Trở về

 

Về đại thể đến đầu thế kỷ XXI, lĩnh vực giáo dục (và đào tạo) ở Quảng Ngãi cũng như các địa phương khác trải qua ba thời kỳ (hay loại hình) kế tiếp nhau là giáo dục thời Nho học, giáo dục thời Tân học và giáo dục thời kỳ cách mạng.

Thời kỳ Nho học ở Quảng Ngãi từ thế kỷ XV đến năm 1918, trải qua các triều đại phong kiến thời nhà Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng, chúa Nguyễn, Tây Sơn, nhà Nguyễn thời tự chủ và thời thuộc Pháp.

Thời kỳ Tân học tiếp liền thời Nho học suy tàn đến năm 1945, trong khoảng trên dưới 30 - 40 năm.

Thời kỳ giáo dục cách mạng, từ năm 1945 tính đến 2005, trong đó giai đoạn 1954 - 1975 có tách mảng giáo dục dưới chế độ Sài Gòn.

Cũng trên đại thể, về mặt không gian, từ năm 1945 trở về trước, giáo dục chưa lan đến miền núi trong tỉnh, chỉ từ Cách mạng tháng Tám về sau, thì giáo dục mà chủ đạo là giáo dục cách mạng mới lan dần lên miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giáo dục các thời kỳ phát triển từ thấp lên cao, theo quy luật có phủ định, có kế thừa. Có thể giáo dục ở Quảng Ngãi xuất hiện không thật sớm, chưa bao giờ có những học hiệu lớn, nhưng qua các thời kỳ càng ngày càng tỏ rõ là "đất học", đóng góp cho đất nước nhiều nhà trí thức lớn.

Căn cứ vào dung lượng và tính chất, chương này phân hai phần giáo dục trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945.

I. GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1945 

1. GIÁO DỤC THỜI NHO HỌC

1.1. NHO HỌC TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN

Có thể những người Việt đầu tiên vào vùng đất Cổ Lũy động thời nhà Hồ và phủ Tư Nghĩa thời nhà Lê, ngoài các quan lại chủ yếu là võ quan và binh lính, tuyệt đại đa số là nhân dân lao động nghèo khổ phải rời quê hương vào đây khai hoang, lập ấp nên giáo dục - ở đây là giáo dục Nho học - có thể cần phải có một thời gian nào đó mới hình thành và phát triển. Đến năm 1646, các chúa Nguyễn mới định phép thi và nội dung thi cử. Có hai kỳ thi Chính đồ và Hoa văn. Chính đồ chọn người làm quan; Hoa văn chọn người làm thư lại. Kỳ hạn thi lại khá lâu, 9 năm một lần, thậm chí có lúc còn lâu hơn, như khoa thi đầu tiên tổ chức vào năm 1647 đã lấy 9 Chính đồ và 24 Hoa văn; rồi mãi đến năm 1667 (20 năm sau) mới có kỳ thi thứ hai lấy 9 Chính đồ và 14 Hoa văn. Do tình hình thi cử như vậy nên việc học hành khó có thể phát triển; người đỗ đạt ở Đàng Trong nói chung, Quảng Ngãi nói riêng cũng không thể nhiều được và cũng chưa thấy có tài liệu nào biên chép cụ thể.

Tuy vậy, trên vùng đất phủ Quảng Nghĩa thời kỳ này, nền giáo dục Nho học cũng đã xuất hiện, dù còn rất hạn chế, do nhu cầu học vấn của con em các gia đình quan lại, giàu có và của nhân dân lao động, đồng thời cũng do nhu cầu phát triển nhân tài để giữ vững xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn.

Giáo dục Nho học hay Nho giáo từ Trung Quốc du nhập vào Đại Việt từ thời Bắc thuộc, chính thức trở thành một nội dung giáo dục và khoa cử từ thế kỷ XI, đời nhà Lý, đời nhà Trần thì nằm trong Tam giáo (Phật, Lão, Nho), đời Lê, Nho giáo trở thành độc tôn (1). Như vậy, kể từ khi các cư dân Việt đến định cư ở Quảng Ngãi thì Nho giáo đã chiếm vị trí chính thống trong học hành, khoa cử và chi phối đời sống tinh thần của cư dân Việt. Tìm hiểu các nguồn thư tịch cổ chưa thấy có ghi chép gì về việc giáo dục Nho học ở Quảng Ngãi từ đời Lê đến đời Mạc, tức từ cuối thế kỷ XV đến thế kỷ XVI, tuy vậy ta có thể hiểu ở đâu có cư dân Việt hẳn ở đó có tổ chức việc học, việc học không tùy thuộc vào chế định thi cử có hay chưa. Một chức học quan sớm nhất mà ta thấy là ông Phạm Đăng Tiên, Huấn đạo phủ Tư Nghĩa (tương đương tỉnh Quảng Ngãi ngày nay), rất có thể là từ đầu thời chúa Nguyễn. Mộ ông Phạm Đăng Tiên nằm ở xã Tư Cung khá lớn (người ta thường gọi là Lăng Ông), nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, có thể là Huấn đạo ở thời kỳ đầu Chúa Nguyễn (sau dòng họ Phạm định cư ở xã Cù Mông, nay thuộc thành phố Quảng Ngãi). Một loại sách chép tay chữ Hán Phủ tập Quảng Nam ký sự của tác giả Mai thị (người họ Mai, không rõ tên) chép về công nghiệp của Bùi Tá Hán, rất có thể là đồng thời hoặc sau khi Bùi Tá Hán mất, cũng cho chứng liệu rằng, có thể chưa có khoa cử, nhưng việc học đã phát triển nhất định, trong tiến trình khai khẩn đất Quảng Ngãi.

Đời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng cũng có dấu ấn đậm nét về giáo dục. Trong các văn thần võ tướng nhà Tây Sơn có Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Danh người làng Đại Phong (Tân Phong) "thông minh hiếu học", Nguyễn Văn Xuân (làng Lạc Phố), Huỳnh Văn Thuận (Đông Quang) "có tài về văn học" (2), chắc chắn là những người đã được học hành từ thời cuối Chúa Nguyễn. Trong khoa thi văn (gọi là Minh Kinh) tổ chức vào năm Quang Trung thứ hai (1789), trong số người trúng tuyển hạng ưu, ở Quảng Ngãi có Đặng Sỹ Nguyên(3). Nhà Tây Sơn cũng coi trọng Nho học, đồng thời phục hồi việc dùng chữ Nôm như triều nhà Hồ trước kia song song với chữ Hán, dịch các sách mang tính kinh điển của Nho học ra chữ Nôm để phục vụ việc giáo dục theo ngôn ngữ dân tộc, ra "Chiếu lập học" để mở trường dạy học ở các làng xã, phổ quát giáo dục trong đại chúng. Trong số các quan Tây Sơn (sau theo Nguyễn Ánh) thời kỳ này có Trần Công Hiến, quê huyện Chương Nghĩa, là "người thanh nhã, trọng Nho học", có dật sĩ Kiệm người huyện Mộ Đức "học rộng hay chữ, làm ra nhiều thơ quốc âm" (4), có thể là những người đã được đào tạo trong thời Tây Sơn. Còn Nguyễn Hữu Thể (thân phụ Phó bảng Nguyễn Bá Nghi thời nhà Nguyễn) người làng Lạc Phố huyện Mộ Đức được tiến nạp cho vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) từ hồi 15, 16 tuổi, làm một tướng nhỏ, giỏi võ nghệ, nhưng hễ rỗi việc quân là ông lại đem sách ra học, nhờ đám thư lại giảng giải. Nhờ vậy mà ông thạo cả Tứ thư, Ngũ kinh, rất giỏi làm thơ nôm. Nguyễn Hữu Thể có thể xem như một tấm gương học tập, tấm gương hiếu học của người Quảng Ngãi, và suy rộng ra, hình như hiếu học đã trở thành một truyền thống từ thời kỳ này (5).

Đến thời nhà Nguyễn, thì giáo dục Nho học mới thực sự bài bản và cho thấy nhiều điều nổi bật, đây cũng là thời kỳ mà tài liệu ghi chép đầy đủ nhất.

1.2. NHO HỌC TRIỀU NGUYỄN

Đời Nguyễn quay lại độc tôn Nho học mà chủ yếu là Tống Nho khoác áo Khổng - Mạnh, tư tưởng giáo điều, từ chương, quay lại chữ Hán như triều Lê. Chữ Nôm khơi lại ở triều Tây Sơn đến đây thêm một lần dang dở và chỉ dùng trong dân gian, trong các sáng tác cá nhân.

Buổi đầu triều Gia Long, ở Quảng Ngãi có ông Đoàn Khắc Cung người làng Nhơn Hòa, huyện Bình Sơn "là người có tiếng về văn học", từng giữ chức Đốc học Gia Địn (6). Ở tỉnh có đặt chức Đốc học, ở huyện có Huấn đạo là các quan trông coi việc học. Ở tỉnh có trường tỉnh xây dựng từ triều Gia Long, các trường ở huyện Bình Sơn, Mộ Đức đều xây dựng vào năm Minh Mạng thứ năm (1824). Ở các làng xã thường có trường, lớp học do các nhà nho tự mở. Việc học Nho học đã đạt được sự phổ quát nhất định, song căn cứ vào một số tư liệu, có thể thấy dường như ở địa hạt tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ đầu nhà Nguyễn chưa đạt tới đỉnh cao. Khoa thi đầu tiên mở ra dưới triều Gia Long năm 1807, nhưng phải đến 2 khoa thi sau (khoa Kỷ Mão 1819) tức cách 12 năm sau, mới có người đầu tiên ở Quảng Ngãi đỗ Hương tiến (Cử nhân) là ông Trương Đăng Quế. Qua hai khoa thi nữa, đến khoa Mậu Tý (1828), mới có thêm một người Quảng Ngãi đỗ Cử nhân, và từ đó mới "đầu xuôi, đuôi lọt", hầu như không có khoa thi Hương nào không có người Quảng Ngãi đỗ Cử nhân. Ông Nguyễn Bá Nghi, con trai Nguyễn Hữu Thể (đã kể trên), ban đầu học với cha, với trường làng, sau lại được thân phụ gửi ra học ở tỉnh, rồi tiếp tục ra Quảng Nam, lặn lội tận Nghệ An tìm thầy học (7), mới đỗ được Cử nhân (1831) và trở thành vị đại khoa đầu tiên của Quảng Ngãi khi tiếp tục đỗ Phó bảng khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1832). Từ sau Nguyễn Bá Nghi đỗ đạt, có thể thấy tầm mức giáo dục Nho học ở Quảng Ngãi đã dần được khẳng định và nâng cao hơn rất nhiều, nếu lấy kết quả khoa cử làm bằng chứng.

Cũng cần biết thêm về tình hình khoa cử. Khi mới lên ngôi, Gia Long đã có ý định tổ chức lại việc giáo dục thi cử, nhưng mãi đến năm 1807 mới ban hành quy chế thi Hương và tổ chức khoa thi đầu tiên ở Bắc Thành. Dưới triều Nguyễn có 6 trường thi Hương trong cả nước. Ở miền Trong thì có trường thi Bình Định và Gia Định. Thời gian giữa hai kỳ thi cũng ấn định cụ thể. Năm 1822, dưới thời Minh Mạng mới có kỳ thi Hội đầu tiên, lấy đỗ 8 Tiến sĩ. Từ những năm sau đó, các kỳ thi Hương, thi Hội được tổ chức đều đặn và có quy củ. Từ năm 1822 đến năm 1919, có 39 khoa thi Hội với 558 người đỗ đại khoa.

Việc dạy - học có thể đã được cải thiện rất nhiều, song sĩ tử Quảng Ngãi vẫn gặp không ít khó khăn khác trên đường chinh phục khoa cử. Muốn thi Hương thì sĩ tử Quảng Ngãi phải khăn gói ra Huế hoặc vào Bình Định. Còn muốn thi Hội thì sĩ tử Quảng Ngãi bắt buộc phải "lặn lội" ra kinh đô Huế. Do đó, việc lều chõng đi thi đối với sĩ tử Quảng Ngãi không chỉ là sự thử thách về trình độ học vấn mà còn là quá trình vượt qua rất nhiều gian khổ. Nội dung học tập chủ yếu là Tứ thư, Ngũ kinh, chuyên về Bắc sử, nặng về thơ, phú. Mỗi kỳ thi Hương, Quảng Ngãi chỉ được cử 200 thí sinh tham dự, chỉ bằng một nửa số sĩ tử của các tỉnh Quảng Nam, Bình Định. Mặc dù vậy, kết quả thi cử của các sĩ tử Quảng Ngãi vẫn khá lạc quan. Bởi vì học trò Quảng Ngãi "thì tư chất thông minh, nhiều kiến thức,... học nghiệp phần nhiều không chuyên nhưng nếu biết cố chí thì cũng nhiều người thành tựu" (8).

Từ 1819 đến 1918 (khoa thi Hương cuối cùng), trong vòng gần 100 năm, Quảng Ngãi có 139 người đỗ Cử nhân trở lên và hàng trăm Tú tài các hạng, trong đó có 10 người đỗ Tiến sĩ, Phó bảng. Riêng số Tiến sĩ, Phó bảng ở từng tỉnh theo thứ tự từ cao xuống thấp, Quảng Ngãi đứng vị trí thứ 13 trong cả nước sau các tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nam Định, Quảng Bình, Hà Nội, Quảng Nam, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Sơn Tây, Hà Đông. Trương Đăng Quế là người Quảng Ngãi đầu tiên khai khoa thi Hương vào năm 1819 (đỗ Hương cống); còn Nguyễn Bá Nghi, đã khai khoa thi Hội vào năm 1832; Tiến sĩ đầu tiên là Trương Đăng Trinh (cháu gọi Trương Đăng Quế bằng chú) vào khoa Nhâm Dần (1842).

Sĩ tử Quảng Ngãi một thời gây tiếng vang ở các trường thi Thừa Thiên, Bình Định về khả năng học vấn. Trong số 139 người đỗ Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng có 11 người đỗ Giải nguyên (đỗ đầu thi Hương), 9 người Á nguyên (thứ 2 thi Hương), có 5 người về sau làm chủ khảo của 8 khoa thi Hương tại các trường thi trong cả nước, 5 người làm chủ khảo 11 khoa thi Hội ngay tại kinh đô Huế (9).

Các làng có người đỗ đạt nhiều nhất là Chánh Mông hay Chánh Lộ, Ba La (thuộc thành phố Quảng Ngãi), Phú Nhơn, Mỹ Khê (thuộc huyện Sơn Tịnh), Năng An (thuộc huyện Mộ Đức), An Ba (thuộc huyện Nghĩa Hành)...

Những thầy giáo nổi tiếng, có nhiều học trò đỗ đạt là Phó bảng Võ Duy Thành (quê làng Đại An, nay thuộc huyện Nghĩa Hành), Tú tài Phan Thanh (làng An Nhơn, nay thuộc huyện Sơn Tịnh), Tú tài Đinh Duy Tự (ở Trà Bình Trại, nay thuộc huyện Sơn Tịnh)…

Nhiều gia đình có truyền thống học hành khoa cử như gia đình Trương Đăng Quế, Đoàn Khắc Nhượng, Nguyễn Đăng Ngoạn, Đỗ Đăng Đệ, Nguyễn Duy Cung, Võ Duy Thành... Trong số những người đỗ đạt có nhiều người nổi tiếng về văn chương, chính sự, đóng góp nhiều mặt cho sự phát triển của đất nước.

Nhìn tổng quát Nho học thời nhà Nguyễn, sau tỉnh Quảng Nam và tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi là tỉnh chiếm vị trí cao so với các tỉnh khác ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Tuy nhiên, cuộc "khảo thí" trong chính cuộc sống và hoạt động, tức thông qua kết quả thực tiễn của từng nhà Nho (thi đỗ hay không) mới là điều đánh giá quan trong nhất, thực chất nhất đối với thành công của giáo dục. Về mặt này, thì nền giáo dục Nho học Quảng Ngãi có nhiều điểm nổi bật.

Thời nhà Nguyễn tự chủ (trước 1885), Cử nhân Trương Đăng Quế, Phó bảng Nguyễn Bá Nghi đều đóng vai trọng thần, trải các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, hoạt động trải rộng ở các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Về giáo dục, hai ông đều từng làm giám khảo nhiều khoa thi Hương, Hội. Về trước tác văn học, Trương Đăng Quế có Học văn dư tập, Nguyễn Bá Nghi có Sư Phần thi văn tập. Trương Đăng Quế từng giữ vai trò Tổng tài Quốc Sử quán, chủ biên nhiều bộ sách lớn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện…

Thời nhà Nguyễn bù nhìn, tức thời Pháp thuộc, từ 1885 trở về sau, có nhiều nhà yêu nước nổi tiếng xuất thân khoa bảng Nho học, như các ông Cử Nguyễn Duy Cung, Lê Trung Đình, Nguyễn Thụy, Nguyễn Đình Quản, Lê Đình Cẩn, Lê Tựu Khiết, các ông Tú Nguyễn Tự Tân, Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Tuyên, Lê Ngung, Trần Kỳ Phong (10)

Trong cả hai thời kỳ, nổi bật chưa phải là các ông Tiến sĩ, Phó bảng, mà lại là các trí thức Nho học "Tú tài": thời chưa có xâm lược thì ra sức mở mang dân trí, dạy học, làm thơ, bốc thuốc, làm thủy lợi, như các Tú tài Đinh Duy Tự ở Trà Bình Trại (11), Phan Thanh ở An Nhơn…; thời có xâm lược thì dốc sức chống ngoại xâm như các ông Tú đã kể trên. Khác với các ông Cử, ông Nghè (Tiến sĩ), các ông Tú hầu hết đều thuộc diện không làm quan, sống gần với nhân dân. Điều đó cho thấy, chính tâm thức dân tộc cộng với nhân cách cao đẹp của nhà Nho đã giúp cho các bậc Tú tài trở nên ưu trội. Mặt khác, điều đó cũng phần nào biểu hiện, bộc lộ những nhược điểm rất cơ bản của giáo dục Nho học trong việc đào luyện và đánh giá, phát hiện người tài.

Những nhược điểm này đã bộc lộ rõ và một số ít người vốn xuất thân Nho học cũng lên tiếng xin cải cách, trong đó có Phó bảng Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thông. Như Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã viết trên báo Tiếng dân về Nguyễn Bá Nghi: "Chuyên việc học thực dụng, thường bác Tống Nho, có làm sách và xin sửa đổi phép học, đương lúc bấy giờ, người ta cho ông là lập dị, mở đường kiêu ngạo cho bọn hậu học. Ông này học thức nhiều điều đáng phục…" (12).

Tuy vậy, lối học khoa cử với nhiều nhược điểm cơ bản đã tiếp tục được duy trì gần 35 năm dưới thời Pháp thuộc mới chính thức bị thay thế.

Tóm lại, nếu lấy mốc Nho học bắt đầu từ cuối thế kỷ XV đến khi nền khoa cử của nó chính thức cáo chung (năm 1918, 1919) dưới thời Pháp thuộc, thì Nho học ở Quảng Ngãi có lịch sử trên 400 năm, lưu lại nhiều dấu ấn trong văn hóa Quảng Ngãi, đồng thời cũng bộc lộ nhiều nhược điểm của nó. Nho học cho đến nay vẫn là thời kỳ giáo dục dài nhất, so với thời kỳ Tân học và thời kỳ giáo dục cách mạng sau này.

2. GIÁO DỤC THỜI TÂN HỌC

Tân học hay Tây học là thuật ngữ dùng chỉ một loại hình, một thời kỳ giáo dục chính thức thay thế giáo dục Nho học từ khoảng vài thập niên đầu thế kỷ XX đến trước tháng Tám 1945, trong thời Pháp thuộc. Sau khi đặt ách đô hộ lên Trung Kỳ, trong đó có Quảng Ngãi, thực dân Pháp vẫn duy trì Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời, lợi dụng nó để củng cố trật tự xã hội, kết hợp với việc truyền bá những tư tưởng tiêu cực của văn minh phương Tây. Đến năm 1900, thực dân Pháp mở thêm 3 trường Sơ học bản xứ ở các huyện Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ; cả tỉnh mới chỉ có 6 trường. Cũng năm 1900, chính quyền thực dân tổ chức Hội đồng Cải cách Học vụ và trong chương trình thi cử theo lối Nho học đã có phần thay đổi nội dung, trong đó thêm sử Đông Dương, dùng Pháp ngữ và Quốc ngữ (13). Năm 1909, vẫn còn có đến 145 người theo học Hán học ở các trường tỉnh và huyện, có 1.746 học sinh Hán học ở các trường tổng. Năm 1912, thực dân Pháp mới mở Trường Tiểu học Pháp - Việt ở tỉnh lỵ với 125 học sinh và 270 học sinh ở các trường Sơ học bản xứ. Như vậy, sự chuyển đổi phương thức giáo dục từ Nho học đến Tân học diễn ra từ từ từng bước, không đột ngột.

Đến năm 1918, thực dân Pháp bãi bỏ hệ thống giáo dục Hán học. Quảng Ngãi cũng như các tỉnh khác có 2 bậc giáo dục: bậc Tiểu học Pháp - Việt và bậc Sơ học bản xứ thuộc hệ công lập. Nội dung giáo dục được tiến hành theo chương trình "bản xứ" (Indigène).

Bậc Tiểu học Pháp - Việt dạy trong 3 trường bị thể ở tỉnh thành, Bình Sơn, Mộ Đức; bậc Sơ học bản xứ dạy trong 8 trường sơ đẳng (Bình Sơn: 2 trường, Sơn Tịnh: 1 trường, Tư Nghĩa: 2 trường, Đức Phổ: 1 trường, Nghĩa Hành: 1 trường và 1 trường Nữ học sinh tại tỉnh thành) và 91 trường Dự bị (1933).

Năm học 1932 - 1933, số giáo viên là 233 người, số học sinh là 4.038 người, trong đó có 663 học sinh bậc Tiểu học Pháp - Việt.

Trong các năm từ 1923 đến 1933, mỗi năm có từ 20 đến 60 người đỗ tốt nghiệp Tiểu học Pháp - Việt và có từ 250 đến 650 người tốt nghiệp Sơ học yếu lược bản xứ.

Đến năm học 1944 - 1945, có 216 lớp Tiểu học với 11.246 học sinh và 252 giáo viên.

Sau khi tốt nghiệp Tiểu học, muốn tiếp tục học lên bậc Cao đẳng Tiểu học (Trung học đệ nhất cấp) và bậc Tú tài, học sinh phải ra Huế, Hà Nội hoặc vào Quy Nhơn, Sài Gòn. Đây là thành phần con em gia đình khá giả, công chức lớn. Vì vậy, số người đỗ bằng Thành chung và Tú tài ở Quảng Ngãi rất ít.

Trong khoảng 1937 - 1938, do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân (1936 - 1939), ở Quảng Ngãi nhiều trí thức tân học đã đứng ra thành lập các trường Tiểu học và Cao đẳng Tiểu học tư thục (tương đương cấp Trung học cơ sở ngày nay). Ông Trần Trọng Hải thành lập Trường Tiểu học tư thục Mai Xưa (dạy từ lớp Đồng ấu đến lớp Nhất) và ông Trần Vỹ đứng ra thành lập trường Nghĩa Lợi (có từ lớp Đồng ấu đến lớp 3) tại tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Tiếp đó, đến năm 1941, ông Lâm Tô Bích đứng ra thành lập Trường Trung học tư thục Cẩm Bàn, dạy từ lớp Đệ nhất đến lớp Đệ tứ (tương đương Trung học sơ sở ngày nay). Sau khi Nhật đảo chính Pháp (09.03.1945), Trường Cẩm Bàn ngừng hoạt động. Một nhóm nhà giáo được sự trợ giúp về kinh phí của một số nhà hảo tâm đã thành lập Trường Trung học tư thục Chấn Hưng. Trường này tổ chức 2 khóa thi tốt nghiệp, khóa đầu tiên vào tháng 6.1945 và khóa sau vào tháng 8.1945 để lấy bằng Thành chung. Cả 2 đợt thi chỉ có 8 người đỗ.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, chương trình giáo dục ở Quảng Ngãi cũng như của cả nước, hoạt động theo chương trình giáo dục của Chính phủ Trần Trọng Kim do Bộ trưởng giáo dục Hoàng Xuân Hãn khởi xướng, bắt đầu dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ từ bậc Tiểu học đến bậc Đại học.

Nội dung chương trình của giáo dục Tân học nhìn chung đã khắc phục được lối học hư văn, cử tử, xa rời thực tiễn của lối Nho học trước kia. Lối học theo khoa học đã khẳng định, Quốc ngữ đã xác lập bên cạnh tiếng Pháp, chữ Hán, đã xích gần với nền giáo dục hiện đại.

Thời kỳ Tân học hay Tây học khá ngắn ngủi, nhưng nó cũng có vai trò như thời kỳ bản lề. Nó đào luyện được một tầng lớp trí thức mới. Bên cạnh số trí thức phục vụ chế độ thực dân - phong kiến, thì từ lớp trí thức này ở Quảng Ngãi cũng xuất hiện nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như Tú tài Phạm Văn Đồng, Tú tài Trương Quang Trọng, Tú tài Nguyễn Thiệu (14); nhiều nhà giáo dục có nhiều đóng góp cho thời kỳ sau như Tú tài Nguyễn Tiên, Tú tài Phan Tiên, Tú tài Hồ Trọng Điềm, Nguyễn Vỹ, hoặc trở thành các nhà thơ nổi tiếng như Tế Hanh, Nguyễn Vỹ, Bích Khê (15)

Tuy vậy, giáo dục Tân học ở Quảng Ngãi ngoài nhược điểm chỉ mới là giáo dục cấp thấp, còn bộc lộ nhược điểm lớn là độ phổ biến, phổ cập của nó rất hạn chế, khiến đại đa số nhân dân còn mù chữ, giáo dục chưa lan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, đó là những vấn đề lớn để lại cho thời kỳ sau phải giải quyết.

II. GIÁO DỤC THỜI KỲ 1945 - 1954

1. CÁC NGÀNH HỌC, BẬC HỌC, LOẠI HÌNH TRƯỜNG LỚP

Giáo dục Quảng Ngãi trong 9 năm kháng chiến chống Pháp gồm có các ngành học là bình dân học vụ, bổ túc văn hóa và giáo dục phổ thông.

1.1. BÌNH DÂN HỌC VỤ VÀ BỔ TÚC VĂN HÓA

Ngay sau khi các Sắc lệnh 17, 18, 20 ngày 28.8.1945 được ban bố, thực hiện lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị "kháng chiến kiến quốc" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ở Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp từ tỉnh xuống xã, hô hào động viên mọi người đi học, đi dạy. Với khẩu hiệu: "Đi học là yêu nước! Dạy bình dân học vụ là yêu nước! Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước! Chống nạn mù chữ cũng như chống ngoại xâm! Giặc dốt diệt, Việt Nam cường", phong trào diễn ra rầm rộ với nhiều hình thức và biện pháp sinh động. Cha mẹ dạy con, con dạy cha mẹ, chồng dạy vợ, vợ dạy chồng, anh em trong nhà dạy nhau, nhà nhà học, cả làng, cả thôn học, ban ngày lao động, ban đêm đi học. Không có giấy dùng lá chuối phơi khô, không có mực, phấn thì dùng than, dùng que viết trên khay cát, sân cát. Người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người thoát mù dạy lại cho người chưa biết chữ. Có nhiều cụ già trên 60, 70 tuổi cũng đi học làm gương cho con cháu. Cán bộ, viên chức ban ngày làm việc cơ quan, ban đêm lên lớp làm thầy cô giáo. Lớp học được đặt ở khắp mọi nơi: trường học, đình chùa, miếu mạo, nhà dân… Cả tỉnh như một trường học lớn.

Một phong trào bình dân học vụ sôi nổi đã được xây dựng và phát triển đều khắp, liên tục, thu hút đông đảo nhiều tầng lớp nhân dân tham gia.

Bảng thống kê số liệu về bình dân học vụ ở đồng bằng Quảng Ngãi

Năm

Số lớp

Số giáo viên

Số học viên

Số mãn khóa

Ghi chú

1945

4.070

5.042

98.700

91.239

 

1946

2.103

3.498

191.800

142.617

 

1947

4.336

4.820

91.500

88.526

 

1948

6.430

4.350

96.780

94.255

 

1949

8.604

5.203

104.168

92.600

 

1950

1.593

2.324

40.986

36.270

 

1951

1.693

2.474

36.527

17.650

 

1952

-

-

-

-

Do ảnh hưởng nạn đói, phong trào giảm sút và tắt hẳn.

1953

280

 

5.969

 

 

1954

2.534

 

38.587

 

 

 

Nhờ phong trào diệt dốt diễn ra rầm rộ và đều khắp, đến ngày 12.12.1948, Tư Nghĩa là huyện đầu tiên của toàn miền Nam Trung Bộ thanh toán xong nạn mù chữ. Đến 31.12.1948, chỉ sau 3 năm thực hiện, trừ các huyện miền núi, tỉnh Quảng Ngãi thanh toán xong nạn mù chữ ở đồng bằng. Quảng Ngãi là một trong 10 tỉnh đầu tiên hoàn thành cơ bản việc thanh toán nạn mù chữ trong cả nước, được Chính phủ trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất về thành tích tăng gia sản xuất và thanh toán nạn mù chữ (16).

Ở miền núi, việc xóa nạn mù chữ khó khăn hơn ở đồng bằng, nhưng đến cuối năm 1948 đã có 5 trong số 18 xã hoàn thành thanh toán nạn mù chữ. Đến năm 1951, ở 4 huyện miền núi (Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long, Trà Bồng) đã có 83 giáo viên (một số giáo viên là người dân tộc thiểu số) dạy ở 80 lớp với 1.802 học viên. Sang đầu năm 1954, riêng huyện Sơn Hà đã có 50 lớp với 2.000 học viên theo học.

Trên cơ sở thanh toán nạn mù chữ, ngành học bổ túc văn hóa cũng được xây dựng và phát triển với nhiều bậc học, nhiều loại hình thích hợp với hoàn cảnh địa phương, thu hút đông đảo người học và giáo viên tham gia.

Bảng thống kê số liệu dự bị bổ túc

Năm

Số lớp

Số giáo viên

Số học viên

Số mãn khóa

Ghi chú

Trước 8.1947

43

50

917

 

 

1948

744

1.488

21.122

5.100

 

1949

2.294

6.222

79.541

31.200

 

1950

1.222

2.062

27.741

1.621

 

1951

2.295

2.041

63.784

33.125

 

1952

-

-

-

-

Do hạn hán, nạn đói, bị ngưng trệ.

1953

355

Giảm

7.791

 

 

1954

1.241

2.058

24.743

-

 

 

Bổ túc bình dân: hình thành và phát triển từ 1948, tồn tại đến 1951, theo chương trình của Sở Giáo dục bình dân học vụ miền Nam Trung Bộ. Học viên phần đông là cán bộ xã, giáo viên đa số là giáo viên của trường phổ thông ở địa phương.

Tính đến năm 1951, toàn tỉnh mở được 153 lớp với 5.487 học viên do 338 giáo viên dạy, mãn khóa 536 người.

Tiểu học bình dân: do các đoàn thể ở huyện mở.

Trung học bình dân: Trường Trung học Bình dân miền Nam Trung Bộ là trường của Liên khu V, được mở từ năm học 1947 - 1948. Có gần 50% tổng số học viên của toàn trường là người Quảng Ngãi. Ngoài ra, trường còn mở một số lớp Tiểu học bình dân và Trung học phổ thông tư thục. Đến niên khóa 1950 - 1951, trường đổi tên là Trường Bổ túc văn hóa cấp II (Liên khu V).

Lớp công nông: Để tăng cường học viên là công nông, năm 1950 tỉnh đã mở những lớp công nông 4 tháng do Ty Bình dân học vụ phụ trách. Học viên phần lớn là cán bộ xã. Chương trình học tương đương với cấp 1 bổ túc văn hóa.

Bổ túc nông thôn: Mở 1 lớp điển hình ở xã Tịnh Sơn (huyện Sơn Tịnh) vào đầu năm 1954, có 53 cán bộ, học viên học hết học kỳ I; do gần đến ngày tập kết nên giải thể.

1.2. GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Giáo dục phổ thông ở đồng bằng

Cùng với sự hình thành và phát triển ngành học Bình dân học vụ và Bổ túc văn hóa, giáo dục phổ thông ở Quảng Ngãi cũng từng bước được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, đều khắp, liên tục với đầy đủ các bậc học, loại hình trường theo chương trình học tương ứng của Bộ Giáo dục và trải qua hai giai đoạn: từ 1945 đến 1950 và từ 1950 đến 1954.

Giai đoạn I: từ 1945 đến 1950

Chủ trương của Chính phủ trong giai đoạn này là vẫn tạm sử dụng hệ thống, chương trình giáo dục của Hoàng Xuân Hãn nhưng có điều chỉnh, bổ sung, nhất là về khoa học xã hội trên cơ sở định hướng bảo đảm các nguyên tắc của nền giáo dục cách mạng: dân tộc, khoa học, đại chúng.

Sự thay đổi trong giáo dục phổ thông là dùng chữ Quốc ngữ làm chuyển ngữ và rút thời gian học bậc học Tiểu học từ 6 năm xuống 5 năm.

Ngay sau khi giành được chính quyền, năm học đầu tiên dưới chế độ mới được khai giảng vào ngày 15.9.1945, ngày đón nhận thư của Hồ Chủ tịch gửi cho học sinh nhân ngày khai trường.

Từ năm học này, giáo dục phổ thông ở vùng đồng bằng Quảng Ngãi bắt đầu phát triển với nhiều bậc học và loại hình trường.

Bậc tiểu học

Đến năm học 1946 - 1947, các xã trong tỉnh đều có trường Tiểu học, ít nhất có 2 lớp đầu bậc Tiểu học (lớp Năm, lớp Tư), nhiều thôn có trường (hương trường), mỗi huyện có từ một đến hai trường Tiểu học toàn cấp ở huyện lỵ hoặc khu vực (liên xã). Số lượng lớp học, trường học, học sinh và giáo viên không ngừng tăng lên.

So với năm học 1944 - 1945, năm học 1945 - 1946 có 314 lớp Tiểu học, với 23.083 học sinh (tăng 205%) và 572 giáo viên (tăng 27%). Sang năm học 1946 - 1947, có 305 trường Tiểu học với 22.687 học sinh.

Đến đầu năm học 1950 - 1951, có 40.617 học sinh, trong đó có 12.245 học sinh nữ, chiếm 27,5% trong tổng số học sinh Liên khu V. Mỗi xã có từ 1 đến 2 trường Tiểu học toàn cấp, mỗi thôn có từ 1 đến 2 điểm trường với 2 lớp đầu cấp (17).

Bậc trung học có nhiều loại hình trường.

Trường công lập: Đầu tháng 10.1945, Trường Trung học Lê Khiết được thành lập với 3 lớp (2 lớp đệ nhất và 1 lớp đệ nhị). Trường quản lý cả các lớp của Trường Nam Tiểu học (ở thị xã Quảng Ngãi, nay là thành phố Quảng Ngãi).

Sang năm học 1946 - 1947, Trường Lê Khiết phát triển thành trường trọn cấp gồm 7 lớp (3 lớp đệ nhất, 2 lớp đệ nhị, 1 lớp đệ tam, 1 lớp đệ tứ). Đến năm học 1947 - 1948, trường có 12 lớp và 1 lớp đệ nhất chuyên khoa Toán. Trường thu hút được khá đông học sinh quê ở Quảng Nam, Đà Nẵng và Huế vào học. Năm học 1948 - 1949, số lượng lớp tăng lên 18 lớp và đến năm học 1949 - 1950, tăng lên 24 lớp công lập, 10 lớp tư thục với 1.600 học sinh và
31 giáo viên.

Trường tư thục: Cùng với việc thành lập trường Lê Khiết, Trường Trung học tư thục Trần Du cũng ra đời gồm 3 lớp (gồm 1 lớp đệ nhất, 1 lớp đệ nhị, 1 lớp đệ tam), hoạt động trong năm học 1945 - 1946. Trường Trung học tư thục Lê Trung Đình được Mặt trận Việt Minh tỉnh thành lập trong năm học 1946 - 1947. Từ năm học 1947-1948, hệ thống trường tư thục ngày càng phát triển mạnh.

Từ một trường Lê Trung Đình, đến năm học này, có 4 trường mới ra đời, đó là Trường Trung học Nguyễn Nghiêm (huyện Đức Phổ), Trường Trung học Nguyễn Bá Loan (huyện Mộ Đức), Trường Tư Nghĩa (huyện Tư Nghĩa), Trường Trung học Nguyễn Tự Tân (huyện Bình Sơn). Các trường tư thục đã thu hút con em lao động nghèo khó, vùng sâu, vùng xa vào học.

Giai đoạn II: từ 1950 đến 1954

Từ năm học 1950 - 1951, cải cách giáo dục được tiến hành trên toàn quốc (vùng giải phóng). Hệ thống giáo dục phổ thông 11 năm (áp dụng từ năm học 1947 - 1948) cùng với chương trình cải tiến theo Hoàng Xuân Hãn bị bãi bỏ. Theo chương trình cải cách, bậc học giáo dục phổ thông 9 năm gồm 3 cấp học: cấp I (gồm các lớp 1, 2, 3, 4), cấp II (gồm các lớp 5, 6, 7), cấp III (gồm các lớp 8, 9). Ngoài ra, cần phải kể đến bậc học Mẫu giáo, bậc học chuẩn bị cho trẻ trước khi bước vào bậc giáo dục phổ thông.

Quảng Ngãi cùng các tỉnh miền Nam Trung Bộ triển khai cải cách giáo dục sớm, bắt đầu từ phong trào "Rèn cán, chỉnh hiệu" rầm rộ trong ngành và tổ chức cuộc vận động tuyên truyền cuộc cải cách giáo dục trong các đoàn thể (quân - dân - chính) và rộng khắp trong nhân dân.

Thực hiện chủ trương quốc lập hóa tất cả các trường tư thục, các trường Trung học tư thục ở đồng bằng đều trở thành trường Trung học công lập gọi là Trường phổ thông cấp II, mỗi trường có từ 8 đến 13 lớp. Trường Lê Khiết trở thành Trường phổ thông cấp II, III.

Đến năm 1952, các trường tư thục Tiểu học, Trung học được mở lại với 6 trường cấp II gồm 39 lớp và 40 giáo viên.

Từ năm 1952, Quảng Ngãi đi đầu trong toàn Liên khu V trong việc chuẩn bị cho trẻ biết đọc, biết viết, biết làm toán trong phạm vi 10 để vào lớp 1. Hệ thống trường Mẫu giáo (vỡ lòng) được thành lập và phát triển mạnh theo phương châm đoàn thể, quần chúng cùng nhau tổ chức và chăm lo Mẫu giáo, đi đầu là Hội phụ nữ các cấp với các loại trường Mẫu giáo dân lập, Mẫu giáo tư thục và Mẫu giáo gia đình.

Mặc dù có nhiều biến động do chuẩn bị cho cuộc tổng phản công theo chủ trương của Đảng (1950), do nạn đói (1952) và việc giảm biên chế giáo viên, nhưng số học sinh vẫn tăng nhiều ở các cấp theo bảng thống kê dưới đây:

Thống kê số liệu giáo dục phổ thông Quảng Ngãi giai đoạn II (1950 - 1954)

Số liệu
giáo
dục  

Năm
học

Mẫu giáo
(vỡ lòng)
tổng số cháu

Phổ thông cấp I

Tổng số lớp (L)

Tổng số học sinh

Tổng số giáo viên

Số lớp

L1

L2

L3

L4

Tổng số

Nữ

1950 -1951

Tính trong lớp 1

813

348

216

145

104

35.828

1.056

856

1951

Tính trong lớp 1

699

280

210

127

82

21.396

6.352

352

1951

19.003 (6.934 nữ)

686

240

224

126

96

22.339

6.528

400

1951

 

9221

392

263

158

109

38.961

13.075

600

 

Số liệu
giáo
dục  

Năm
học

Mẫu giáo
(vỡ lòng) tổng số cháu

Phổ thông cấp II

Tổng số lớp (L)

Tổng số học sinh

Tổng số giáo viên

Số lớp

L5

L6

L7

L8

L9

Tổng số

Nữ

1950 -1951

Tính trong lớp 1

69

41

24

3

1

1

2.726

471

105

1951

Tính trong lớp 1

57

22

19

13

2

1

2.563 (137)

386
(9 nữ)

59

1951

19.003
(6.934 nữ)

60

29

15

13

2

1

3.064 (160)

436
(4 nữ)

63

1951

 

72

37

20

12

2

1

3.998 (210)

433
(6 nữ)

85

 
Giáo dục phổ thông ở miền núi

Giáo dục phổ thông ở các huyện miền núi trong những năm đầu sau khi Cách mạng tháng Tám thành công phát triển chậm hơn dân học, trường lớp được tổ chức giống như dân học. Tỉnh đã thành lập một trường cho đồng bào dân tộc ít người. Từ năm 1948, các huyện miền núi (Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ) đều có trường lớp phổ thông trực thuộc Ty Giáo dục phổ thông Quảng Ngãi; từ 1952 đến 1954 trực thuộc Ban Chính trị miền Tây Liên khu V.

Năm 1953, ở 4 huyện miền núi Quảng Ngãi có 23 lớp với 356 học sinh, 12 giáo viên hưởng sinh hoạt phí theo chế độ quân sự.

Năm 1954, các huyện miền núi có 18 trường (trong đó có 2 trường cấp I toàn cấp cho học sinh người Kinh ở Ba Tơ), với 2.712 học sinh và 96 giáo viên (trong đó 37 giáo viên là người dân tộc thiểu số).

Việc dạy học ở miền núi gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về tài liệu giáo khoa, tài liệu hướng dẫn, nội dung dạy học chưa thích hợp, trình độ giáo viên và học sinh đều yếu kém. Tuy vậy, đây là thời kỳ đầu tiên giáo dục lan rộng lên miền núi, đến đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi.

2. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ TÀI LIỆU GIÁO KHOA

Từng bước được cải tiến từ 1950 cùng với cuộc cải cách giáo dục ở các vùng tự do trong cả nước, coi trọng phương châm "học đi đôi với hành, lý luận kết hợp với thực tiễn" theo tinh thần "dân tộc, khoa học và đại chúng", gắn liền với các nhiệm vụ "kháng chiến, kiến quốc" phục vụ nhân dân. Một số môn học mới như tăng gia sản xuất, giáo dục chính trị được đưa vào chương trình. Các môn học thuộc lĩnh vực xã hội nhân văn chú trọng các vấn đề thời sự chính sách, giáo dục công dân, văn chương cách mạng và kháng chiến, lịch sử cách mạng Việt Nam và địa lý Việt Nam.

Trong năm học 1945 - 1946, bắt đầu sử dụng tài liệu giáo khoa mới, trước hết là các môn khoa học xã hội của Bộ Giáo dục tổ chức biên soạn.

Từ cuối năm 1946, trong hoàn cảnh toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước bị chia cắt, việc lưu thông tài liệu học tập khó khăn, vì thế một số giáo viên có trình độ và tâm huyết đã chủ động nghiên cứu viết sách, dịch hoặc biên tập lại sách giáo khoa, bài dạy trong nhà trường cũ cho phù hợp với yêu cầu của giáo dục cách mạng. Quyển "Văn tuyển nhất nhị niên" của Nguyễn Vỹ là một điển hình.

Để đảm bảo tài liệu giáo khoa dạy học, Sở Giáo dục miền Nam Trung Bộ đã tiến hành triệu tập giáo viên các tỉnh đến các trại tu thư biên soạn tài liệu giáo khoa về các môn tập đọc, từ ngữ, giáo dục công dân cho các lớp nhất, nhì, ba sách vần quốc ngữ; giảng văn mẫu lớp 5, 6, 7; sử lớp 5, lớp 6; tập đọc lớp 1, lớp 2; vạn vật lớp 5, lớp 6; toán lớp 5; hóa lớp 6, vv.

Ty Giáo dục Quảng Ngãi cũng chỉ đạo các trường tổ chức biên soạn và duyệt sách bài dạy tập thể. Trường Trung học Lê Khiết là nhà trường đã tiên phong đẩy mạnh hoạt động này. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo viên được bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ bằng nhiều phương thức: hội nghị chuyên đề, phê phán tài liệu, soạn bài tập thể, mở các lớp sư phạm tại Trường Trung học Lê Khiết và các lớp sư phạm do Sở Giáo dục miền Nam Trung Bộ tổ chức.

3. CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

Ngoài việc giảng dạy và học tập, giáo viên và học sinh các cấp đều tham gia chương trình lao động, tăng gia sản xuất tự túc, tự cấp, tham gia trưng binh, tòng quân, xếp bút nghiên lên đường tranh đấu. Phong trào nhập ngũ sôi nổi diễn ra ở các trường vào lúc cả nước náo nức "chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công" (1950) và cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954.

Mặt khác, thầy - trò còn tích cực tham gia các công tác xã hội: biểu tình cổ động bầu cử Quốc hội khóa I, biểu tình phản đối thực dân Pháp bội ước gây hấn ở Nam Bộ, tiễn đưa các đoàn quân Nam tiến, tuyên truyền công tác Bình dân học vụ, thuế, vệ sinh, xây dựng đời sống mới, tham gia lạc quyên sắm áo rét cho "mùa đông chiến sĩ", tham gia dạy bình dân học vụ. Thầy - trò còn tham gia luyện tập quân sự, đào hầm hào, canh gác, bố phòng, đắp đập làm thủy lợi, thu thuế, tham gia dân công, dân quân du kích, tham gia phong trào "tam tinh - tứ diệt", cứu chống đói, xây dựng trường trại, tu sửa bàn ghế, giúp đỡ thương binh và gia đình liệt sĩ, đặc biệt là tham gia phong trào thi đua ái quốc với khẩu hiệu "tuổi nhỏ làm việc nhỏ", ủng hộ quỹ kháng chiến 25.400 đồng.

4. BỘ MÁY TỔ CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC

Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy hành chính quản lý giáo dục cấp tỉnh gồm 2 ty: Ty Tiểu học Quảng Ngãi với nhiệm vụ chủ yếu là thanh tra bậc Tiểu học kiêm cả bậc Trung học, Ty Bình dân học vụ Quảng Ngãi làm nhiệm vụ kiểm soát Bình dân học vụ các cấp. Tháng 10.1950, Ty Tiểu học giải thể và Ty Giáo dục phổ thông Quảng Ngãi thành lập. Tháng 2.1952, Ty Giáo dục Quảng Ngãi được thành lập trên cơ sở sáp nhập Ty Giáo dục phổ thông và Ty Bình dân học vụ. Ty có 3 ban là: Ban Dân học, Ban Phổ thông và Ban Thanh tra.

Hệ thống trường lớp do tỉnh quản lý gồm các loại hình trường Trung học (Trung học cơ sở, Trung học phổ thông), Tiểu học, Bình dân học vụ, Bổ túc văn hoá, trường Sư phạm; do Khu và Trung ương quản lý gồm các trường quân sự và văn hoá phổ thông (Trường Lục quân, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Trường Trung học Lê Khiết, Trường Trung học Bình dân miền Nam Trung Bộ).

Công đoàn giáo dục tỉnh được thành lập. Ở huyện, xã có phân đoàn giáo dục. Công đoàn đã phát động nhiều phong trào thi đua trong cán bộ giáo viên như: "rèn cán chỉnh hiệu", "phong trào sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ" (1952), "phong trào thi đua Ngô Gia Khảm" (1953 - 1954).

Từ năm học 1950 - 1951, Tỉnh đoàn học sinh Quảng Ngãi được thành lập. Trong các nhà trường, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Hiệu trưởng, Công đoàn, Hiệu đoàn phối hợp điều hành các hoạt động.

Các tổ chức giúp giáo dục cũng được thành lập như Hội đồng giáo dục các cấp (tỉnh, xã), các "Quỹ học tập cán bộ", "Hội bảo trợ học đường", "Hội khuyến học", "Hội phụ huynh học sinh", vv.

Tóm lại, mặc dầu còn nhiều khó khăn về vật chất, vừa phải luôn đối phó với nguy cơ xâm lược và phá hoại của kẻ địch, vừa phải làm tròn nghĩa vụ của hậu phương đối với cuộc kháng chiến, song Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Quảng Ngãi đã phát huy truyền thống hiếu học, tinh thần yêu nước và cách mạng, đã xây dựng và phát triển ngành giáo dục cả về quy mô, hệ thống mạng lưới trường lớp, ngành học và chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến kiến quốc ở địa phương và cả nước.

Giáo dục thời kỳ 1945 - 1954 đã đặt nền tảng cho nền giáo dục cách mạng ở các thời kỳ sau. Từ nền giáo dục thời kỳ này, đặc biệt từ các trường Trung học Lê Khiết và Trung học Bình dân miền Nam Trung Bộ, rất nhiều thầy và trò đã tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho đất nước ở các thời kỳ sau. Có những người từng giữ những cương vị cao trong bộ máy của Đảng và Nhà nước như Đỗ Quang Thắng (ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng), Trần Đức Lương (Chủ tịch nước). Có những người trở thành các nhà giáo dục hàng đầu của đất nước như các Giáo sư Nguyễn Lộc, Phương Lựu (Bùi Văn Ba), Nguyễn Tấn Đắc, Nguyễn Gia Đồng, Trần Nghĩa, Phan Ngọc Liên, Võ Quang Nhơn… Nhiều người trở thành các văn nghệ sĩ nổi tiếng, như nhà thơ Tế Hanh, các nhạc sĩ Vân Đông, Trương Quang Lục, các họa sĩ Đường Ngọc Cảnh, Nguyễn Thế Vinh… Những đóng góp của giáo dục thời kỳ này rất lớn và khó có thể thống kê hết. Truyền thống hiếu học của nhân dân Quảng Ngãi từ thời Nho học đã phát triển một bước mới.

III. GIÁO DỤC THỜI KỲ 1954 - 1975

1. GIÁO DỤC TRONG VÙNG TẠM CHIẾM

Tháng 10.1954, chính quyền Sài Gòn tiếp quản khu vực từ phía Bình Sơn đến bắc sông Vệ và đến tháng 5.1955 thì kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi. Các bậc học, ngành học và loại hình trường với hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm ra đời.

1.1. CÁC BẬC HỌC

Bậc Mẫu giáo: được tổ chức tại các cơ sở giáo dục tư nhân.

Bậc Sơ học, Tiểu học: gồm có 5 lớp (1, 2, 3, 4, 5), với các loại hình trường công lập, cộng đồng, bán công, tư thục, ấp tân sinh và định cư.

Người Hoa ở Quảng Ngãi thành lập Trường Tiểu học tư thục Khải Đức tại thị xã Quảng Ngãi để dạy cho con em Hoa kiều. Ngoài ra, còn có Trường Trung học xã hội dành cho con em nghèo khó và học sinh người sắc tộc, Trường Lữ Đình Sơn dành cho con em binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn,...

Bậc Tiểu học ở thị xã Quảng Ngãi cũng được tổ chức theo giới tính: Trường Nam Tiểu học và Trường Nữ Tiểu học.

Số lượng trường, lớp, giáo viên và học sinh bậc Sơ học (gồm lớp 1, 2, 3) và Tiểu học trong năm học 1966 - 1967 được phân chia như sau: 

Loại hình trường

Số trường

Số lớp

Số giáo viên

Số học sinh

Trường công lập

40

264

252

13.471

Trường cộng đồng

22

222

220

12.618

Trường tư thục

18

53

43

2.396

Trường ấp tân sinh và định cư

104

402

381

19.359

Tổng cộng

184

941

896

47.844

 
Bậc Trung học:
Từ 1954 đến 1960, hệ thống Trường trung học (gồm Đệ nhất cấp và Đệ nhị cấp) được hình thành với nhiều loại hình trường và ngành học.

Trường công lập có Trường Trần Quốc Tuấn thành lập từ 1955. Trường bán công và tư thục gồm có các trường: Chấn Hưng (1956), Bồ Đề (1956), Kim Thông (1957), Đăng Khoa (1957), Nguyễn Công Trứ (1957), Lê Trung Đình (1957), Tự Lực (1957), Lê Văn Duyệt (1957), Hùng Vương (tách ra từ trường Chấn Hưng, 1960). Trong những năm sáu mươi và bảy mươi thế kỷ XX, một số trường Trung học khác tiếp tục được thành lập. Trường công lập có các trường: Thu Xà, Nữ Trung học, Quảng Ngãi nghĩa thục… Trường tư thục gồm có các trường: Văn Hiến, Huỳnh Thúc Kháng, Hưng Đạo, Thiên Phước... Một số trường dạy nghề công lập cũng được thành lập như Trường Kỹ thuật, Trường Nông lâm súc.

Năm 1960, Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên chính quyền Sài Gòn có chủ trương xây dựng một số trường Trung học vừa dạy kiến thức, vừa dạy nghề gọi là Trường Trung học tổng hợp như Trường Trần Quốc Tuấn.

Số lượng trường, lớp, giáo viên và học sinh được phân chia như sau trong năm học 1966 - 1967: 

Loại hình trường

Số trường

Số lớp

Số giáo viên

Số học sinh

Trường công lập

6

80

91

3.917

Trường bán công

3

14

16

895

Trường tư thục

7

71

74

4.958

Trường kỹ thuật

1

5

5

80

Tổng cộng

17

170

186

9.850

Ngoài các bậc học, ngành học trên, còn có chương trình Bình dân giáo dục và thanh toán nạn mù chữ. Năm học 1966 - 1967 có 5 lớp với 295 học sinh. Trường tư thục đánh máy chữ có 3 trường và 3 lớp với 85 học viên trong năm học 1966 - 1967.

Giáo dục Phổ thông Trung học gồm có 2 cấp và học trong thời gian 7 năm: Đệ nhất cấp gồm có 4 lớp (đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, sau đổi thành lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9); Đệ nhị cấp gồm 3 lớp (đệ tam, đệ nhị, đệ nhất sau đổi thành các lớp 10, 11, 12)

Từ năm học 1958 - 1959, Quảng Ngãi mới bắt đầu có Đệ nhị cấp. Trường Trần Quốc Tuấn là trường đầu tiên mở cấp học này, nhưng mãi đến năm học 1962 - 1963 mới có đầy đủ các lớp Đệ nhị cấp. Vì vậy, trước khoảng thời gian này (1958 - 1962), nhiều học sinh Quảng Ngãi phải ra Huế, Đà Nẵng hoặc vào Quy Nhơn, Sài Gòn để học các lớp Đệ nhị cấp.

Học sinh Đệ nhị cấp học theo chương trình chuyên ban với các ban: A (vạn vật, hoá học), B (toán, vật lý), C (văn chương, ngoại ngữ, sử, địa), D (ngoại ngữ, cổ văn) và phải trải qua hai kỳ thi tốt nghiệp: Tú tài I (còn gọi là Tú tài bán phần sau khi học xong lớp đệ nhị - lớp 11), Tú tài II (còn gọi là Tú tài toàn phần sau khi học xong lớp đệ nhất - lớp 12). Trước năm 1966, học sinh Quảng Ngãi phải ra Huế, Đà Nẵng hoặc vào Quy Nhơn để thi các bậc Tú tài. Đến năm 1971, việc thi Tú tài I bị bãi bỏ.

Việc thi Tú tài các bậc được tổ chức khá nghiêm ngặt và tốn kém. Mỗi năm chỉ có khoảng trên dưới 30% tổng số học sinh lớp 11, 12 đỗ Tú tài. Chỉ riêng kỳ thi Tú tài toàn phần năm 1974 theo hình thức trắc nghiệm IBM mới có gần 50% thí sinh thi đỗ.

1.2. CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY

Vận dụng theo chương trình các nước Âu - Mỹ, có cách tân cho phù hợp với điều kiện Việt Nam do Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên chính quyền Sài Gòn ban hành.

1.3. TÀI LIỆU HỌC TẬP VÀ GIẢNG DẠY (SÁCH GIÁO KHOA)

Bậc Tiểu học do Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên tổ chức biên soạn và ấn hành; bậc Trung học thì dựa trên khung chương trình của Bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên ban hành, giáo viên và học sinh có thể sử dụng các tài liệu giáo khoa khác nhau, do các cá nhân và tập thể biên soạn.

Mặc dù việc dạy học thời kỳ này có khó khăn phức tạp do tác động của chiến tranh nhưng học sinh Quảng Ngãi cũng đã cố gắng học hành, tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, học giỏi, và Quảng Ngãi đã trở thành địa phương có tiếng về trình độ học vấn của học sinh ở miền Trung dưới chế độ Sài Gòn. Trình độ dân trí có phần được nâng cao.

2. GIÁO DỤC Ở VÙNG GIẢI PHÓNG

Sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng tiếp tục phát triển trên cơ sở kế thừa những kết quả đạt được trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng chỉ thực sự được hình thành từ năm 1958, khi phong trào cách mạng được phục hồi và giữ vững, bắt đầu ở vùng căn cứ địa mà trung tâm là núi Cà Đam. Đây là lúc Tỉnh ủy quyết định chia vùng căn cứ miền núi Quảng Ngãi thành 8 khu (không có Khu VIII) để thuận lợi cho việc chỉ đạo kháng chiến. Cả 8 khu miền Tây Quảng Ngãi đều đồng loạt mở các lớp Bổ túc văn hoá tập trung. Lớp Bổ túc văn hoá tập trung đầu tiên được khai giảng tại ranh giới giữa 2 xã Trà Khê và Trà Quân ngày 05.10.1958 với 50 học viên là cán bộ huyện, cán bộ chủ chốt và cơ sở ở các xã, thôn, nóc.

Những năm 1960 - 1963, bộ phận giáo dục trong Ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy hình thành. Cùng với việc mở rộng vùng giải phóng, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng và phát triển giáo dục với khẩu hiệu: Diệt giặc dốt, giặc đói và giặc ngoại xâm. Tháng 6.1961, tỉnh mở trường Bổ túc văn hoá Thanh niên và Bổ túc văn hoá Cán bộ ở vùng giáp ranh, mỗi trường có từ 2 đến 3 lớp với số lượng học viên mỗi khoá từ 60 đến 80 người. Đến cuối năm 1963, trong tỉnh đã có 25 lớp cấp 1 ở miền núi, 15 lớp Bổ túc văn hoá cho cán bộ, nhiều thôn xã có một số lớp học xoá mù chữ, nhiều xã thôn miền núi đã có lớp vỡ lòng và lớp 1, 2 phổ thông. Tuy nhiên, những năm này, giáo dục chưa phát triển sâu rộng, bộ máy quản lý giáo dục của tỉnh, huyện chưa hình thành độc lập.

Trước tình hình phát triển của cách mạng miền Nam, khi các vùng giải phóng được mở rộng, yêu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu đào tạo nhân lực cho sự nghiệp cách mạng tăng lên, Trung ương và Bộ Giáo dục đã liên tiếp chi viện cho miền Nam nói chung, Quảng Ngãi nói riêng nhiều cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên. Ngày 23.9.1964, đoàn đầu tiên gồm 16 cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cấp II, III là con em Quảng Ngãi được điều về chi viện cho tỉnh nhà, sau đó, tiếp tục có nhiều đoàn khác từ miền Bắc, từ Khu V trở về đã góp phần đáng kể cho yêu cầu phát triển giáo dục của quê hương.

Đầu năm 1965, tỉnh Quảng Ngãi đã thành lập Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, 10 huyện trong tỉnh lần lượt thành lập bộ phận phụ trách giáo dục. Những năm 1964 - 1965, phong trào xoá mù chữ và Bổ túc văn hoá tiếp tục được nhân rộng. Giữa năm 1965 đã có 36 lớp học xoá mù chữ với hơn 1.000 học viên ở các xã, thôn vùng giải phóng. Tháng 5.1965, xã Ba Khâm (huyện Ba Tơ) được công nhận là ngọn cờ xoá mù chữ của miền Trung Trung Bộ và được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Ba. Toàn vùng giải phóng trong tỉnh có 594 lớp Bổ túc văn hoá. Những năm này, hầu hết các xã vùng giải phóng đều đã có trường cấp I phổ thông gồm 146 lớp với khoảng 5.000 học sinh. Trường cấp II phổ thông được mở ở hầu hết các huyện giải phóng ở đồng bằng, đầu tiên là Trường Phổ thông cấp II Mộ Đức (đặt tại xã Đức Phong), sau đó là các trường Phổ thông cấp II huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Bình Sơn, Đức Phổ. Mỗi trường có từ 3 đến 7 lớp với khoảng từ 120 đến 200 học sinh. Toàn tỉnh có 21 lớp với khoảng 850 học sinh.

Chương trình dạy học thời gian đầu vẫn thực hiện theo chương trình của những năm kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1965, Tiểu ban Giáo dục tỉnh đã có bộ phận biên soạn tài liệu, chương trình giáo khoa cho các trường theo phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng, với mục tiêu đào tạo học sinh thành người cán bộ tốt, lao động giỏi để phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng đất nước. Chương trình học được soạn theo chương trình 10 năm của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trong đó, phổ thông cấp I là 4 năm, phổ thông cấp II là 3 năm và phổ thông cấp III là 3 năm.

Năm 1965 là năm thực sự đánh dấu một bước phát triển về quy mô, hệ thống trường lớp, về định hướng mục tiêu giáo dục, nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục, về tài liệu, sách giáo khoa, về quá trình xây dựng bộ máy quản lý giáo dục và xây dựng đội ngũ giáo viên.

Sau thời kỳ phải thực hiện các giải pháp tình thế, như người biết chữ dạy người chưa biết chữ, đào tạo cấp tốc, đào tạo giáo viên cấp I, bồi dưỡng giáo viên cấp II... việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên với quy mô, chất lượng cao hơn đã được đặt ra khá cấp bách. Tháng 3.1966, Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định mở Trường Sư phạm (đặt tại Gò Chè, xã Long Sơn, huyện Minh Long) để đào tạo giáo viên theo phương thức chính quy, nhằm đảm bảo nhu cầu dạy học và nâng cao trình độ thầy - trò ở vùng giải phóng. Thời gian đào tạo ngắn, chương trình chưa hoàn chỉnh, nhưng bước đầu đã hình thành được một nhà trường sư phạm trong hoàn cảnh kháng chiến. Từ năm 1964 - 1967 còn có Trường Trung cấp Sư phạm Khu V do Tiểu ban Giáo dục khu mở tại Ba Tơ. Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng trường đã đào tạo hàng trăm giáo viên cấp II cho toàn Khu V.

Sau chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, nhiều thanh niên có trình độ văn hoá phổ thông đệ nhất, đệ nhị cấp ở vùng tạm chiếm và vùng giải phóng xung phong tham gia kháng chiến. Trường Sư phạm đồng bằng được thành lập (đặt tại xã Sơn Cao, huyện Sơn Hà) và chiêu sinh khoá đầu tiên với 51 học viên. Tháng 12.1969, huyện Trà Bồng và huyện Bình Sơn được công nhận hoàn thành xoá mù chữ (Bình Sơn được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Ba). Nhiều xã ở các huyện Đức Phổ, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh cũng đã hoàn thành xoá mù chữ.

Từ 1970, khi vùng giải phóng được mở rộng, nhiều huyện đồng bằng như Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Đức Phổ đã có trường Bổ túc văn hoá tập trung. Tỉnh mở thêm Trường Bổ túc văn hoá miền núi (1971), Trường Phổ thông cấp II - III tại xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ (1972).

Đến năm học 1969 - 1970, giáo dục phổ thông vùng giải phóng có: 120 trường cấp I với 418 lớp và 12.500 học sinh; 10 trường cấp II với 41 lớp và 943 học sinh; một số lớp cấp III. Đội ngũ giáo viên có: 439 giáo viên cấp I, 32 giáo viên cấp II và III. Cuối năm 1972, 29 cán bộ, giáo viên cấp II, III từ miền Bắc và một số cán bộ, giáo viên từ Khu V đưc tiếp tục chi viện cho tỉnh.

Giai đoạn 1973 - 1975, tỉnh chủ trương tiếp tục đẩy mạnh xoá mù chữ và bổ túc văn hoá cho cán bộ, nhân dân, đặt ra chỉ tiêu là hết năm học 1974 - 1975 phải hoàn thành việc xoá mù chữ cho 50% số xã vùng giải phóng, tiếp tục chiêu sinh cán bộ, chiến sĩ đi học tại các trường Bổ túc văn hoá tập trung ở tỉnh, huyện, phát triển nhanh các trường lớp Phổ thông, vận động thu hút trẻ em đến trường, khẩn trương đào tạo giáo viên cấp I, II để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục các vùng mới giải phóng.

Đầu năm học 1974 - 1975, có 1.948 học viên tại các trường Bổ túc văn hoá tỉnh, huyện (trong đó, có 1.400 học viên là cán bộ người dân tộc thiểu số), 1.462 học viên học Bổ túc văn hoá ở xã, 263 học viên học Bổ túc văn hoá tại chức tại các cơ quan, đơn vị quân đội. Tỉnh mở Trường Phổ thông nội trú cấp I, II tại xã Ba Ngạc, huyện Sông Rhe (Ba Tơ ngày nay) cho học sinh là con liệt sĩ, thương binh, con em cán bộ người dân tộc thiểu số, với 85 học sinh khóa đầu tiên (sau 1975, trường chuyển về đồng bằng trở thành Trường Nội trú 1/6 của tỉnh); Trường Phổ thông vừa học - vừa làm 19/5 tại xã Sơn Trung, huyện Sơn Hà với 170 học sinh trong năm học đầu tiên.

Bảng thống kê số liệu giáo dục phổ thông trước ngày giải phóng

Cấp, bậc học

Số trường

Số lớp

Số học sinh

Số giáo viên

Ghi chú

Cấp I

160

554

14.692

1.876

 

Cấp II, III

8

35

1.047

342

92 giáo viên cấp III

Cộng

168

589

15.739

 

2.310 giáo viên

Bộ máy tổ chức - quản lý giáo dục dần hoàn chỉnh. Ban Giáo dục tỉnh được thành lập với 3 cán bộ lãnh đạo và 4 phòng, ban. Ban Giáo dục các huyện với 8 - 10 cán bộ, có bộ phận quản lý giáo dục Phổ thông và Bổ túc văn hoá riêng. Cơ sở vật chất trường lớp dần được củng cố, tuy hầu hết vẫn phải trong tình trạng dã chiến. Sau thời kỳ tự biên soạn và in ấn thủ công, đến giai đoạn này, sách giáo khoa, tài liệu đều do Nhà xuất bản Giáo dục Giải phóng ấn hành. Các tài liệu, giáo trình cung cấp từ miền Bắc ngày càng nhiều.

Trường Sư phạm tỉnh chuyển về Đồng Gáo thuộc xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành (1973), chính thức mang tên Trường Sư phạm Đồng bằng và tiếp tục tuyển sinh khoá 3, khoá 4 với 170 giáo sinh (18).

Trường Sư phạm Miền núi được tái lập từ năm 1973 (hình thành từ tháng 7.1972) tại xã Sơn Thủy, huyện Sơn Hà, tiếp tục tuyển sinh khoá 2 với 70 giáo sinh (19).

Hệ thống trường lớp ở vùng giải phóng bao gồm các loại hình: trường Bổ túc văn hoá, trường Tiểu học (cấp I), trường Trung học (cấp II, cấp III - trong đó bao gồm cả loại hình trường vừa học - vừa làm), trường nội trú cấp I , II, trường Sư phạm.

Nội dung và phương pháp giáo dục: gắn học với hành, nhà trường gắn liền với lao động sản xuất và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hầu như tất cả các phương tiện sẵn có đều trở thành giáo cụ để học tập, giảng dạy, để tổ chức lớp học. Vừa giảng dạy - học tập, vừa tham gia sản xuất, phục vụ chiến đấu, sẵn sàng tòng quân nhập ngũ và sẵn sàng cho yêu cầu tiếp quản giáo dục vùng tạm chiếm, đó là một trong những đặc trưng của giáo dục thời chống Mỹ, cứu nước.

Giáo dục cách mạng Quảng Ngãi không chỉ nâng cao trình độ dân trí cho cán bộ, nhân dân vùng giải phóng mà còn góp phần cung cấp cho cách mạng một lực lượng cán bộ đông đảo, góp phần đưa cuộc kháng chiến ở địa phương sớm đi đến thắng lợi.

IV. GIÁO DỤC THỜI KỲ 1975 - 2005

1. NĂM ĐẦU TIÊN SAU GIẢI PHÓNG

1.1. HỆ THỐNG TRƯỜNG LỚP

Ngay sau giải phóng, Quảng Ngãi tiến hành tiếp quản hệ thống, cơ sở giáo dục của chính quyền cũ, ổn định việc tổ chức dạy học tại các cơ sở giáo dục trên phạm vi toàn tỉnh chỉ sau một vài tuần. Giữa tháng 4.1975, Tỉnh ủy quyết định thành lập Ty Giáo dục theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục; công lập hoá toàn bộ hệ thống trường học, xoá hệ thống trường tư thục, bán công, kỹ thuật, các trường dành riêng cho nữ sinh, nam sinh, trường học dành riêng cho Hoa kiều, cho các đối tượng ưu tiên trong chế độ cũ hoặc do các đạo giáo thành lập.

Trong năm học đầu tiên sau ngày giải phóng, toàn tỉnh có 2.237 lớp học với 85.116 học sinh phổ thông, trong đó, cấp I có 1.913 lớp với 69.634 học sinh, cấp II - III có 324 lớp với 15.482 học sinh.

Năm học 1975 - 1976, những thành tựu của giáo dục vùng giải phóng cũ vẫn tiếp tục được duy trì. Các lớp Bổ túc văn hoá tại thôn, xã thu hút được 2.252 học viên, các trường Bổ túc văn hoá tỉnh, huyện có 435 học viên; Trường Phổ thông nội trú tỉnh có 70 học sinh; Trường Dạy nghề 19/5 có 118 học viên; 2 trường Sư phạm của tỉnh tiếp tục đào tạo 118 giáo sinh.

Khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ là cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy học và đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên giảng dạy các bộ môn khoa học xã hội.

1.2. ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

Số giáo viên lưu dụng được tổ chức học tập, bồi dưỡng ngắn ngày nhiều đợt để tiếp thụ chương trình, nội dung sách giáo khoa mới. Đội ngũ giáo viên từ vùng giải phóng, từ miền Bắc trở về hoặc tăng viện từ các tỉnh phía Bắc được bổ sung kịp thời tại các trường học để tổ chức dạy học.

1.3. CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY

Sử dụng chương trình, sách giáo khoa của chương trình giảng dạy đã áp dụng tại vùng giải phóng. Học sinh sử dụng sách giáo khoa thống nhất do Nhà xuất bản Giáo dục Giải phóng ấn hành. Năm học 1974 - 1975, ngay từ những tuần lễ đầu sau ngày giải phóng, các trường cấp III (cấp Trung học phổ thông) xoá phân ban để tổ chức học chung. Tuy nhiên, từ đầu năm học 1975 - 1976, tái lập 3 phân ban ở cấp học này, gồm: ban A (học tập trung các môn văn - sử - địa), ban B (hoá - sinh), ban C (toán - lý).

1.4. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

Đẩy mạnh việc tổ chức xoá nạn mù chữ, phong trào bình dân học vụ. Phương pháp giáo dục đề cao phương châm gắn học với hành, nhà trường gắn liền với lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

2. NHỮNG NĂM SÁP NHẬP TỈNH NGHĨA BÌNH (1976 - 1989)

Trong giai đoạn này, sự nghiệp giáo dục ở Quảng Ngãi vẫn tiếp tục hoà nhập theo quá trình phát triển của cả nước và đã có nhiều thành tựu đáng kể. Ngày 30.4.1977, tỉnh Nghĩa Bình đã cơ bản hoàn thành xoá nạn mù chữ và đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Riêng trên địa bàn Quảng Ngãi có một số địa phương, trường học được xây dựng, đầu tư thành điểm sáng của giáo dục Nghĩa Bình, Nhà nước đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho các huyện Bình Sơn, Mộ Đức, tặng Bằng khen cho huyện Sơn Tịnh và các xã Đức Tân, Đức Nhuận (huyện Mộ Đức), Bình Trung (huyện Bình Sơn), Trà Tân (huyện Trà Bồng)... Các Trường cấp II Trần Hưng Đạo (thị xã Quảng Ngãi), Tịnh Sơn (huyện Sơn Tịnh),... là những trường điểm của các bậc học trong thời điểm này.

Đây là giai đoạn phát triển nhanh nhất hệ thống trường lớp ở Quảng Ngãi.

2.1. HỆ THỐNG TRƯỜNG LỚP

Gồm các loại hình sau:

Trường Mầm non: gồm hệ thống trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo.

Trường Phổ thông: chia thành 3 cấp học: cấp I, cấp II (chung trong một loại hình trường Phổ thông cơ sở) và cấp III (Phổ thông trung học). Trong đó có Trường Nội trú cấp I, II dành cho con em gia đình liệt sĩ. Chủ trương xây dựng hệ thống trường chuyên, lớp chọn để đầu tư cho việc chọn học sinh giỏi các cấp học.

Trung tâm kỹ thuật, nghề: để hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cấp II, cấp III.

Trường Bổ túc văn hóa: bổ túc công nông, bổ túc thanh niên.

Trường chuyên nghiệp, dạy nghề của tỉnh đóng trên địa phận Quảng Ngãi: Trường Trung học Sư phạm Nghĩa Bình (chuyển vào Quy Nhơn năm 1977), Trường Trung học Sư phạm miền núi đặt tại huyện Sơn Hà, Trường Lâm nghiệp Nghĩa Bình, Trường Sơ cấp Kế toán đặt tại thị xã Quảng Ngãi, Trường Trung học Y tế Nghĩa Bình đặt tại thị xã Quảng Ngãi, Trường Trung học Kinh tế - Tài chính và Trường Dạy nghề lái xe đặt tại huyện Tư Nghĩa,...

Trường do Trung ương quản lý: Trường Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình (từ 21.3.1978), Trường Trung học Tài chính - Kế toán III (Bộ Tài chính), Trường Công nhân Cơ giới Thủy lợi II (Bộ Thủy lợi, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn),... Một số trường đào tạo chuyên ngành thuộc khối ngành an ninh, quốc phòng như Trường Trung học Nghiệp vụ Công an V, Trường Quân sự địa phương tỉnh, Trường Sơ học Nghiệp vụ Công an tỉnh,...

2.2. CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY

Thực hiện chương trình giảng dạy thống nhất do Bộ Giáo dục và Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề ban hành đối với tất cả các bậc, cấp, ngành học. Năm 1986, thực hiện chương trình cải cách giáo dục theo chủ trương chung của Bộ Giáo dục đối với giáo dục phổ thông.

2.3. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

Tiếp tục tập trung cho công tác xoá mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu học, tăng cường chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Chủ trương giáo dục toàn diện kết hợp với lao động sản xuất, gắn nhà trường với xã hội. Tỉnh đã đầu tư thực hiện các chương trình thực nghiệm giáo dục theo chủ trương của Bộ Giáo dục.

3. TỪ KHI TÁI LẬP TỈNH QUẢNG NGÃI (1989) ĐẾN 2005

3.1. HỆ THỐNG TRƯỜNG LỚP

Tiếp tục phát triển về hệ thống trường lớp do số học sinh phổ thông tăng nhanh. Năm học 1989 - 1990, có 229 trường Phổ thông cơ sở (trong đó có 88 trường chỉ có cấp I, 60 trường chỉ có cấp II, 91 trường có cả cấp I và cấp II), 19 trường Phổ thông Trung học (trong đó có 4 trường chỉ có cấp II), 4 trường Bổ túc văn hoá tập trung tại các huyện miền núi, 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề, 4 trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp thuộc tỉnh quản lý. Đây là lúc đời sống chung còn khó khăn, đời sống giáo giới còn khó khăn hơn, nên cũng là năm học mà số giáo viên xin nghỉ việc rất đông, đồng thời là năm học có số học sinh bỏ học cao nhất (12.279 học sinh) và tỉ lệ tốt nghiệp qua các kỳ thi đạt thấp nhất từ trước đến thời điểm này (cấp I: 81,6%, cấp II: 70,8% và cấp III: 66,7%).

Cơ sở vật chất trường học đến giai đoạn 1989 - 1993 đã bộc lộ rõ hơn hiện tượng thiếu thốn, xuống cấp, liên tục xuất hiện tình trạng học ca ba, các phòng học mượn tạm ở các địa phương sau mùa mưa bão. Trong khi đó, sự đầu tư vào cơ sở vật chất trường học từ các nguồn vốn ngoài ngân sách còn quá ít ỏi, công tác xã hội hoá giáo dục được triển khai, thực hiện khá dè dặt. Tình trạng trên không chỉ xuất hiện ở Quảng Ngãi mà còn là trên phạm vi cả nước.

Từ khi thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo (1993) trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục và Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề, đặc biệt là từ sau khi Luật Giáo dục ra đời (1998), hệ thống giáo dục quốc dân mới thực sự phân định rõ ràng. Hệ thống trường lớp ở Quảng Ngãi được củng cố trên cơ sở từng ngành, bậc học đó.

3.2. CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY

Chương trình đào tạo của khối trường chuyên nghiệp, dạy nghề ngày càng bộc lộ sự lạc hậu, chậm đổi mới do chương trình biên soạn hầu hết từ thập kỷ 60, 70 thế kỷ XX; giáo trình sử dụng chính thức trong nhà trường hầu hết được dịch từ giáo trình của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và ít được cập nhật thông tin về thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại. Chương trình giảng dạy của ngành học mầm non liên tục được đổi mới, nhưng cũng luôn đứng trước những thách thức của thực tiễn, của nhu cầu từ phía cha mẹ học sinh là muốn con biết chữ ngay từ mẫu giáo, trước khi vào lớp 1. Chương trình giáo dục phổ thông tuy rất đa dạng để áp dụng cho nhiều đối tượng, vùng miền, nhưng cũng đã nhiều lần được thay đổi, chỉnh lý theo hình thức cuốn chiếu từng khối lớp, từng năm học.

Do yêu cầu phát triển nhanh hệ thống trường lớp ở các xã, thôn vùng cao, vùng xa, bổ sung đội ngũ giáo viên cho các chương trình, dự án "lớp ghép", chủ trương xoá xã "trắng" về giáo dục Tiểu học để đẩy nhanh tiến độ xoá mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu học, nên hình thức cử tuyển cũng được chú trọng.

3.3. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

Thực hiện chủ trương "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", nội dung, phương pháp giáo dục mới đã được đặt ra và đã có những thử nghiệm trong quá trình thực hiện chủ trương này (công nghệ giáo dục, lớp ghép, chương trình 36 buổi, 120 tuần, dạy tăng cường tiếng Anh, tin học,...). Trường học ngày càng tăng cường yêu cầu ứng dụng, thực nghiệm; cơ sở vật chất trường lớp, phương tiện, thiết bị phục vụ dạy học được chú trọng đầu tư. Mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện được đặt lên hàng đầu cùng với việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học: lấy học sinh làm trung tâm. Công tác xoá mù chữ - phổ cập giáo dục tiếp tục được triển khai. Giáo dục đại trà được tiến hành song song với chủ trương đầu tư mũi nhọn ở các cấp học phổ thông.

V. GIÁO DỤC ĐẦU NĂM HỌC 2005 - 2006

1. NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN TRÊN CÁC LĨNH VỰC

Đến đầu năm học 2005 - 2006, hệ thống trường lớp đã được kiện toàn. Tất cả các xã, phường, thị trấn ở Quảng Ngãi đều đã có trường lớp Mầm non; hệ thống giáo dục Phổ thông, giáo dục thường xuyên được phân bổ đều khắp các địa phương; hệ thống trường Dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học đã được sắp xếp ổn định. Về cơ bản, giáo dục Quảng Ngãi đã đáp ứng được nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân và nhiệm vụ góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong hoàn cảnh mới.

1.1. HỆ THỐNG TRƯỜNG LỚP VÀ SỐ LƯỢNG HỌC SINH

Giáo dục Mầm non

Phát triển đầy đủ các loại hình công lập, bán công, tư thục, dân lập. Khối nhà trẻ có 2 nhà trẻ độc lập, 157 nhóm trẻ nuôi dạy 2.774 cháu; khối mẫu giáo có 139 trường, 1.405 lớp mẫu giáo nuôi dạy 33.997 cháu (trong đó, số cháu 5 tuổi là 18.337, chiếm tỉ lệ 97% so với tổng số trẻ 5 tuổi toàn tỉnh).

Giáo dục Phổ thông

Bậc Tiểu học: Có 232 trường Tiểu học độc lập và 4 trường Phổ thông cơ sở (có cả Tiểu học lẫn cấp Trung học cơ sở) với 133.288 học sinh.

Bậc Trung học

Cấp Trung học cơ sở: Có 140 trường (trong đó, trường Trung học cơ sở độc lập: 126 trường, Phổ thông cơ sở: 4 trường, Dân tộc nội trú huyện: 4 trường, Trung học phổ thông có lớp Trung học cơ sở: 5 trường) với tổng số học sinh là 116.215. Ngoài ra, tại các xã vùng núi cao, vùng khó khăn, vùng giao thông không thuận lợi, những nơi chưa đủ số học sinh để thành lập trường, các địa phương đã tổ chức các lớp nhô (lớp Trung học cơ sở tổ chức tại trường Tiểu học) hoặc các trường liên xã để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

Cấp Trung học phổ thông: Có 35 trường, trong đó có 25 trường Trung học phổ thông công lập, 7 trường Trung học phổ thông bán công, 2 trường Trung học phổ thông dân lập và 1 trường Trung học tư thục. Tổng số học sinh là 45.267 em.

Giáo dục thường xuyên

Bổ túc Trung học cơ sở: Được tổ chức giảng dạy tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường Trung học cơ sở và các địa điểm thuận lợi cho việc tập trung học viên, do Phòng Giáo dục các huyện, thành phố quản lý.

Bổ túc Trung học phổ thông: Được tổ chức tại 6 trung tâm Giáo dục thường xuyên, 6 trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và các trường Trung học phổ thông vùng xa, hình thành ngày càng nhiều trung tâm học tập cộng đồng ở xã, thị trấn, nhằm xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Các hệ đào tạo không chính quy (hệ tại chức, chuyên tu, đào tạo từ xa) được tổ chức theo quy mô cấp tỉnh tại các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp với gần 5.000 học viên. Ngoài ra, còn có một số sở, ngành liên kết đào tạo để nâng cao trình độ đội ngũ trong ngành.

Giáo dục chuyên nghiệp

Toàn tỉnh hiện có 2 trường Cao đẳng (Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Cộng đồng), 1 trường Trung học chuyên nghiệp (Trung học Y tế) do tỉnh quản lý với hơn 3.000 học sinh, sinh viên hệ chính quy. Trên địa bàn tỉnh còn có 1 trường Cao đẳng (Cao đẳng Tài chính - Kế toán) trực thuộc Trung ương. Hệ thống trường dạy nghề có 1 trung tâm thuộc tỉnh (Trung tâm đào tạo nghiệp vụ - kỹ thuật giao thông - vận tải), 1 trường trực thuộc Trung ương (Công nhân Cơ giới II) và 1 trường trực thuộc Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất (Trường Đào tạo nghề Dung Quất). Tỉnh cũng đã và đang xúc tiến việc thành lập Trường Đại học Phạm Văn Đồng (20) và Trường Kỹ nghệ Quảng Ngãi.

1.2. VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

Tính đến đầu năm học 2005 - 2006, toàn ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ngãi có 15.630 cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trong đó có 13.963 người thuộc hệ thống công lập và 1.687 người thuộc hệ thống ngoài công lập.

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên hầu hết đã được đào tạo cơ bản, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được tăng cường hàng năm. Số giáo viên đạt chuẩn và vượt chuẩn đạt tỉ lệ ngày càng cao: ngành học mầm non đạt 87,4%; bậc Tiểu học 98,1%; cấp trung học cơ sở 98,67%; cấp trung học phổ thông và khối trường chuyên nghiệp 97,67%.

2. THỰC HIỆN NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU VỀ GIÁO DỤC

2.1. VỀ KIÊN CỐ HOÁ TRƯỜNG LỚP VÀ TĂNG CƯỜNG PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ DẠY HỌC

Tại thời điểm cuối năm học 2004 - 2005, tổng số phòng học dành cho ngành học Mầm non và Phổ thông toàn tỉnh là 7.262 phòng, trong đó có 2.682 phòng học tầng (kiên cố) và 4.251 phòng học cấp 4. Số lượng tính theo ngành, bậc, cấp học như sau: ngành học Mầm non có 1.234 phòng học (44 phòng tầng, 1.026 phòng cấp 4); bậc Tiểu học có 3.524 phòng học (1.064 phòng tầng, 2.332 phòng cấp 4); cấp Trung học cơ sở có 1.774 phòng học (942 phòng tầng, 775 phòng cấp 4); cấp Trung học phổ thông có 753 phòng (635 phòng tầng, 118 phòng cấp 4). 

Toàn tỉnh có 224 trường học có thư viện, số trường còn lại đều có tủ sách dùng chung. Việc mua sắm trang thiết bị phục vụ dạy học được thực hiện thường xuyên hàng năm, đảm bảo được các yêu cầu tối thiểu cho mục tiêu đổi mới giáo dục phổ thông; do nguồn ngân sách còn hạn hẹp nên yêu cầu hiện đại hoá phương tiện phục vụ dạy học chưa thể thực hiện đồng bộ, đều khắp cho các trường học toàn tỉnh.

2.2. VỀ CHỐNG MÙ CHỮ - PHỔ CẬP GIÁO DỤC

Tháng 10.1997, Quảng Ngãi đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học - chống mù chữ. Tuy nhiên, để giữ chuẩn và phòng, chống hiện tượng "tái mù" đã từng xảy ra ở tỉnh cũng như một số địa phương khác, Quảng Ngãi đã chủ trương tăng cường thực hiện giải pháp tích cực là phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Đến cuối năm học 2004 - 2005, có 8/14 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi (gồm các huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành, Đức Phổ, Tư Nghĩa, Bình Sơn, Lý Sơn, Minh Longthành phố Quảng Ngãi).

Song song với công tác chống mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu học, nhiều năm qua, việc thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở cũng đã được đẩy mạnh. Đến thời điểm tháng 8.2005, có 6 huyện, thành phố (Mộ Đức, Nghĩa Hành, Đức Phổ, Tư Nghĩa, Bình Sơnthành phố Quảng Ngãi) và 120 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.

2.3. VỀ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG TRỜNG ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

Cuối năm học 2004 - 2005, Quảng Ngãi có 98 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 1 trường Mầm non, 67 trường Tiểu học, 27 trường Trung học cơ sở và 3 trường Trung học phổ thông. Tỉ lệ đạt được chưa cao, song nếu so sánh với tình hình chung của cả nước và xét riêng hoàn cảnh còn quá nhiều khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, số trường đạt chuẩn quốc gia nêu trên đã thể hiện những cố gắng vượt bậc của nhân dân địa phương trong khát vọng đem lại hạnh phúc cho thế hệ mai sau. Đó là một trong những truyền thống quý báu của con người Quảng Ngãi.

Thời kỳ 1975 - 2005, truyền thống hiếu học của người dân Quảng Ngãi lại được phát huy cao độ. Nhiều học sinh Quảng Ngãi là các học sinh giỏi nổi tiếng trong nước. Nhiều nhà khoa học mới là người Quảng Ngãi xuất hiện, cùng các thế hệ đàn anh đóng góp xây dựng đất nước. Có nhiều người có học hàm, học vị cao (21).


(1)  Đào Duy Anh: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 208.
(2)  Quách Tấn - Quách Giao: Nhà Tây Sơn, Sở Văn hoá - Thông tin Nghĩa Bình, 1988, tr. 70 - 71.
(3)  Quách Tấn - Quách Giao: Nhà Tây Sơn, sđd , tr. 179.
(4)  Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, sđd, bản 1909. Hai chữ Quốc âm ở đây có nghĩa là chữ Nôm.
(5), (6)  Theo tài liệu ghi chép của Nguyễn Bá Nghi còn lưu lại do dòng họ bảo quản.
(7)  Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, sđd.
(8)  Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 356, 357.
(9)  Xem Phụ lục ở cuối chương.
(10)  Xem Chương XI: Các nhân vật  lịch  sử  tiêu biểu.
(11)  Xem Chương XXVI: Văn học.
(12)  Nguyễn Quang Thắng: Huỳnh Thúc Kháng tác phẩm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 340.
(13)  Đào Duy Anh: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 308.
(14)  Xem Chương XI: Các nhân vật lịch sử tiêu biểu.
(15)  Xem Chương XXVI: Văn học.
(16)  Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1945 - 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 58.
(17)  Có ý kiến cho rằng, ngay từ năm học 1950 - 1951 hệ thống giáo dục mới đã chuyển sang cấp 1, cấp 2, cấp 3...
(18)  Sau giải phóng, Trường chuyển về thị xã Quảng Ngãi, đóng tại trường Quảng Ngãi Nghĩa thục (tây núi Bút), đổi tên thành Trường Trung học Sư phạm Quảng Ngãi, sau là Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi.
(19)  Tháng 4.1975, Trường chuyển về thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà, rồi chuyển về xã Quảng Phú, thị xã Quảng Ngãi. Năm 1976 chuyển thành Trường Trung cấp Sư phạm miền núi Nghĩa Bình, Trung học Sư phạm Quảng Ngãi rồi sáp nhập vào Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi sau này.
(20)  Đã thành lập vào năm 2007.
(21)  Xem Phục lục ở cuối chương.