Giới thiệu

Tin tức sự kiện

Hồ sơ ISO

Danh bạ

Các dân tộc thiểu số ở QN

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 699836
Đang online: 5
Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này như thế nào?

Đẹp  71%
Bình thường  43%
Xấu  29%
Đăng ngày: 24/10/2019
Quang cảnh Hội thảo tại Đăk Lắk

Ngày 28/5/2019, tại thành phố Buôn Mê Thuộc, tỉnh Đắk Lắk, Ủy ban Dân tộc phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội thảo Đề án Tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi giai đoạn 2021 – 2015, định hướng năm 2030. Chủ trì Hội thảo có ông Nông Quốc Tuấn và ông Y Thông, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; ông Y Giang Gry Niê Knơng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk. Tham dự Hội thảo còn có Lãnh đạo UBND các tỉnh Kom Tum, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước…


Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc ông Nông Quốc Tuấn nhấn mạnh: Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) và bảo đảm quốc phòng- an ninh, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vùng DTTS khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước và từ thực tiễn trong quá trình thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc để tiếp tục góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội của Đảng cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển. 

Xây dựng Đề án Tổng thể đầu tư phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2015, định hướng năm 2030 là vấn đề cấp thiết. Vì:

Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của vùng đồng bào DTTS và miền núi là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, KTXH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái

Nước ta có 53 dân tộc thiểu số với 14.118.232 người, gần 3 triệu hộ (chiếm 14,7% dân số cả nước), cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5266 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới (tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia). Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước.

Trong đó, Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Bình Định; có 14 huyện, thành phố (gồm 06 huyện miền núi là huyện Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long và huyện Ba Tơ; 06 huyện đồng bằng; 01 huyện đảo và 01 thành phố Quảng Ngãi); dân số 1.304.379 người. Trong đó, có 04 dân tộc chính là Kinh, Hrê, Co và Cadong. Đồng bào DTTS của tỉnh có 51.324 hộ với 194.369 khẩu, chiếm 14,90% dân số toàn tỉnh; sống tập trung chủ yếu khu vực miền núi, vùng cao của tỉnh. Đây là vùng có địa hình phức tạp, nhiều đồi núi cao hiểm trở, là địa bàn xung yếu cả về kinh tế và an ninh quốc phòng, là vùng căn cứ cách mạng của tỉnh trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có những phong tục tập quán riêng đã tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh có truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó và một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ; kiên cường, anh dũng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đã làm nên các cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi mở đầu cho phong trào đồng khởi ở miền Nam, góp phần viết nên những trang sử hào hùng, vẻ vang của quê hương Quảng Ngãi và dân tộc Việt Nam.

Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự phấn đấu vươn lên của đồng bào các DTTS; vùng DTTS và miền núi của tỉnh đang từng ngày được thay đổi; KTXH tiếp tục phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân từng bước được nâng lên; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục duy trì ổn định. Tuy nhiên, vùng đồng bào DTTS và miền núi của tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao: đến cuối năm 2018 hộ nghèo, cận nghèo toàn tỉnh có 33.381 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 9,39%); trong đó hộ nghèo DTTS là 18.228 hộ (chiếm tỷ lệ 54,61%). Riêng, 06 huyện miền núi là vùng sinh sống chủ yếu của đồng bào DTTS có 19.633 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 31,44%). 

Vì vậy, vùng đồng bào DTTS và miền núi của tỉnh Quảng Ngãi cần tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm ưu tiên đầu tư.

2A2_Đại biểu psdsddhát biểu.jpg 
Lãnh đạo các tỉnh phát biểu

Xuất phát từ thực trạng KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi là vùng có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, KT-XH phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất. 

Vùng đồng bào DTTS và miền núi có 5.266 xã, trong đó có 1.957 xã khu vực III và 20.139 thôn, bản ngoài xã khu vực III thuộc diện đặc biệt khó khăn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tỷ trọng lao động vùng đồng bào DTTS và miền núi làm việc trong khu vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao (hơn 80%), cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển KTXH.

Đồng bào các DTTS được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức rất thấp so với bình quân chung cả nước: còn hơn 21% người DTTS trên 15 tuổi chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt; khoảng 30% học sinh DTTS chưa được đi học đúng độ tuổi; Mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế còn nhiều khó khăn, tỷ lệ được cấp thẻ BHYT cao nhưng tỷ lệ khám, chữa bệnh còn thấp, tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám định kỳ mới đạt 71%, tỷ lệ sinh con tại nhà là 36,3%, trẻ em suy dinh dưỡng là 32%; gần 1/3 số hộ DTTS chưa được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh; hơn 15,3% số hộ gia đình người DTTS ở nhà tạm, đặc biệt có 14 dân tộc có tỷ lệ nhà ở tạm gần 50%; 2/3 số hộ DTTS chưa có nhà xí hợp vệ sinh.

Vùng đồng bào DTTS và miền núi đã và đang là “lõi nghèo của cả nước”: Thu nhập bình quân của hộ đồng bào DTTS ở nhiều nơi chỉ bằng 40-50% bình quân thu nhập trong khu vực; tỷ lệ dân số DTTS chiếm 14,7% nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm 55,27% tổng số hộ nghèo của cả nước. Hiện có 9 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo người DTTS chiếm trên 90%; 4 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 70% - 90%. Một số nhóm DTTS có tỷ lệ hộ nghèo đang ở mức rất cao lên đến 70 - 80% như: Ơ Đu, Co, Khơ Mú, Xinh Mun, La Ha, Kháng, Mông và Xơ Đăng...

Xuất phát từ thực trạng nhiều đầu mối xây dựng quản lý, theo dõi chính sách; nguồn lực phân tán, dàn trải, chưa phân định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, đòi hỏi phải đổi mới chính sách đầu tư phát triển KT-XH cho vùng đồng bào DTTS và miền núi

Theo quy định tại Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, hiện nay có rất nhiều Bộ, ngành cùng tham gia xây dựng, quản lý, theo dõi chính sách ở vùng đồng bào DTTS và miền núi. Điều này dẫn đến đa số các chính sách được xây dựng và thực hiện theo yêu cầu, trách nhiệm của từng Bộ, ngành, thiếu sự điều phối chung, từ đó tạo ra sự trùng lặp, phân tán, thiếu kết nối giữa các chính sách. 

Đồng bào các DTTS sinh sống ở những địa phương nghèo, chủ yếu nhận hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, nên khó có thể lồng ghép các chương trình, dự án để thực hiện chính sách dân tộc, trong khi đó ngân sách Trung ương chưa bố trí đủ được nguồn vốn riêng để thực hiện chính sách. Do vậy, tuy có nhiều chính sách nhưng thiếu nguồn lực thực hiện, nên không đạt được mục tiêu đã đề ra.

Xuất phát từ yêu cầu thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững và Mục tiêu Thiên niên kỷ đối với đồng bào DTTS gắn với mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2015 

Mục tiêu thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững ghi rõ: “Duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm mọi người dân được phát huy mọi tiềm năng, tham gia và thụ hưởng bình đẳng thành quả của phát triển; xây dựng một xã hội Việt Nam hòa bình, thịnh vượng, bao trùm, dân chủ, công bằng, văn minh và bền vững”. Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát này, nước ta đã xác định 17 mục tiêu cụ thể, trong đó có 15/17 mục tiêu có liên quan đến vùng đồng bào DTTS và miền núi.

3A3_Ô_Tuấn kết luậsfdfn Hội thảo.jpg 
Thứ trưởng, PCN UBDT ông Nông Quốc Tuấn kết luận Hội thảo

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, việc xây dựng Đề án Tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi, xác định mục tiêu cụ thể, giải pháp đột phá để thúc đẩy phát triển toàn diện vùng này, thu hẹp dần khoảng cách với các vùng phát triển là yêu cầu bức thiết và khách quan cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện để Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết thực hiện./.

                                                                                               Hoài Châu


 

Tin đã đưa

Xem tin theo ngày tháng

NgàyTháng Năm
Thông tin cần biết
   

​Đề cương và phụ lục báo cáo năm 2019: CV gui huyen.docxCV gui huyen.docx 

 

   

Rà soát, xác định thôn ĐBKK mới sáp nhập​

ra soat xa thon DBKK(y).docxra soat xa thon DBKK(y).docx

 

   

​Kết quả rà soát xã, thôn hoàn thành Chương trình 135 ​Ket qua ra soat xa thon hoan thanh 135.rarKet qua ra soat xa thon hoan thanh 135.rar

 

   

​Phiếu yêu cầu cung cấp số liệu cho Kiểm toán​ Phu bieu - yeu cau cung cap so lieu Kiem toan.xlsPhu bieu - yeu cau cung cap so lieu Kiem toan.xls

 

 

   

Mẫu biểu báo cáo thống kê công tác dân tộc:PL kem CV.docxPL kem CV.docx

 


Bản quyền © 2014 thuộc Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Chịu trách nhiệm nội dung: Bùi Đức Chánh - Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi
Di động: 0913.470.148 - Địa chỉ: 64 Phạm Văn Đồng, TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi