QUẢNG NGÃI
- quê hương của nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng - là một
mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, đoàn kết, lao động cần
cù, sáng tạo. Tiếp xúc với tiến trình phát triển của đất Quảng Ngãi theo
suốt chiều dài lịch sử, người ta không khỏi ngạc nhiên bởi những đóng
góp của mảnh đất này vào sự phát triển kinh tế xã hội - văn hóa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nơi đây các nhà khảo cổ học đã tìm được nhiều hiện vật về thời kỳ đồ
đá, chứng tỏ mảnh đất này từng có con người sinh tụ và đã có sự hiện
diện của một nền văn minh từ thời thượng cổ. Quảng Ngãi là nơi phát hiện
đầu tiên, cũng là cái nôi của nền văn minh - văn hóa Sa Huỳnh, có niên
đại cách nay 2.500 - 3.000 năm, với những di chỉ hết sức phong phú ở Sa
Huỳnh, Thạnh Đức, Lý Sơn. Kế tiếp Văn hóa Sa Huỳnh là Văn hóa Chămpa với
kiến trúc thành Châu Sa, tháp Chánh Lộ quy mô, bề thế, mang một phong
cách riêng, cùng nhiều di chỉ, di tích khác có niên đại cách đây hàng
ngàn năm. Kế sau Chămpa, văn hóa Việt trở thành dòng chủ đạo của nền văn hóa đa
dân tộc, tiếp tục phát triển từ thế kỷ XV trở về sau. Trong sự giao
thoa, chuyển tiếp với Văn hóa Chămpa, sự giao lưu văn hóa với các dân
tộc anh em bản địa miền núi là các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong, pha trộn
với người Hoa và một số dân tộc khác, đã nhào nặn nơi đất này một sắc
thái văn hóa khá độc đáo, góp phần làm phong phú cho nền văn hóa các dân
tộc Việt Nam. Trải qua những thời kỳ lịch sử lâu dài, lam sơn chướng khí bị đẩy
lùi, hình thành nên làng mạc, ruộng đồng, kênh mương, nhà cửa, cây đa,
bến nước, đình làng, thành quách, phố xá, nơi lưu dấu biết bao mồ hôi,
xương máu, nước mắt và nụ cười của lớp lớp thế hệ chủ nhân đất Quảng
Ngãi. Các dân tộc ở Quảng Ngãi là người dân Việt Nam, mang đặc tính chung
của người Việt Nam và với sự nỗ lực của mình, người Quảng Ngãi đã góp
phần tô đậm những nét đẹp quý báu của người Việt Nam. Qua thử thách
trong môi trường tự nhiên và xã hội khắc nghiệt, người Quảng Ngãi đã rèn
đúc cho mình thêm sự cứng cỏi, dẻo dai, không chỉ có sức chịu đựng mà
còn đủ ý chí, nghị lực, sức sáng tạo để cải biến tự nhiên, xây dựng xã
hội ngày càng tốt đẹp hơn. Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ
XVIII, cùng với Bình Định, Quảng Ngãi cũng được xem là cái nôi của phong
trào nông dân Tây Sơn ngay từ khi nó mới khởi phát và sau đó đã có những
đóng góp không nhỏ vào các cuộc chống ngoại xâm của dân tộc, tạo lập nên
các chiến công oanh liệt đánh tan quân Xiêm, đại phá quân Thanh. Quảng
Ngãi là quê hương của Trần Quang Diệu, Trương Đăng Đồ và nhiều vị văn
thần, võ tướng khác của nhà Tây Sơn. Thời Pháp khởi sự xâm lược Việt
Nam, Quảng Ngãi có Hộ đốc Võ Duy Ninh là vị chỉ huy cao cấp đầu tiên của
triều đình Huế tử tiết vì thành Gia Định (1859); tiếp sau có Bình Tây
Đại nguyên soái Trương Định trở thành một thủ lĩnh nghĩa quân Nam Kỳ
chống Pháp. Sau ngày Kinh đô Huế thất thủ (1885), Quảng Ngãi là nơi phất
cờ khởi nghĩa Cần vương chống Pháp đầu tiên ở Nam Trung Kỳ, dưới sự lãnh
đạo của Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân và mặc dù bị kẻ địch dìm trong bể
máu, phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi vẫn liên tục tồn tại hàng chục
năm sau. Đầu thế kỷ XX, Quảng Ngãi ghi dấu vào lịch sử Việt Nam bằng
những hoạt động mạnh mẽ, tích cực của Duy tân Hội, với các chí sĩ yêu
nước Lê Đình Cẩn, Nguyễn Bá Loan, Lê Tựu Khiết… đặc biệt là phong trào
cự sưu, khất thuế rầm rộ, có tiếng vang trong khắp cả nước thời bấy giờ.
Mặc dù bị kẻ địch đàn áp khốc liệt, nhiều nhà yêu nước và quần chúng bị
địch giết hại, tù đày nhưng phong trào yêu nước ở Quảng Ngãi vẫn được
tiếp nối với Việt Nam Quang phục Hội, xuất hiện hàng loạt chí sĩ, như Lê
Ngung, Nguyễn Thụy, Phạm Cao Chẩm... trong cuộc khởi nghĩa bất thành năm
1916. Các phong trào, hoạt động yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
tuy bị đàn áp đẫm máu, khốc liệt, nhưng lòng yêu nước của người dân
Quảng Ngãi không vì thế mà bị dập tắt, nguội lạnh; ngược lại, nó đã liên
tục bùng lên mạnh mẽ, nhất là sau khi Ðảng Cộng sản Việt Nam rồi Đảng bộ
tỉnh Quảng Ngãi được thành lập. Tiếng trống Đức Phổ vang động ngay từ
năm 1930 đã lan ra toàn tỉnh. Người Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ngãi là đồng chí Nguyễn Nghiêm hy sinh, nhưng cuộc đấu tranh cách
mạng giải phóng dân tộc vẫn tiếp tục phát triển. Nhiều cán bộ Quảng Ngãi
cũng góp sức cho phong trào cách mạng ở các tỉnh bạn, nhất là các tỉnh
Nam Trung Kỳ. Nhiều chiến sĩ cộng sản xuất hiện như những tấm gương sáng
ngời trong đấu tranh cách mạng. Quảng Ngãi là nơi bùng nổ của Khởi nghĩa
Ba Tơ và thành lập Đội du kích Ba Tơ - tiền thân của lực lượng vũ trang
Liên khu V. Trong Cách mạng tháng Tám, Quảng Ngãi là nơi diễn ra cuộc
Tổng khởi nghĩa sớm trong cả nước (14.8.1945) và trở thành cái nôi của
vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Quảng Ngãi có những sự kiện quan trọng như cuộc Khởi
nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8.1959, Chiến thắng Ba Gia
31.5.1965, Chiến thắng Vạn Tường 18.8.1965, đánh dấu được những chiến
công huy hoàng; đồng thời, Quảng Ngãi cũng là nơi chịu nhiều đau thương
mất mát, điển hình là vụ thảm sát Sơn Mỹ 16.3.1968, làm chấn động dư
luận thế giới và lương tâm loài người. Trải qua các cuộc chiến tranh
vệ quốc, Quảng Ngãi đã xuất hiện biết bao tấm gương hy sinh vì nước, rèn
đúc được nhiều nhà lãnh đạo, nhiều vị tướng lĩnh tài ba thao lược, như
Nguyễn Chánh, Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, Trần Quý Hai, Trần Nam Trung,
Nguyễn Đôn… và nổi bật là đồng chí Phạm Văn Đồng, người hiến dâng cả
cuộc đời cho cách mạng và để lại dấu ấn sâu đậm trong sự nghiệp cách
mạng Việt Nam trong suốt nhiều thập niên của thế kỷ XX. Quảng Ngãi không chỉ nổi bật ở
truyền thống yêu nước và cách mạng, mảnh đất này còn nổi bật ở truyền
thống lao động sáng tạo, truyền thống văn hóa, tinh thần hiếu học. Từ nhiều thế kỷ trước, hàng
trăm guồng xe nước trên sông Trà Khúc và sông Vệ đã được xây dựng kỳ vĩ
giữa non sông, khiến khách qua đây không khỏi ngạc nhiên, khâm phục và
liên tưởng đến hình ảnh của sự nhẫn nại, đức cần cù và tiềm năng sáng
tạo lớn lao của người dân miền Ấn - Trà. Từ một vùng quê nhiều giông
bão, lũ lụt, hạn hán, bằng bàn tay và khối óc của mình, con người nơi
đây đã cải biến cả vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt này thành nơi đất
lành. Sản vật của tự nhiên qua bàn tay con người đã trở thành những món
ăn đậm phong vị quê hương. Từ loài cá bống, cá thài bai nhỏ nhoi trên
sông Trà mà khiến người nơi xa phải nhớ. Từ loài nhuyễn thể vùng nước lợ
mà thành món don đậm hương quê nhà. Quảng Ngãi còn nổi tiếng là xứ sở
mía đường, là nơi sản xuất đường phèn, đường phổi, kẹo gương, mạch nha
và rất nhiều món ăn đặc sản khác. Ở miền núi thì có ốc đá, cá niêng, có
rượu đót, rượu cần. Ở hải đảo thì có hải sâm và nhiều loài hải sản mặn
mà vị biển. Đồng bằng có vị ngọt của mía thì miền núi có vị thơm nồng
của quế Trà Bồng, vị thơm cay của cau Sơn Hà, Sơn Tây, vị ngọt chát của
chè Minh Long, vị ngọt lịm của dứa Ba Tơ. Vượt lên những lo toan cơm áo
hằng ngày, người Quảng Ngãi biết tạo dựng nhà rường, nhà lá mái ở miền
xuôi, nhà sàn ở miền núi. Những câu ca dao, điệu hò, điệu lý, hát bả
trạo, sắc bùa, bài chòi ở miền xuôi; những khúc dân ca, dân nhạc miền
núi; những lễ hội… cùng tạo cho cuộc sống người dân đất này thêm phần
đáng yêu và mang nhiều dáng nét riêng. Quảng Ngãi là nơi sinh thành của
một số nhà thơ, của các nghệ sĩ lớn của đất nước. Quảng Ngãi nổi tiếng
là đất học từ xưa với nhiều nhà khoa bảng Nho học, sang thời kỳ Tân học
và nền giáo dục cách mạng càng nổi lên truyền thống hiếu học với nhiều
người học giỏi, nhiều người trở thành những nhà học thuật nổi tiếng
trong nước. Từ sau khi đất nước hòa bình,
thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là từ sau khi Đảng Cộng sản
Việt Sự phát triển sinh động, phong phú về nhiều mặt của Quảng Ngãi trong
sự phát triển chung của đất nước là thuận lợi rất lớn nhưng đồng thời tự
thân nó cũng là một thử thách không nhỏ đối với người nghiên cứu. Vấn đề
đầu tiên mà những người thực hiện tự hỏi là mình nghiên cứu như thế là
đã đúng, đầy đủ, tương xứng, phù hợp với hiện thực của Quảng Ngãi trong
quá khứ và hiện tại hay chưa? Đây lại là công trình địa chí Quảng Ngãi
đầu tiên kể từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Hiểu được những khó khăn
ấy, để các nhà nghiên cứu thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, Hội đồng Biên
soạn công trình đã bàn bạc, đề ra nhiều giải pháp, biện pháp thực hiện
đúng định hướng và có hiệu quả theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Hội đồng đã mời Phó Giáo sư Trần Nghĩa, Giáo sư Phan Ngọc Liên làm cố
vấn chuyên môn và giúp chỉnh biên toàn bộ công trình; đã mời các nhà
nghiên cứu, các cán bộ có chuyên môn vững trong tỉnh và trong nước hình
thành các tổ tham gia nghiên cứu, biên soạn các phần của công trình. Một
khối lượng công việc rất lớn, nhưng quỹ thời gian và điều kiện lại rất
có hạn. Trong hai năm 2004 - 2005, những người thực hiện đã làm việc cật
lực để công trình hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng. Cho đến
cuối năm 2005, công trình đã cơ bản hoàn thành khối lượng như kế hoạch
đề ra, kịp ra mắt chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ
XVII. "Địa chí Quảng Ngãi" là một công trình khoa học lớn của tỉnh nhà, với
rất nhiều nội dung, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với loại công
trình như thế này, bản thân những người nghiên cứu dù đã hết sức cố gắng
vẫn không dám quả quyết rằng mọi thứ đều đã tốt đẹp. Dù đã nghiên cứu
nghiêm túc, nhưng cho đến sau khi xuất bản, công trình vẫn rất cần sự
chỉnh sửa, bổ khuyết, rất cần sự đóng góp chân thành của độc giả để ngày
càng tiến đến hoàn thiện. Thay mặt Hội đồng Biên soạn công trình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
Ban Chỉ đạo công trình, cảm ơn các cơ quan, đơn vị, cá nhân, địa phương
đã hết sức giúp đỡ, đặc biệt cảm ơn các nhà nghiên cứu đã không quản
gian khó, đem hết tâm lực của mình để công trình đạt kết quả cao nhất.
TS. NGUYỄN KIM HIỆU
Chủ tịch Hội đồng Biên soạn
|