THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI VÀ CÁC HUYỆN TRONG TỈNH
  ----------------------------------------------------------------------------
 

HUYỆN BA TƠ

BA TƠ một trong sáu huyện miền núi, nằm về phía tây nam của tỉnh Quảng Ngãi. Phía bắc giáp các huyện Minh Long, Sơn Hà; phía đông bắc giáp huyện Nghĩa Hành; phía đông giáp huyện Đức Phổ; phía nam và đông nam giáp huyện An Lão của tỉnh Bình Định; phía phía tây và tây nam giáp huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum và huyện K’Bang của tỉnh Gia Lai. Diện tích 1.132,54km2. Dân số 48.499 người (năm 2005). Mật độ dân số 42,8 người/km2 (1). Đơn vị hành chính trực thuộc gồm 18 xã (Ba Thành, Ba Liên, Ba Cung, Ba Điền, Ba Vinh, Ba Chùa, Ba Dinh, Ba Tô, Ba Nam, Ba Bích, Ba Lế, Ba Vì, Ba Trang, Ba Tiêu, Ba Ngạc, Ba Xa, Ba Khâm, Ba Động) và 1 thị trấn (Ba Tơ huyện lị, vốn là xã Ba Đình), với 99 thôn, 6 tổ dân phố; trong đó:

Xã Ba Động có 7 thôn: Suối Loa, Nam Lân, Hóc Kè, Tân Long Hạ, Tân Long Trung, Tân Long Thượng, Bắc Lân;

Xã Ba Thành có 4 thôn: Làng Teng, Trường An - Hóc Kè, Huy Ba 1, Huy Ba 2;

Xã Ba Liên có 3 thôn: Hương Chiêng, Đá Chát, Núi Ngang;

Xã Ba Cung có 5 thôn: Gò Loa - Ma Nghít, Gò Rét - Đồng Xòa, Con Cua - Đồng Dâu, Dốc Mốc 2, Dốc Mốc - Làng Giấy;

Xã Ba Điền có 4 thôn: Hy Long, Gò Nghênh, Làng Rêu, Làng Tương;

Xã Ba Vinh có 12 thôn: thôn 1 Nước Nẻ, thôn 2 Nước Nẻ, thôn 3 Nước Nẻ, thôn 4 Nước Nẻ, thôn 5 Nước Nẻ, thôn 6 Nước Lá, thôn 7 Nước Lá, thôn 8 Nước Lá, thôn 9 Nước Lá, thôn 10 Nước Gia, thôn 11 Nước Gia, thôn 12 Nước Gia;

Xã Ba Chùa có 3 thôn: Gò Ghềnh, Đồng Chùa, Nước Trinh;

Xã Ba Dinh có 9 thôn: Gò Khôn, Ba Nhà, Nước Lô, Cà La, Nước Tiêu, Đồng Dinh, Gò Lệ, Nước Lang, Làng Măng;

Xã Ba Tô có 7 thôn: Mang Lùng 1, Mang Lùng 2, Trà Nô, Rộc Măng, Làng Xi, Mô Lang;

Xã Ba Nam có 4 thôn: Làng Vờ, Xã Râu, Xã Làng Dút, Làng Ri;

Xã Ba Bích có 5 thôn: Con Rã, Làng Mâm, Đồng Tiên, Nước Đang, Đồng Vào;

Xã Ba Lế có 6 thôn: Vã Lếch, Bãi Lế, Đồng Lâu, Mang Krúi, Gọi Lế, Vã Tia;

Xã Ba Vì có 6 thôn: Gò Vanh, Gò Năng, Nước Xiên, Mang Đăng, Nước Ui, Giá Vụt;

Xã Ba Trang có 3 thôn: Con Riêng, Nước Đang, Con Dóc;

Xã Ba Tiêu có 4 thôn: Mang Biều, Cà Rầy, Nước Tỉa, Làng Trui;

Xã Ba Ngạc có 5 thôn: Ka Rên, Ba Lăng, Tà Noót, Nước Lầy, A Mé;

Xã Ba Xa có 7 thôn: Gọi Re, Mang Krá, Nước Nhủ, Ba Hà, Nước Lăng, Nước Chạch, Mang Mu;

Xã Ba Khâm có 2 thôn: Đồng Răm, Nước Giáp;

Thị trấn Ba Tơ có 6 tổ dân phố, tên gọi theo thứ tự từ tổ 1 đến tổ 6, với 20 khu dân cư.

Ba Tơ là vùng đất có truyền thống cách mạng kiên cường, là nơi nổ ra cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ lịch sử ngày 11.3.1945, là nơi sinh thành Đội du kích Ba Tơ thời tiền khởi nghĩa. Trải qua hai cuộc kháng chiến, quân và dân Ba Tơ đã lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Ba Tơ là vùng đất có địa hình nhiều sông suối, núi non hiểm trở, dân cư thưa thớt. Hơn 70% dân số sống bằng nghề nông. Đời sống của nhân dân vốn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc trong huyện, nền kinh tế có những chuyển động theo hướng tích cực, khởi sắc. Đặc biệt, các thiết chế cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựng đều khắp, trong đó nổi bật là huyện lỵ Ba Tơ. Các thôn xã đều có điện, nhiều công trình thuỷ lợi, đường sá, cầu cống, trường học được xây dựng. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo được thế ổn định bền vững của căn cứ địa cách mạng.

*
*          *

Về hành chính: Ba Tơ xưa kia có tên là nguồn An Ba, sau mới có tên là nguồn Ba Tơ, một trong bốn "nguồn" của miền núi Quảng Ngãi.

Năm Thành Thái thứ 11 (1899), vùng đất này thuộc châu Đức Phổ gồm 4 tổng: Phổ An, Phổ Thuận, Phổ Thành, Phổ Triêm (châu là tên gọi chung cho các huyện miền núi).

Năm Thành Thái thứ 13 (1901), chính quyền thực dân phong kiến đổi châu Đức Phổ làm đồn Ba Tơ. Đồn Ba Tơ gồm 3 tổng: Phổ An, Phổ Thuận, Phổ Thành.

Năm 1915, đồn Ba Tơ có 5 tổng, gồm 61 sách (sách là tên mà chính quyền thực dân phong kiến gọi các làng miền núi).

Năm Khải Định thứ 8 (1923) đồn Ba Tơ có 6 tổng: Phổ An, Phổ Thuận, Phổ Hành, Phổ Triêm, Thuận Hành, Hóa Thành, gồm 63 sách. Sau đó, đồn Ba Tơ lại được gọi là châu Ba Tơ.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các đơn vị hành chính huyện, châu được gọi là huyện, châu Ba Tơ được gọi là huyện Ba Tơ.

Trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Ba Tơ có 26 xã được sáp nhập từ nhiều làng nhỏ. Các xã đều bắt đầu bằng chữ "Ba": Ba Vì, Ba Tiêu, Ba Xa, Ba Tô, Ba Ngạc, Ba Lế, Ba Điền, Ba Sơn, Ba Lang, Ba Gia, Ba Lãnh, Ba Tăng, Ba Động, Ba Đình, Ba Liên, Ba Bích, Ba Chùa, Ba Chung, Ba Dinh, Ba Lâm, Ba Dung, Ba Chi, Ba Lục, Ba Trang, Ba Lương, Ba Khâm.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chính quyền Sài Gòn đổi huyện Ba Tơ thành quận Ba Tơ có 7 xã, với bộ máy hành chính - quân sự do quận trưởng đứng đầu.

Về phía kháng chiến, vẫn sử dụng tên gọi và các đơn vị hành chính giống như thời chống Pháp. Có thời gian cắt các xã dọc sông Rhe thuộc huyện Ba Tơ là Ba Lế, Ba Xa, Ba Vì, Ba Tô, Ba Chi, Ba Tiêu, Ba Ngạc cùng với hai xã của huyện Sơn Hà là Sơn Ba, Sơn Kỳ để thành lập khu VI, sau gọi là huyện Sông Rhe.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, huyện Ba Tơ trở lại ranh giới cũ thời kháng chiến chống Pháp. Trải qua nhiều biến đổi về hành chính, đến nay huyện Ba Tơ có 18 xã, thị trấn (như đã kể ở trên).

Về tự nhiên: Ba Tơ là một huyện miền núi rộng nhất trong tất cả các huyện tỉnh Quảng Ngãi, chiếm hơn 1/5 diện tích toàn tỉnh. Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng và vực sông xen kẽ. Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh như núi Cao Muôn, là một trong những ngọn núi cao của tỉnh Quảng Ngãi, núi liền chân với các dãy núi ở các huyện Sơn Hà, Minh Long với dãy Ngọc Linh nổi tiếng của tỉnh Kon Tum, nó cũng liền chân với núi Lớn hay núi Dầu Rái của huyện Mộ Đức; núi Ba Huyện (nằm giữa ba huyện Ba Tơ, Nghĩa HànhĐức Phổ). Núi ở Ba Tơ còn tạo nên nhiều đèo dốc gây khó khăn cho giao thông đi lại. Riêng Quốc lộ 24, từ ngã ba Thạch Trụ đi lên có các đèo: đèo Đá Chát, Đèo Lâm, Dốc Mốc, đến giáp huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) có đèo Viôlắk khá hiểm trở, dài hàng chục cây số.

Sông suối: Sông suối ở Ba Tơ khá nhiều, có 3 con sông lớn là sông Rhe, sông Liên, sông Vực Liêm là thượng nguồn của các con sông lớn ở Quảng Ngãi: sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Trà Câu.

Sông Rhe: là thượng nguồn của sông Trà Khúc, bắt nguồn từ vùng núi tây nam Ba Tơ chảy theo hướng bắc, qua các xã Ba Xa, Ba Vì, Ba Ngạc đến địa hạt Sơn Hà, hợp với các con sông khác chảy về sông Trà Khúc. Sông Rhe dài khoảng 60km (đoạn chảy qua Ba Tơ dài khoảng 30km), quanh co khúc khuỷu, chia cắt bạo liệt, tạo thành các vực sông sâu dưới lòng các thung lũng.

Sông Liên: là thượng nguồn của sông Vệ, bắt nguồn từ vùng núi Giá Vụt, chảy qua thị trấn Ba Tơ, đến gần chân núi Cao Muôn thì chảy về hướng đông bắc. Khúc sông Liên ở Ba Tơ dài khoảng 30km.

Sông Vực Liêm: bắt nguồn từ vùng Bàn Thạch, Hồng Thuyền, vực Liêm, xã Ba Trang, chảy thẳng về hướng đông, là thượng nguồn của sông Trà Câu, sông chảy qua các xã phía bắc huyện Đức Phổ trước khi đổ ra cửa biển Mỹ Á.

Đất bằng thung lũng: Khác với một số huyện miền núi khác trong tỉnh Quảng Ngãi, Ba Tơ có nhiều "nà" đất chạy dọc theo các thung lũng sông khá thoáng rộng, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thường được khai thác làm lúa nước, ruộng bậc thang.

Khí hậu: Ba Tơ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa mưa nắng rõ rệt, có 2 mùa gió chính là gió mùa đông và gió mùa hè. Từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau hướng gió chính là bắc đến đông bắc, tuy nhiên trong thời kỳ này hướng gió tây và tây nam cũng xuất hiện với tần suất khá cao; từ tháng 4 đến tháng 9 là tây nam. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 01 năm sau.

Tài liệu đặc điểm khí hậu thủy văn tỉnh Quảng Ngãi năm 2002 cho biết: tốc độ gió trung bình hàng năm là 1,2m/s, tốc độ gió trong bão, lốc khoảng 40m/s. Ba Tơ là vùng có lượng mưa khá lớn. Số giờ nắng 2.034 giờ/năm; tổng bức xạ năm là 136,2 kcal/cm2; biên độ nhiệt độ trung bình ngày và đêm 8,8oC. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,3oC, nhiệt độ trung bình tháng 1 là 21,4oC, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27,9oC.

Tài nguyên: Rừng Ba Tơ có nhiều lâm thổ sản và dược liệu quý như sa nhân, hà thủ ô, ngũ gia bì, trầm hương, mật ong; có nhiều gỗ quý như lim, sao, dổi, trắc, chò, kiền kiền, mun, queng. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Huế năm 2000 thì ở Ba Tơ có 469 loài thực vật, trong đó có 43 loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam (1992). Hiện nay, rừng Ba Tơ còn nhiều loại gỗ tốt như huỳnh đàn giả, thông nàng, chò nâu, cà ổi. Rừng Ba Tơ còn có nhiều động vật phong phú, đa dạng như hổ, nai, lợn rừng, chồn hương, nhím, chim công, chim chả, gà rừng. Hiện nay, rừng Ba Tơ còn tồn tại một số loại động vật quý hiếm như khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, gấu ngựa, báo hoa mai, gà lôi lam, trĩ sao, rắn hổ mang, rùa hộp vàng.

Về dân cư: Cư dân Ba Tơ chủ yếu là người Hrê và người Kinh. Trong số dân gần 48.500 người ở Ba Tơ năm 2005, có trên 41.000 người Hrê và gần 7.500 người Kinh.

Người Hrê cư trú lâu đời ở Ba Tơ và thường được gọi là Hrê "ngọn" (ngọn nguồn), thuộc nhóm ngữ hệ Môn - Khơme. Người Hrê sống thành từng làng thôn, từ vài chục đến vài trăm nóc nhà, quần tụ dưới chân núi hoặc sườn núi - nơi có các cánh đồng, ruộng bậc thang hoặc đất bằng phẳng trải dài dọc triền sông. Hình thái kinh tế chủ yếu là sản xuất lúa nước kết hợp với kinh tế nương rẫy. Bên cạnh đó, người Hrê còn săn bắn, hái lượm, đánh cá.

Trong quá trình phát triển, bên cạnh nét văn hóa chung với các dân tộc anh em ở miền tây Quảng Ngãi, người Hrê ở Ba Tơ vẫn bảo lưu được vốn văn hóa cổ truyền giàu bản sắc của dân tộc mình như: các lễ hội, văn nghệ dân gian, nhà sàn, nghề dệt thổ cẩm, trang sức, trang phục truyền thống.

Người Kinh cư trú ở Ba Tơ khá lâu, rải rác ở khắp các xã, nhưng đông nhất là ở thị trấn Ba Tơ (2.680 người) và các xã Ba Động (2.413 người), Ba Vì (995 người), Ba Dinh (538 người). Người Kinh giỏi làm lúa nước, giỏi buôn bán, tụ cư ở những vùng thấp, nơi có những cánh đồng, thị trấn, dọc trục lộ chính (Quốc lộ 24) và thị tứ Ba Động, Ba Vì. Văn hóa của người Kinh ở Ba Tơ là văn hóa chung của dân tộc Việt, có giao thoa, giao lưu với văn hóa Hrê.

Ba Tơ là huyện có mật độ dân số thấp so với các huyện miền núi Quảng Ngãi. Diện tích, phân bố dân số, mật độ dân số các xã, thị trấn ở thời điểm năm 2005 như sau:

TT

Xã, thị trấn

Diện tích (km2)

Dân số trung bình (người)

Mật độ dân số (người/km2)

1

Ba Tơ

22,67

4.614

203,5

2

Ba Động

14,45

2.400

166,1

3

Ba Dinh

89,50

4.798

53,6

4

Ba Điền

43,92

1.338

30,5

5

Ba Thành

47,04

2.515

53,5

6

Ba Vinh

70,13

3.770

53,8

7

Ba Khâm

51,50

1.422

27,6

8

Ba Trang

147,84

1.964

13,3

9

Ba Lế

94,73

1.513

16,0

10

Ba Bích

59,22

1.738

29,3

11

Ba Vì

42,80

3.772

88,1

12

Ba Tiêu

41,52

2.026

48,8

13

Ba Xa

100,11

3.883

38,8

14

Ba Ngạc

41,38

2.633

63,6

15

Ba Tô

58,71

5.295

90,2

16

Ba Chùa

16,14

1.354

83,9

17

Ba Cung

30,17

1.668

55,3

18

Ba Nam

119,59

748

6,3

19

Ba Liên

41,12

1.048

25,5

*
*          *

Truyền thống bảo vệ Tổ quốc của đồng bào các dân tộc Ba Tơ hình thành từ rất sớm. Cuối thế kỷ XVIII, hưởng ứng phong trào nông dân Tây Sơn, đồng bào đã tích cực đóng góp binh lực, lương thực, mở đường dọc sông Rhe cho nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm Quảng Ngãi và sau đó tiến quân ra Bắc.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, trong phong trào Cần vương, thủ lĩnh Trần Du, người Mộ Đức đã chọn Trường An (nay là xã Ba Động) để làm căn cứ chống Pháp, được nhân dân hưởng ứng tham gia rất đông.

Sau phong trào Cần vương, đến phong trào Duy tân. Năm 1908, phong trào "cự sưu khất thuế" rầm rộ nổi lên ở Quảng Ngãi. Đồng bào dân tộc Hrê đã phối hợp nổi dậy, làm tê liệt bộ máy cai trị của thực dân phong kiến ở địa phương và rầm rộ kéo xuống đồn Đức Phổ để đấu tranh chống địch bắt nhân dân đi xây dựng đồn Đức Phổ. Cuộc đấu tranh đã bị địch đàn áp đẫm máu.

Bước sang những năm hai mươi đầu những năm ba mươi của thế kỷ XX, phong trào yêu nước của nhân dân Ba Tơ vẫn tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, nhất là từ khi Đảng bộ huyện Ba Tơ được thành lập (tháng 4.1930) đã lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh sôi nổi quyết liệt. Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của quần chúng cách mạng với các hình thức như mít tinh, rải truyền đơn, treo cờ Đảng, biểu tình kéo về châu lỵ Ba Tơ đòi thực hiện các yêu sách vào những năm 1930 - 1931 và phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình những năm 1936 - 1939.

Đầu thập niên bốn mươi của thế kỷ XX, thực dân Pháp lập Căng an trí Ba Tơ để quản thúc các chiến sỹ cách mạng Quảng Ngãi đã mãn hạn tù từ nhiều nhà tù trong nước trở về. Nhưng tổ chức Đảng vẫn hình thành và được sự ủng hộ của đồng bào Kinh - Thượng, các chiến sĩ cộng sản đã bí mật xây dựng, vận động phong trào cách mạng, chớp thời cơ làm cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ lịch sử 11.3.1945, lật đổ chính quyền phong kiến đế quốc, xây dựng chính quyền nhân dân, thành lập Đội du kích Ba Tơ và xây dựng Ba Tơ thành căn cứ địa, tích cực tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh ngày 14.8.1945.

Trong kháng chiến chống Pháp, Ba Tơ là vùng tự do, là căn cứ địa cách mạng, nơi cung cấp nhiều cán bộ, bộ đội, lương thực, thực phẩm cho chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đặc biệt trong chiến dịch bắc Tây Nguyên (1953 - 1954), Ba Tơ trở thành bàn đạp của cách mạng tiến công địch ở các cứ điểm Mang Đen, Mang Bút, Kon Prẫy ngày 6.1.1954, giải phóng tỉnh Kon Tum ngày 7.2.1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ba Tơ tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng. Lực lượng vũ trang huyện và nhân dân Ba Tơ đã kiên cường chiến đấu và tạo lập được nhiều chiến công, góp phần tạo nên nhiều chiến thắng lớn như: chiến thắng Trà Nô tháng 11.1961, lực lượng vũ trang huyện Ba Tơ phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh và bộ đội chủ lực Quân khu V phục kích, chặn đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch từ Trà Nô đi Giá Vụt. Đặc biệt là chiến dịch 45 ngày đêm giải phóng Ba Tơ, từ ngày 16.9 đến ngày 30.10.1972, lực lượng vũ trang giải phóng tỉnh và Quân khu V cùng quân và dân Ba Tơ tấn công tiêu diệt địch ở trung tâm Đá Bàn, đánh chiếm quận lỵ, giải phóng hoàn toàn huyện Ba Tơ. Ba Tơ là huyện được giải phóng sớm nhất tỉnh Quảng Ngãi.

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Ba Tơ ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Với những thành tích đạt được trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, huyện Ba Tơ đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân; Huyện, Ban An ninh huyện và 12 xã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân; có 35 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 2006, huyện Ba Tơ được phong tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới.

*
*          *

Kinh tế Ba Tơ nằm trong trạng thái kinh tế chung của các huyện miền núi Quảng Ngãi, xuất phát từ tình trạng thấp kém, bị chiến tranh tàn phá, nhưng nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhờ đất đai tốt, nhờ có Quốc lộ 24 được xây dựng, kinh tế có những chuyển động theo hướng tích cực, khởi sắc.

Cơ cấu kinh tế huyện Ba Tơ được xác định gồm: nông - lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ. Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm dần và tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ. Năm 2004, nông, lâm nghiệp chiếm 71,9%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 13,3%, thương mại - dịch vụ chiếm 14,8%; tổng giá trị sản xuất năm 2004 là 159 tỷ đồng. Năm 2005, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp 125,700 tỷ đồng, trong khi giá trị sản xuất công nghiệp là 16,161 tỷ đồng.

Nông nghiệp: Người Hrê ở Ba Tơ có kỹ thuật trồng lúa nước lâu đời. Sản xuất lúa nước là nguồn sống chính của đại đa số dân cư. Nhưng do tập quán canh tác lạc hậu, ruộng ít, trước đây hầu hết nằm trong tay nhà giàu nên một bộ phận lớn người Hrê vẫn phải sống du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy, kết hợp với hình thái kinh tế hái lượm, săn bắt để bảo đảm lương thực cần thiết cho đời sống. Bên cạnh đó, các loại giống cây trồng và vật nuôi ở Ba Tơ đều là giống địa phương đã thoái hóa, cộng với việc không áp dụng khoa học kỹ thuật nên năng suất thường đạt rất thấp. Nông nghiệp Ba Tơ từ trước năm 1975 còn rất nhỏ bé, lạc hậu, mang tính tự cấp, tự túc. Lối canh tác nông nghiệp của người Kinh ở Ba Tơ là lối canh tác theo kiểu người Kinh ở miền xuôi, có cải biến để thích hợp với điều kiện cụ thể ở miền núi.

Từ sau năm 1975 đến nay, nông nghiệp ở Ba Tơ đã có những bước chuyển biến đáng kể. Bên cạnh cây lúa và các cây trồng truyền thống, còn có nhiều loại cây trồng mới.

Về cây trồng: Tổng diện tích gieo trồng đến năm 2004 là trên 7.000ha, trong đó diện tích trồng lúa chiếm 4.546ha, năng suất đạt 34,52 tạ/ha; 334ha ngô, năng suất đạt 95,9 tạ/ha; 1,796ha sắn, năng suất 20 tấn/ha; 500ha mía, năng suất 495,1 tạ/ha. Năm 2004, sản lượng lương thực là 16.651,2 tấn, bình quân lương thực đầu người năm 2004 đạt 349kg. Năm 2005, sản lượng lương thực là 16.703 tấn, bình quân lương thực đầu người 347kg. Đây là mức bình quân lương thực cao nhất trong các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, thậm chí cao hơn một số huyện đồng bằng chuyên sản xuất lúa. Xét ở nội hạt thì một số xã ở Ba Tơ có bình quân lương thực ở đầu người thuộc hạng cao nhất trong tỉnh, như Ba Chùa (609,4kg), Ba Thành (522,7kg), Ba Cung (514,6kg).

Trong các loại cây trồng truyền thống của người Hrê, đặc biệt có cây dứa (thơm). Nếu vùng người Hrê ở Minh Long trồng nhiều chè thì người Hrê ở Ba Tơ trồng rất nhiều dứa. Dứa ở Ba Tơ khá thích hợp với thổ nhưỡng ở đây. Lạc cũng là loại cây trồng đáng kể với diện tích 608,2ha, sản lượng 896,3 tấn.

Trong cơ cấu cây trồng ở Ba Tơ có các loài giống mới đưa vào sản xuất như: cây mía, cà phê, ca cao, dưa hấu bước đầu đạt được hiệu quả tích cực, góp phần xoá đói giảm nghèo cho một bộ phận dân cư. Tuy nhiên, các loại cây trồng ở Ba Tơ vẫn còn nghèo nàn, còn nhỏ bé so với tiềm năng đất đai của huyện. Cơ sở vật chất phục vụ ngành trồng trọt còn thiếu thốn, mặt bằng dân trí còn thấp nên đã gây khó khăn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Về vật nuôi: Vật nuôi truyền thống của người Hrê là trâu, bò, heo, gà, với giống của địa phương, lối chăn nuôi hoàn toàn phó thác cho tự nhiên, chưa được đầu tư các biện pháp khoa học kỹ thuật nên chất lượng kém, năng suất thấp. Từ sau năm 1975, vật nuôi của đồng bào Ba Tơ đã có sự tăng nhanh về số lượng và đa dạng về chủng loại. Đến năm 2005, Ba Tơ có đàn trâu 17.862 con, đàn bò 7.767 con, đàn lợn 21.850 con, trong đó gần 80% là các giống lợn lai có năng suất cao. Trâu ở Ba Tơ có số lượng lớn nhất so với các huyện khác trong tỉnh Quảng Ngãi. Xét riêng ở địa hạt huyện thì trâu được nuôi nhiều nhất các ở các xã Ba Tô (2.563 con), Ba Vinh (1.995 con), Ba Dinh (1.707 con), Ba Trang (1.499 con). Nếu trâu là vật nuôi truyền thống, thì bò là vật nuôi chủ yếu du nhập từ miền xuôi lên. Trong tổng số 6.767 con bò có 2.911 con bò lai. Bò được nuôi nhiều nhất ở các xã Ba Xa (963 con), Ba Động (857 con), thị trấn Ba Tơ (733 con), Ba Vì (596 con). Nhiều hộ gia đình đã tổ chức chăn nuôi đại gia súc có dạng trang trại như ở các xã Ba Trang, Ba Dinh. Một số hộ có đàn trâu, bò từ 70 đến 80 con. Thời điểm 2005, Ba Tơ có 21.850 con lợn trên 2 tháng tuổi, lợn được nuôi nhiều nhất ở thị trấn Ba Tơ, xã Ba Vinh, xã Ba Ngạc. Bên cạnh việc phát triển chăn nuôi gia súc, nhiều hộ gia đình còn chăn nuôi gia cầm, nuôi cá nước ngọt khá phát triển góp phần vào thu nhập của kinh tế gia đình.

Ba Tơ không chỉ tăng về số lượng, giá trị nông sản mà còn quy hoạch được vùng sản xuất nông nghiệp, tạo được nhiều chuyển biến trong tập quán canh tác. Đồng bào Hrê đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong đầu tư giống mới, chăm sóc lúa nước, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hạn chế tình trạng phá rừng làm rẫy, tình trạng du canh, du cư của một số cư dân vùng cao, góp phần xóa đói giảm nghèo, chấm dứt nạn đói lúc giáp hạt, ổn định cơ bản về đời sống. Trong tổng giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp năm 2005 thì riêng nông nghiệp chiếm 93,53 tỉ đồng theo giá hiện hành (khoảng 3/4 tổng giá trị)

Lâm nghiệp: Đất rừng Ba Tơ chiếm 86% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó có nhiều loại rừng như: rừng bảo vệ, rừng trồng, rừng phòng hộ, rừng nguyên liệu, rừng dự án, rừng khoán hộ gia đình. Rừng Ba Tơ có giá trị lớn về nhiều mặt, có các loại gỗ và lâm sản, dược liệu. Hàng năm, người dân nơi đây còn khai thác một lượng lớn tre, nứa, lồ ô, song, mây, lá nón, đót. Rừng có nhiều thú rừng, chim muông quý. Hiện nay, Ba Tơ còn có vị trí đặc biệt là có diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn cho các công trình thuỷ lợi lớn của tỉnh Quảng Ngãi như: Thạch Nham, Liệt Sơn, Núi Ngang, và đầu nguồn các sông lớn của Quảng Ngãi. Hầu hết núi ở Ba Tơ là núi đất, khu vực phía tây và nam Ba Tơ có cấu tạo đất bazan nên rừng phát triển nhanh. Trước kia đồng bào dân tộc Hrê thường khai thác gỗ rừng để làm nhà ở, chống thú dữ và các loại gỗ, tre, song mây, lúa gạo còn được chở về xuôi để trao đổi hàng hóa, nhu yếu phẩm và nông cụ phục vụ đời sống và sản xuất. Ngày nay, việc khai thác rừng một cách tự nhiên không còn nữa. Việc bảo vệ và khôi phục, phát triển rừng đã được quan tâm đúng mức, nhiều dự án bảo vệ và phát triển rừng đã được triển khai. Ba Tơ đã có hàng trăm hécta các mô hình nông lâm kết hợp với nương rẫy, chăm sóc vườn rừng cây bản địa. Đã đo đạc, thống kê, lập quy hoạch tổng thể quỹ đất lâm nghiệp để thực hiện giao đất, giao rừng cho hàng trăm hộ gia đình làm kinh tế vườn rừng. Năm 2004, huyện Ba Tơ có 27.799ha rừng phòng hộ, 27.399,8ha rừng bảo vệ, 4.808ha rừng nguyên liệu, 1.274,5ha rừng tái sinh và 437ha cây công nghiệp (cây dó, cây quế, cây mây). Diện tích đất rừng và rừng đã giao cho các tổ chức và gia đình thực hiện dự án quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh là 79.936,3ha. Diện tích rừng có chủ quản lý chiếm 53%. Còn lại 17% diện tích rừng do Uỷ ban nhân dân địa phương quản lý. Độ che phủ rừng bình quân chung là 37,6%, riêng vùng dự án đạt 60% diện tích. Năm 2005, rừng trồng tập trung 1.092ha, chăm sóc 1.618ha; khai thác 710m3 gỗ, 868 ster củi, 200.000 cây tre, 123 tấn đót, 15 tấn song mây. Giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp năm 2005 là 34,9 tỉ đồng.

Bên cạnh việc trồng rừng, Ba Tơ còn chú trọng công tác bảo vệ rừng như lập các phương án phòng, chữa cháy rừng, truy quét lâm tặc, giám sát chặt chẽ các quá trình khai thác gỗ theo kế hoạch của các lâm trường, vừa đảm bảo chỉ tiêu khai thác, vừa cân đối tiến độ trồng rừng hiện nay.

Tiểu thủ công nghiệp: Thời trước người Hrê ở Ba Tơ có nghề dệt thổ cẩm dùng cho sinh hoạt, sản xuất. Trong cộng đồng người Kinh thì có nghề rèn, nghề mộc, may vá, làm bánh tráng, làm bún... tạo ra sản phẩm để trao đổi với bà con các dân tộc.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều nghề thủ công đã xuất hiện rải rác ở dọc trục lộ từ Trường An, Ba Dinh lên Giá Vụt, Sông Rhe. Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chính quyền cách mạng đã lập một cơ sở rèn ở Ba Lang, một cơ sở may ở Ba Điền.

Từ sau năm 1975, các ngành tiểu thủ công nghiệp được khôi phục, trong đó có nghề dệt thổ cẩm ở làng Teng (xã Ba Thành) và phát triển một số ngành mới. Từ khi các xã, thị trấn ở Ba Tơ có điện, các ngành nghề thủ công mở rộng sản xuất, các hoạt động dịch vụ cơ khí, dịch vụ điện tử, dịch vụ sửa chữa phát triển mạnh tại trung tâm huyện lỵ và các trung tâm cụm xã nằm trên Quốc lộ 24. Năm 2005, địa hạt Ba Tơ có 485 cơ sở công nghiệp cá thể với 885 lao động, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn là 16.161,8 triệu đồng (theo giá hiện hành). Công nghiệp phát triển nhất là ở thị trấn Ba Tơ, xã Ba Vì, xã Ba Động, tức các điểm trung tâm của huyện nằm trên Quốc lộ 24.

Công nghiệp Ba Tơ là một ngành tuy còn non trẻ song có nhiều tiềm năng, sẽ có những đóng góp lớn trong việc phát triển kinh tế tương lai.

Thương mại - dịch vụ: Quan hệ mua bán xưa của người Kinh và người Hrê là trao đổi hàng hóa. Người Kinh mang hàng hóa, nhu yếu phẩm và nông cụ sản xuất từ miền xuôi lên trao đổi với người Hrê, sau đó chở những mặt hàng trao đổi được về miền xuôi bán. Lúc đầu, việc trao đổi đã diễn ra trên bộ, sau đó do nhu cầu trao đổi lớn hơn, người Kinh đã dùng đường sông để chuyên chở lên Ba Tơ, cho nên có nhiều bến đậu được hình thành để buôn bán và trao đổi hàng hóa như: bến Buôn, Hoàng Đồn, Giá Vụt. Việc buôn bán ở Ba Tơ thời bấy giờ còn nhỏ lẻ, phát triển một cách tự phát. Đến sau năm 1975, thương mại - dịch vụ mới bắt đầu phát triển, nhưng cũng chỉ tập trung ở thị trấn, các trung tâm cụm xã dọc Quốc lộ 24 như Ba Động, Ba Vinh, Ba Vì.

Thương mại - dịch vụ đã và đang được quan tâm, ngày càng phát triển. Huyện đã chủ động nâng cấp, mở rộng chợ Ba Động và thị trấn Ba Tơ, xây dựng chợ trung tâm cụm xã Ba Vì. Nhân dân đầu tư mở rộng các dịch vụ buôn bán tạp hóa, phát triển các dịch vụ khác. Trên địa bàn huyện năm 2005 có 529 cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ cá thể với 758 lao động. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2005 là 11.248 triệu đồng, trong đó chủ yếu là mua bán, sửa chữa, quán ăn. Cở sở kinh doanh thương mại và dịch vụ tập trung cao ở thị trấn huyện lỵ (227 cơ sở), kế đến là các xã Ba Vì (99 cơ sở), Ba Động (76 cơ sở). Ba Tơ là vùng đất nhiều tiềm năng về phát triển du lịch, nhất là các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, là những thế mạnh của vùng đất lịch sử này.

Cơ sở hạ tầng

Về đường sá: Đường sá ở Ba Tơ trước kia chỉ là lối mòn, những con đường đất phục vụ người đi bộ và gia súc. Về sau, khi người Kinh bắt đầu có giao lưu đổi chác với người Hrê thì ở Ba Tơ xuất hiện những con đường đất tự nhiên và đường sông nối với các huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành. Suốt trong những năm chiến tranh cho đến ngày miền Nam giải phóng, giao thông ở Ba Tơ vẫn là tuyến thủy - bộ, tuyến đường 5 từ đèo Viôlắk giáp Kon Tum bị hư hỏng và ngừng hoạt động. Từ năm 1995, đường số 5 được nâng cấp thành Quốc lộ 24 đã góp phần quan trọng vào sự phát triển giao thông nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội ở Ba Tơ nói chung. Hiện nay, Ba Tơ có 521,2km đường giao thông, trong đó đoạn Quốc lộ 24 thuộc địa phận huyện là 57km, nối liền giữa đồng bằng Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum. Các tuyến đường liên huyện Ba Tiêu - Sơn Ba (huyện Sơn Hà), Ba Thành - Thanh An (huyện Minh Long), Ba Liên - Nghĩa Hành đã được nâng cấp. Từ thị trấn huyện lỵ có đường ô tô đến được trung tâm tất cả các xã, nhiều nơi đường thôn đã được bêtông hóa, phục vụ việc đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân.

Điện lực: Ba Tơ bắt đầu có điện khi thị trấn Ba Tơ được sử dụng điện nhờ công trình thủy điện hồ Tôn Dung được xây dựng từ năm 1980. Năm 1996, điện lưới quốc gia về Ba Tơ. Năm 1997, có 5 xã được phủ lưới điện quốc gia; năm 2003 có 17/19 xã, thị trấn được phủ điện lưới quốc gia; năm 2004 tất cả các xã, thị trấn có điện với 78 trạm biến áp, dung lượng điện 3.155,5kVA, gần 250km đường dây trung áp và hạ áp; đã có 7.656/10.372 hộ sử dụng điện, đạt 73,81% tổng số hộ. Số hộ dùng điện ngày càng tăng theo sự mở rộng của mạng lưới và mức sống được nâng cao.

Thông tin liên lạc: Thời Pháp thuộc, có dịch trạm Nghĩa Sơn ở Mộ Đức chuyển công văn giấy tờ cho đồn Ba Tơ, đó là phương tiện thông tin chính thống duy nhất thời bấy giờ. Thông tin liên lạc phục vụ nhân dân chỉ thực sự phát triển từ sau ngày giải phóng. Đến nay, ngành bưu chính viễn thông ở Ba Tơ có những bước phát triển rất nhanh, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Năm 2005, số máy điện thoại trên mạng là 1.651 chiếc. Phát hành báo chí được 302.000 tờ, có 15/19 xã, thị trấn có báo đọc trong ngày. Hệ thống bưu điện văn hóa xã đã và đang dần được hoàn chỉnh, đến nay có 17 xã, thị trấn có nhà bưu điện văn hóa xã. Doanh thu của ngành bưu điện là 688 triệu đồng. Hệ thống thông tin liên lạc phát triển đồng bộ, đảm bảo thông tin kịp thời, thông suốt trong mọi tình huống, đồng thời góp phần trong việc đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất và nâng cao mặt bằng dân trí cho nhân dân.

*
*          *

Ba Tơ có di sản văn hóa Hrê và văn hóa Việt. Văn hóa Việt tương đồng với văn hóa ở miền xuôi. Người Hrê cư trú, sinh sống lâu đời và đã tạo dựng cho mình những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng, đa dạng và phong phú, cho đến ngày nay vẫn được bảo tồn và phát huy như nhà cửa, trang phục, phong tục, lễ hội, văn nghệ dân gian.

Người Hrê ở Ba Tơ có di sản văn hóa phong phú và đặc sắc, đã và đang được tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm và phát huy.

Ba Tơ là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh. Đến năm 2005, Ba Tơ có 6 di tích đã được xếp hạng, trong đó có 5 di tích cấp tỉnh và 1 di tích cấp quốc gia; có 1 di tích thắng cảnh, 1 di tích lịch sử, 3 di tích chiến thắng. Các di tích lịch sử và danh thắng ở Ba Tơ đã và đang góp phần vào việc phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn.

Ba Tơ chú trọng phát triển công tác xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, thôn, khối phố, cơ quan văn hóa, công tác bảo tồn, bảo tàng và giáo dục truyền thống. Hiện tại, Ba Tơ có nhà Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ và Nhà Truyền thống huyện, mỗi năm có hàng ngàn lượt khách đến tham quan. Công tác tuyên truyền, truyền thông đại chúng ở Ba Tơ đã và đang được đầu tư và phát triển. Huyện có Đài truyền thanh huyện, có 3 trạm truyền hình thu phát lại ở trung tâm cụm Ba Vì, Ba Vinh, Ba Trang. Năm 2004, có 100% số hộ được nghe sóng phát thanh và 85% địa bàn huyện được phủ sóng truyền hình. Đội chiếu bóng huyện thường xuyên phục vụ nhân dân các xã vùng sâu vùng xa. Văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ở Ba Tơ được duy trì thường xuyên ở các trường học, đơn vị vũ trang và các cơ quan nhà nước.

Về giáo dục đào tạo: Trước năm 1945, hầu hết đồng bào các dân tộc mù chữ, thất học. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, "bình dân học vụ" ở Ba Tơ phát triển rộng. Nhiều con em đồng bào Hrê được tập kết ra Bắc (1954), được đào tạo để trở thành những trí thức, cán bộ chủ chốt cho các giai đoạn cách mạng tiếp theo. Sau năm 1975, giáo dục đã từng bước phát triển. Đến năm 1989, Ba Tơ đã thanh toán xong nạn mù chữ. Năm 1995, Ba Tơ đã phổ cập giáo dục bậc Tiểu học. Từ năm 1997, huyện có 1 trường Mầm non quốc lập ở thị trấn, 98 lớp mẫu giáo ngoài công lập, có 19 trường Tiểu học (trong đó có 10 trường cấp II nhô), 2 trường Phổ thông cơ sở, 4 trường Trung học cơ sở (1 trường có lớp 10 nhô), 01 trường Trung học phổ thông cấp II - III, 01 trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú và một Trung tâm giáo dục thường xuyên. Năm 2005, tổng số học sinh các cấp học là 12.032 em (trong đó hệ Mầm non 1.875 em, bậc Tiểu học 6.424 em, Trung học cơ sở có 3.782 em, Trung học phổ thông 951 em), dân tộc nội trú 200 em, hướng nghiệp dạy nghề 250 học viên, giáo dục thường xuyên 558 học viên, phổ thông cơ sở có 447 em.

Về y tế, xưa kia người Hrê khi ốm đau chỉ trông cậy vào "thầy mo, thầy cúng" hoặc chữa bệnh chỉ bằng những phương thuốc cổ truyền sẵn có ở núi rừng, do vậy, tỷ lệ tử vong ở người bệnh là rất cao. Từ sau năm 1975, ngành y tế đã vận động nhân dân Ba Tơ đến các cơ sở y tế để chữa bệnh, nhờ đó các bệnh như sốt rét, lao, bại liệt, bạch hầu, bướu cổ, ho gà đã được kiểm soát. Việc tiêm văcxin phòng ngừa theo chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia được tiến hành thường xuyên. Ba Tơ có bệnh viện đa khoa với 80 giường bệnh, 19 xã có trạm y tế phục vụ nhân dân tại chỗ. Đến năm 2005, tổng số cán bộ y tế là 155 người, trong đó có 15 bác sĩ, tập trung ở bệnh viên huyện.

Công tác dân số gia đình và trẻ em: Tỷ lệ tăng dân số năm 2004 còn 1,4%. Công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em được tăng cường. Đã phân loại được 1.384 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, 1.124 trẻ em khuyết tật, thành lập quỹ bảo trợ trẻ em, thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em ở một số xã và ở thị trấn Ba Tơ.

Nhân lực và các vấn đề xã hội

Nguồn lao động ở Ba Tơ có gần ba vạn người nhưng hầu hết là lao động giản đơn trong các ngành nông, lâm nghiệp. Huyện Ba Tơ đã có biện pháp để từng bước nâng cao trình độ và sử dụng có hiệu quả lực lượng này. Hàng năm tạo việc làm mới cho 300 - 500 lao động.

Ba Tơ có 35 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 2.090 người được hưởng chính sách người có công với cách mạng; toàn huyện đã xây dựng 37 nhà tình nghĩa, có 377 người già được cứu trợ thường xuyên, 68 đối tượng bị nhiễm chất độc hóa học được trợ cấp hàng tháng.

Công tác xóa đói giảm nghèo được chú trọng. Năm 2000, Ba Tơ có 3.670 hộ nghèo, chiếm 38,8% tổng số hộ trong huyện. Năm 2001, số hộ nghèo giảm xuống còn 23,79%, năm 2003 giảm xuống còn 15%, năm 2004 giảm xuống còn 10,35%. Đến cuối năm 2005, số hộ nghèo còn 821 hộ, thuộc hạng thấp nhất trong các huyện miền núi Quảng Ngãi.


(1) Theo Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ngãi 2005.