên, việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này là cơ sở để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, trật tự an toàn xã hội, phát huy vai trò của quần chúng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trên cơ sở này, BLTTHS quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể này: những việc được làm, những lợi ích được bảo vệ, những công việc phải thực hiện… Tuy nhiên, quá trình thực hiện có những bất cập, đó là: việc xác định tư cách người tham gia tố tụng của các Cơ quan, người tiến hành tố tụng còn nhiều vấn đề chưa có sự thống nhất về nhận thức phù hợp với quy định của BLTTHS; còn có quan điểm khác nhau về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng như của người bị hại, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khi họ đều là cá nhân.; xác định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng phải chăng có sự nhầm lẫn… BLTTHS năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung các vấn đề trên như sau:

1. Mở rộng diện người tham gia tố tụng (Điều 55)

BLTTHS năm 2003: quy định những người tham gia tố tụng gồm: người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người giám định; người phiên dịch.  Thì BLTTHS năm 2015: bổ sung 09 diện người tham gia tố tụng, gồm:

(1) Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

(2) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

(3) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

(4) Người bị bắt;

(5) Người chứng kiến;

(6) Người định giá tài sản;

(7) Người dịch thuật;

(8) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố;

(9) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội. Đồng thời, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng.

Trong 09 diện người nêu trên, có những người đã được quy định trong BLTTHS năm 2003, nhưng chỉ quy định ở các thủ tục tố tụng cụ thể nhưng thiếu quy định về quyền, nghĩa vụ của họ; có những người được bổ sung mới (như: người dịch thuật; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội) nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của người tham gia tố tụng hoặc đáp ứng sự thay đổi của Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung chế định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

2. Bổ sung quyền và quy định rõ hơn nghĩa vụ của người bị buộc tội (các điều 58, 59, 60 và 61)

LTTHS năm 2003: quy định quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng chưa đầy đủ. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo một số quyền sau đây:

(1) Được nhận các quyết định tố tụng liên quan đến mình;

(2) Đưa ra chứng cứ;

(3) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

(4) Có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

(5) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật;

(6) Bị can có quyền đọc, ghi chép bản sao hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội họ trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra theo quy định của Bộ luật này khi có yêu cầu;

(7) Bị cáo có quyền trực tiếp hỏi những người tham gia tố tụng nếu được Chủ tọa phiên tòa đồng ý;

(8) Một số quyền khác. Đồng thời, quy định rõ hơn nghĩa vụ của người bị buộc tội phải chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền.

3. Xác định đầy đủ diện của bị hại, bổ sung quyền và quy định rõ hơn nghĩa vụ của họ (Điều 62)

BLTTHS năm 2003: người bị hại chỉ là cá nhân. BLTTHS năm 2015 quy định bị hại gồm cá nhân bị thiệt hại và tổ chức bị thiệt hại. Đồng thời, bổ sung cho bị hại và người đại diện của họ các quyền:

(1) Được cơ quan tố tụng thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của họ;

(2) Đưa ra chứng cứ;

(3) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

(4) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá, người dịch thuật;

(5) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người tham gia phiên tòa và một số quyền khác. Quy định rõ hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của người bị hại: (1) Nghĩa vụ chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền; (2) Trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải.

4. Bổ sung quyền và quy định rõ hơn nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (các điều 63, 64 và 65)

BLTTHS năm 2003: có quy định nhưng chưa đầy đủ. BLTTHS năm 2015: bổ sung một số quyền như:

(1) Đưa ra chứng cứ;

(2) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

(3) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật;

(4) Được thông báo kết quả giải quyết vụ án;

(5) Đề nghị chủ tọa hỏi những người tham gia phiên tòa;

(6) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; Và một số quyền khác. Đồng thời, quy định rõ hơn nghĩa vụ của những chủ thể này phải chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền.

5. Sửa đổi các quy định liên quan đến người làm chứng (Điều 66)

BLTTHS năm 2003: trong giai đoạn xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, chưa phát sinh tư cách người làm chứng. BLTTHS năm 2015: quy định thời điểm người làm chứng tham gia tố tụng sớm hơn, kể từ khi cơ quan có thẩm quyền xác minh các nguồn tin về tội phạm. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập phải tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng./.

Đ.T.S

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Thông tin cần biết
  

​Thông báo lịch tiếp công dân công an huyện Trà Bồng​

Tải tại đây: QLVB_VTTH2018-08-13 (1)3.pdfQLVB_VTTH2018-08-13 (1)3.pdf

 

  

​Thông báo lịch tiếp công dân Công an huyện Mộ Đức​

Tải tại đây: QLVB_VTTH2018-08-13 (1)2.pdfQLVB_VTTH2018-08-13 (1)2.pdf

 

  

​Thông báo Lích tiếp công dân định kỳ Công an huyện Ba Tơ​

Tải tại đây: QLVB_VTTH2018-08-13 (1).pdfQLVB_VTTH2018-08-13 (1).pdf

 

  

Thông báo về việc tham gia giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng​​

Tải tại đây QLVB_VTTH2018-08-13 (2).pdfQLVB_VTTH2018-08-13 (2).pdf

 

  

Hiện nay, Trạm Cảnh sát giao thông Đức Phổ - Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh Quảng Ngãi đang tạm giữ 18 xe mô tô, xe gắn máy các loại vi phạm Luật Giao thông đường bộ (Có danh sách đính kèm theo).

Đến nay, số phương tiện nói trên đã quá thời hạn tạm giữ nhưng không có tổ chức, cá nhân đến xử lý hoặc có trường hợp đến nhưng không chứng minh được nguồn gốc và quyền sở hữu hợp pháp của phương tiện.

Xin thông báo ai là chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp các xe mô tô, xe gắn máy theo danh sách thì mang đầy đủ các loại giấy tờ liên quan chứng minh nguồn gốc hợp pháp của phương tiện đến Trạm Cảnh sát giao thông Đức Phổ - Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh Quảng Ngãi để liên hệ giải quyết theo quy định của pháp luật (Địa chỉ: Xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi).

Sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở tiếp công dân của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh Quảng Ngãi, nếu chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp không đến giải quyết, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh Quảng Ngãi sẽ làm thủ tục ra quyết định tịch thu, bán đấu giá sung công quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật. Mọi yêu cầu, khiếu nại về sau không được giải quyết./807PC67.pdf807PC67.pdf

 

  

Qua công tác tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ, Công an huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện và đang tạm giữ 21mô tô, xe máy vi phạm Luật giao thông đường bộ (có danh sách kèm theo).

Đến nay, số  xe trên đã quá thời hạn tạm giữ nhưng chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp không đến xử lý hoặc có trường hợp đến nhưng không chứng minh được nguồn gốc và quyền sở hữu hợp pháp của phương tiện.

Công an huyện Sơn Tịnh thông báo ai là chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp các xe mô tô, xe máy nêu trên mang đầy đủ các loại giấy tờ có liên quan chứng minh nguồn gốc hợp pháp của phương tiện đến tại Công an huyện Sơn Tịnh (qua Đội Cảnh sát giao thông - trật tự - cơ động) để liên hệ giải quyết.

Sau thời gian 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở Công an huyện, nếu chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp không đến để giải quyết, Công an huyện sẽ làm thủ tục và xử lý theo quy định của pháp luật. Mọi yêu cầu, khiếu nại về sau sẽ không được giải quyết.​

983STH.pdf983STH.pdf

 


Bản quyền © 2012 thuộc Công an tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Đại tá Huỳnh Thanh Tuyền - Trưởng phòng Tham mưu, Trưởng Ban biên tập
Điện thoại: 069.4306112
Địa chỉ: 174 Hùng Vương, P. Trần Phú, Tp. Quảng Ngãi.