Trở về

Chương này của sách được trình bày thành 2 phần chính:

1. Nghệ thuật dân gian, mà ở đây cũng được hiểu là nghệ thuật truyền thống, hoặc cổ truyền, với 2 thành tố chính: nghệ thuật diễn xướng (nghệ thuật biểu diễn) và nghệ thuật tạo hình;

2. 60 năm phát triển nền nghệ thuật mới, nói về nền nghệ thuật hiện đại, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, bao gồm những thành tựu trên các loại hình diễn xướng, tạo hình (và cả nhiếp ảnh), đội ngũ sáng tác, nghiên cứu...

Trong hai phần trên, những người biên soạn có chú trọng đến loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian của các cộng đồng các dân tộc trong tỉnh Quảng Ngãi, vì đây là kho tàng hết sức đa dạng, phong phú và chứa đựng nhiều giá trị, đặc biệt là nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Việt.

I. NGHỆ THUẬT DÂN GIAN 

1. NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG

1.1. NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT

Các loại hình dân ca

Trong suốt nhiều thế kỷ định cư trên vùng đất Quảng Ngãi, người Việt ở vùng đất này đã dùng nhiều loại hình dân ca để bày tỏ tình cảm, thái độ của mình trước thiên nhiên, trước sự đổi thay của lịch sử và đời sống xã hội, để tỏ tình, để ru con, để nói về tình cha mẹ, nghĩa xóm giềng... Căn cứ vào hình thức diễn xướng, có thể tạm chia loại hình nghệ thuật diễn xướng của người Việt ở Quảng Ngãi thành các thể loại: hò, hát, lý.

* Các loại hò

Người Việt ở Quảng Ngãi có các loại hò dùng trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt cộng đồng. Nếu chia theo môi trường diễn xướng thì có thể chia làm 2 loại: hò trên cạnhò trên sông, nước.

Hò trên cạn có các thể loại: hò giã gạo, hò đầm nền, hò đi cấy, hò xay lúa, hò tát nước, hò đạp xe nước, hò giã vôi, hò đẩy che mía... Tất cả các loại hò này là những sinh hoạt văn hóa văn nghệ thường gắn liền với môi trường hoạt động sinh hoạt, sản xuất trên ruộng lúa, ruộng mía, trên rẫy, trong nhà, ngoài sân, bến bãi, sân đình... Tiết tấu, giai điệu của từng điệu hò phù hợp với hoạt động sinh hoạt hoặc lao động sản xuất, như vòng quay của cối xay lúa, vòng quay của xe đạp nước, nhịp chày giã gạo, nhịp chân đầm nền, nhịp tay cấy lúa... Nội dung của các loại hò này tùy thuộc vào sự "tức cảnh sinh tình" của một cá nhân hay của hai người (nếu là đối đáp), hoặc của một nhóm người, không phân biệt là mỗi loại hò có mỗi nội dung riêng. Có khi là những lời trêu chọc, có khi là để tỏ bày tình cảm, có khi là để quên nỗi vất vả trong lúc lao động... Thường một cuộc sinh hoạt theo các loại hò có nhiều người cùng tham gia. Trong đó có một người xướng (hô), một số người hò theo (xô, ứng), theo trình tự có xướng, có vào hò và kết hò.

Đó là những điệu hò phổ biến, giai điệu, tiết tấu, lời ca tùy hứng, mặc dù có nhiều bài đã có sẵn lời (lời cũ). Tuy nhiên, cũng có điệu hò có tiết tấu ổn định, gọn ghẽ, giai điệu trong sáng, mạnh, như hò giã vôi chẳng hạn.

Hò trên sông nước là loại hò thường được sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất trên sông, trên biển. Hò trên sông nước có các loại: hò chèo thuyền, chèo đò, hò giựt chì, hò ba lý, hò mái ba, hò mái nhì, hò mái nhặt... Trong các loại hò này, có loại tiết tấu lúc khoan nhặt (nên còn gọi là hò khoan), lúc trầm lúc bổng, lúc khỏe khắn, nhanh, chắc, như hò chèo thuyền, hò chèo đò trên các dòng sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ...; có loại mạnh mẽ, dồn dập như hò giựt chì, hò kéo lưới, hò hụi...; có loại vui nhộn, sảng khoái, như hò ba lý, hò mái nhì, hò mái ba... Trong loại hình hò chèo ghe, nếu hò trên đoạn sông ngắn, thì điệu hò đó gọi là hò mái ngơi, nếu là hò trên một chặng đường sông thì gọi là hò mái dài. Hò mái ngơi, do dung lượng, thời lượng ngắn nên thường chỉ dưới hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, và chấm dứt trong 3 lần xô. Còn hò mái dài thì không hạn chế về dung lượng, thời lượng, bởi người ta hát trong một đường sông nước dài, có khi từ miền xuôi lên miền ngược.

Trong các loại hò trên sông, biển còn có một loại hò gọi là hò một cung ba cách, có 4 làn điệu chính: hò chèo ghe, hát bội, ru con và giã gạo. Đây là loại hò của dân chài trên biển, do nhiều người cùng tham gia, là một hình thức hát tập thể, do một người hát chính và nhiều người cùng xô theo.

* Các loại lý

Lý là một thể loại dùng trong sinh hoạt ca hát dân gian được nhiều người ưa thích. Cấu trúc của giai điệu lý rất chặt chẽ, hoàn chỉnh từ giai điệu, lời ca, nhịp. Lý thường được dùng trong các loại hình dân ca nghi lễ, như hát sắc bùa, hát bả trạo, hò đưa linh, hoặc các loại hình sân khấu truyền thống, như các vở tuồng cổ... Ở Quảng Ngãi, có các điệu lý phổ biến như: lý vẽ rồng, lý tang tít, lý con chuồn chuồn, lý năm canh, lý thương nhau, lý mừng xuân... Trong các vở tuồng cổ, các điệu lý thường được các nhân vật thuộc tầng lớp dưới sử dụng để bày tỏ thái độ oán trách đối với tầng lớp trên (như các bài lý năm canh, lý thương nhau...). Trong hát bả trạo, thường sử dụng các bài lý tang tít, lý năm canh... Trong múa hát sắc bùa thường sử dụng các bài lý, như lý mừng xuân, lý vẽ rồng, lý năm canh...(trong phần múa hát giúp vui).

* Các loại hát

Người Việt ở Quảng Ngãi có nhiều loại hát khác nhau. Nếu nhìn dưới góc độ nội dung thể hiện thì có các loại hát: hát nhân ngãi, hát huê tình... Nếu theo chức năng thì có hát ru, hát khóc (nay không còn), hát mừng tuổi (dùng trong hát sắc bùa)... Nếu theo mục đích diễn xướng thì có hát sắc bùa, hát bả trạo... Nếu theo phương thức diễn xướng thì có hát ống, hát lô tô, hát bài chòi...

Tất cả các loại hát nhân ngãi, hát huê tình..., chủ yếu cũng chỉ là hát đối đáp của nam nữ vào những lúc rỗi rãi, hội hè, trong những đêm trăng thanh, gió mát, ở sân đình, bến bãi, hiên nhà, bãi mía, nương dâu... Người Việt ở Quảng Ngãi thường gọi loại hát này là hát hố.

Cũng trong loại hát đối giao duyên còn có hát ống. Hát ống là hát bằng ống. Hai người ở hai đầu hát qua ống làm bằng ống tre hoặc bằng ống sắt (như lon sữa bò), nối hai ống là một sợi chỉ giăng. Cách hát này vừa kín đáo, vừa dễ bày tỏ tình cảm. Nội dung các bài hát ống thường là bày tỏ nỗi niềm yêu thương giữa trai và gái, chia sẻ lẫn nhau những vướng mắc trong đời sống, đặc biệt trong đời sống gia đình còn nhiều khó khăn và những bất công trong xã hội phong kiến.

Hát ru là điệu hát của bà, của mẹ, của chị, và cả của ông, của cha dùng để ru con, ru cháu. Nhịp điệu khoan thai, lúc trầm lúc bổng, bao giờ cũng bắt đầu bằng từ "ầu ơ..". Ví dụ:

Ầu ơ...

Ngó lên trên trời, trời cao lồng lộng

Ngó ra ngoài biển, biển rộng thinh thinh

Ngó vô trong dạ buồn tình

Đêm nằm nước mắt...(ầu ơ) nhỏ như bình trà nghiêng

Đêm nằm nước mắt...(ầu ơ) triền miên

Áo em năm vạt (à) ướt liền cả năm.. (à ơ)...

                                                                   Bà Phù Thị Sẻ - Thôn Tây, An Vĩnh, Lý Sơn hát (1)

Hát lô tô, còn gọi là hô lô tô, là lối hát nói, ngoài lời chúc theo kiểu nói lối còn lại nội dung chính của bài hát chủ yếu bằng thể thơ 4 chữ, mà thực chất đó là những bài vè về nhiều đề tài khác nhau, nhằm để chúc tụng, để mời mọc mọi người tham gia các trò chơi. Lời bài hát mộc mạc dễ hiểu, dễ nhớ, giai điệu đơn giản, vui nhộn. Hát lô tô thường được dùng trong lễ hội dân gian, trong hội vui xuân.

Ngoài ra, người Việt ở Quảng Ngãi còn hát vè. Nôi dung của vè thường là kể lại một câu chuyện nào đó, ca ngợi hay phê phán về cảnh đẹp, một sự kiện, một con người hay kể về các loài cá, về các loài chim... Có kiểu vè nói xuôi, có kiểu vè nói ngược. Lời vè thường trong sáng dễ hiểu, thường theo thể thơ 4 chữ, 6 chữ...

Các loại hình diễn xướng tiêu biểu

Trong các loại hình diễn xướng dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi, có 3 thể loại diễn xướng tiêu biểu: hát bài chòi, hát bả trạo và hát sắc bùa.

* Hát bài chòi

Hát bài chòi là một hình thức ca hát dân gian phổ biến ở vùng Nam Trung Bộ. Cách đây vài chục năm về trước, tại Quảng Ngãi, hội hát bài chòi có mặt ở hầu hết các làng xã trong tỉnh, nhất là ở các làng xã ven biển vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, có khi bắt đầu từ khoảng 20 tháng Chạp đến hết Rằm tháng Giêng. Ngày nay, ở một vài nơi cũng còn tổ chức hội bài chòi, trên 9 chòi và cả hội bài chòi chiếu, nhưng thường chỉ bắt đầu từ 26 - 27 tháng Chạp đến mùng 4 mùng 5 Tết.

Một cỗ bài chòi có 27 cặp con (còn gọi là quân, hoặc thẻ bài), được chia làm 3 pho. Pho Sách gồm 9 cặp có tên: Nhứt nọc, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ xách, Ngũ dụm, Sáu hường, Bảy thưa, Tám dậy, Cửu điều. Pho Vạn gồm 9 cặp có tên: Nhứt trò, Nhì bí, Tam quăng, Tứ ghế, Ngũ trợt, Lục trạng, Thất vung, Bát bồng, Cửu chùa. Pho Văn gồm 9 cặp có tên: Nhứt gối, Nhì bánh, Ba bụng, Tứ tượng, Ngũ rốn, Sáu xưởng, Bảy liễu, Tám miếu, Chín cu. Ngoài ra còn có 3 cặp: Lão, Thang, Chi. Lão có Ông ầm, Thang có Thái tử, Chi có Bạch huê (2).

Một sân khấu bài chòi được bố trí theo dạng hình vuông, gồm có 8 chòi con và 1 chòi trung ương. Người chơi ngồi trên 8 chòi con. Chòi trung ương dành cho các anh hiệu (có khi vài người để thay nhau hát, xướng) và ban nhạc (ngũ âm). Khi anh hiệu xướng lên con bài nào thì chòi trúng con bài sẽ đánh mõ tre báo hiệu là trúng con bài đó, và anh chạy hiệu sẽ cắm cờ vào ống tre giắt bên chòi của người chơi. Kết thúc một lần chơi là lúc có một chòi trúng cả 3 con bài, và anh hiệu sẽ đánh một hồi trống báo hiệu chấm dứt, các chòi con sẽ đánh một hồi mõ chúc mừng.

Nội dung các bài hát (hô thai) thường là dễ thuộc, dễ nhớ, hóm hỉnh, theo thể thơ lục bát, lục bát biến thể, hoặc thơ 4 chữ. Nhiều bài hát có nội dung hết sức sâu sắc, đề cao lối sống tốt đẹp, phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội, nhưng cũng có bài hát chỉ nhằm để đố vui, mặc sức người nghe, người chơi tưởng tượng, như các bài hát về con Bạch huê, hoặc Nhứt nọc...

Giai điệu của bài chòi thường theo lối hát thông thường, như nói thơ, nói vè, và cũng có lúc vận dụng cả các điệu xuân nữ, xàng xê, hò Quảng... Nói chung, bài chòi là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính tổng hợp, như hát, hô, nói, khua trống, mõ, nhạc đệm, diễn trò...

Bài chòi chiếu cũng có nội dung và bài bản tương tự như bài chòi trên 9 chòi, nhưng đơn giản hơn, người chơi chỉ ngồi trên chiếu.

Nhờ những yếu tố tích cực của hình thức diễn xướng này mà bài chòi bước lên sân khấu chuyên nghiệp lẫn không chuyên nghiệp, từ độc tấu, song tấu đến ca kịch, từ những bài ca đơn lẻ đến vở diễn dài hơi. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những bài thơ nôm na được sáng tác cho lối hát bài chòi, đã thực sự lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân, và góp phần tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, của Cách mạng. Chính bài chòi đã làm nên những tên tuổi các nghệ sĩ là người Quảng Ngãi: Lệ Thi, Hữu Ích, Bích Liên, Nguyễn Văn Khánh...

* Hát bả trạo

Hát bả trạo còn gọi là chèo bả trạo, có nơi gọi là chèo bá trạo, là một hình thức diễn xướng dân ca nghi lễ, diễn ra vào mỗi dịp tế Cá Ông, hoặc khi Cá Ông lụy, là một bộ phận của nghi lễ thờ cúng Cá Ông của các vạn chài ven biển Quảng Ngãi.

Đội chèo bả trạo thường có 15 - 17 người, trong đó có một Tổng lái, một Tổng thương, một Tổng mũi, và còn lại là các con trạo. Một chương trình hát bả trạo diễn ra trong thời lượng 90 đến 120 phút ngay tại sân lăng thờ Cá Ông hoặc ngoài bãi biển. Nội dung chính một bài bả trạo theo trình tự: phần đầu kể về chuyện ngư dân đi làm biển, rồi bị sóng to gió lớn; khi thuyền sắp đắm, đức Ngư Ông xuất hiện và ra tay cứu giúp, đưa thuyền về nơi an toàn; phần tiếp theo là hát múa kể về công đức Cá Ông, suy tôn Ông; phần cuối là hát các bài vè, bài lý giúp vui.

Người giữ vai trò lĩnh xướng một cuộc hát bả trạo là Tổng mũi, có sự giúp sức của Tổng thương và Tổng lái. Các con chèo xô theo từng đoạn và múa các động tác như đang chèo thuyền (nên còn gọi là chèo cạn). Giai điệu các bài bả trạo thường được sử dụng là nói lối, hò chèo thuyền, hò kéo lưới, hò kéo neo, hò giựt chì, hò mái ngơi, nam xuân, nam ai..., và các bài lý, như lý tang tít, lý vãi chài... Nhờ sự tích hợp nhiều giai điệu, làn điệu, có nói lối, có hát, có múa, có diễn, có sênh, trống và dàn nhạc phụ đệm phụ họa, và có thể xem, hát bả trạo là một loại hình diễn xướng mang tính tổng hợp (như hát sắc bùa, hát bài chòi).

Hiện nay, nhiều làng, vạn ven biển Quảng Ngãi, hàng năm vào dịp tế Cá Ông còn tổ chức hát bả trạo, như vạn Đông Yên (Bình Dương, huyện Bình Sơn), vạn Cù Lao - Mỹ Tân (Bình Chánh, huyện Bình Sơn), vạn Tuyết Diêm (Bình Thuận, huyện Bình Sơn)... Cách đây vài năm, vạn Thạch Bi (Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ) cũng tổ chức lại đội bả trạo để diễn trong lễ tế tại lăng Ông, và nghĩa tự của vạn vào lệ tế xuân và lệ tế thu.

* Hát sắc bùa

Hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính chất nghi lễ - phong tục, chủ yếu diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán. Trước năm 1945, nhiều làng xã ven biển thuộc các huyện Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ có hát sắc bùa. Đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, tục hát sắc bùa chỉ còn ở xã Đức Phong (huyện Mộ Đức), các xã Phổ An, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh (huyện Đức Phổ), mà trong đó tiêu biểu nhất là ở Phổ An.

Thời gian đội bùa lưu diễn thường bắt đầu từ đêm trừ tịch đến hết tháng Giêng, không chỉ trong một làng, xã mà còn đi diễn ở nhiều nơi, đặc biệt là ở những làng, xã dọc ven biển Quảng Ngãi, có khi đi tận Bình Định hoặc Quảng Nam. Chính tính chất lưu diễn này mà hát sắc bùa được xem là một hình thức diễn xướng mang tính bán chuyên nghiệp.

Biên chế một đội sắc bùa (còn gọi là phường bùa, đội bùa) thường có 11 người, trong đó có một ông cái kiêm chơi trống tầm vinh (còn gọi là tùng dinh, là một dạng trống cơm), một ông phụ cái, một ông chơi đàn cò, một ông chơi kèn tiểu, một ông chơi phách, và 6 nữ làm quân xô. Quân xô thường chỉ từ 12 - 16 tuổi.

Một chương trình biểu diễn hát sắc bùa ở dạng tương đối đầy đủ, gồm có:

Phần thủ tục ban đầu mang tính nghi lễ - phong tục, gồm hát các bài: Mở ngõ, Bước vào khỏi ngõ, Vào sân, Tạ miếu Thổ thần, Mở cửa, Lễ tạ ông bà, Bộc trúc, Tổ trống, Tổ đôi sinh, Tạ trang ông Táo, Trang Tiên sư, Trang thờ Quan công..., Phạt mộc, Trấn bùa.

Phần chúc nghềmúa hát giúp vui, gồm các tiết mục: chúc nghề (nghề nông, nghề làm biển, nghề chăn tằm, nghề làm thuốc, nghề đi buôn, nghề thợ mộc...; múa hát theo các bài lý, vè (Lý huê là, Lý vẽ rồng, Lý hoa thơm, Lý vọng phu, Vè cá biển, Vè hoa lá cỏ cây...).

Phần kết có Múa hát Trấn ngũ phương, Múa trình lục cúng, Chúc gia chủ, Hát đi ra...

Nội dung chính của hát sắc bùa là chúc mừng năm mới cho gia chủ (trong gia đình mời đội bùa đến biểu diễn), làm các thủ tục xua quỷ, trừ tà, tống cựu, nghinh tân, hát múa mừng năm mới. Về nghệ thuật, hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp: hát, múa, diễn trò, nhạc đệm..., hết sức phong phú về làn điệu, lời ca, trong đó có nhiều giai điệu phổ biến của dân ca miền Nam Trung Bộ, dân ca Quảng Ngãi.

Hiện nay, ở Quảng Ngãi có một số đội hát sắc bùa, nhưng tiêu biểu nhất là đội sắc bùa Phổ An (huyện Đức Phổ). Có nghệ nhân thuộc hơn 50 làn điệu hát sắc bùa khác nhau, đó là nghệ nhân dân gian Lê Công Lịch.

*Các loại nhạc cụ

Nhạc cụ của người Việt ở Quảng Ngãi khá đa dạng về chủng loại, như đàn cò (nhị), trống cơm (phạn cổ), kèn tiểu (tiểu quân), đàn bầu (độc huyền cầm), đàn tranh (đàn thập lục), trống tiểu, sênh, phách, sinh tiền, chập chõa, bồng bồng... Các loại nhạc cụ này được sử dụng trong các môi trường diễn xướng khác nhau, như hát bài chòi, hát sắc bùa, hát bả trạo, hát đám tang...

Những giai điệu thường được sử dụng là Kim tiền, Bình bản, Xàng xê, Xuân nữ, Nam ai.

1.2. NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI HRÊ

* Các loại hình dân ca

Các loại hình dân ca chính của người Hrê ở Quảng Ngãi bao gồm: ta lêu (ca lêu), ca choi (ca chơi), ta jeo, vađhô con...

Dân ca Hrê có giai điệu trong sáng, tình cảm và thang âm phong phú, nên nhiều nhạc sĩ đã mượn làn điệu từ dân ca Hrê để phát triển thành những ca khúc nổi tiếng, như: Phan Huỳnh Điểu với Bóng cây kơnia (thơ Ngọc Anh), Nhật Lai với Thương anh cán bộ, Cánh chim pôngkle, Hái rau tặng anh bộ đội, Phan Quý với Chiều sông Rhe (thơ Nguyễn Ngọc Trạch)...(3).

* Ta lêu

Ta lêu (ở huyện Sơn Hà, và những vùng dưới của huyện Sơn Tây gọi là ca lêu), là điệu hát kể, có tính chất tự sự. Người Hrê thường dùng ta lêu để hát kể cho con cháu nghe bên bếp lửa nhà sàn, trên rẫy vào mùa chờ thu hoạch. Có hai dòng ta lêu là ta lêu cổ và ta lêu mới.

Ta lêu cổ, là loại ta lêu có hệ thống bài bản vốn được truyền từ đời này sang đời khác. Loại ta lêu này có các đề tài như: kể về các loài vật, cây cối; kể về các anh hùng huyền thoại của cộng đồng tộc người, về các vị thần linh, về những con người tài trí, dũng cảm... Đây là loại ta lêu có cốt truyện nên khi hát kể ta lêu, người Hrê gọi là cà eng, vì có những bài ta lêu được các nghệ nhân Hrê hát suốt cả đêm. Trong các truyện cổ dân gian của người Hrê thường có những đoạn xen bằng văn vần, đó chính là những khúc ta lêu cổ.

Ta lêu mới, là loại ta lêu mới được sáng tác trong giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ và cả sau ngày hòa bình, thống nhất đất nước. Nội dung chính của loại ta lêu này là ca ngợi Đảng, Bác Hồ, bộ đội; tình đoàn kết Kinh - Thượng, mối tình gắn bó giữa quân và dân; ca ngợi cuộc sống mới, về tinh thần hăng say lao động, sản xuất... và đặc biệt là về tình yêu đôi lứa.

* Ca choi

Ca choi (có nơi gọi là ca chơi) là một loại hát đối đáp. Ca có nghĩa là ca hát, choi (hay chơi) có nghĩa là đối lại. Giai điệu của ca choi trong sáng, đơn giản, nhưng rất mượt mà, tình cảm. Nội dung của ca choi thể hiện nhiều đề tài khác nhau: chuyện yêu đương, chuyện gia đình, chuyện xã hội, mừng quê hương, đất nước... Người Hrê còn dùng ca choi để hát đố lẫn nhau.

Ngoài chức năng dùng để đối đáp, người Hrê còn dùng chính giai điệu trong sáng, tình cảm của ca choi để có thể hát những bài hát mang tính chất giãi bày những nỗi niềm riêng tư, như nói về nỗi khổ nhọc, nghèo túng, mồ côi... Những người lớn tuổi thường sử dụng loại ca choi này.

* Điệu ta jeo

Điệu ta jeo là điệu hát cúng thần linh. Người Hrê cũng như các dân tộc miền núi Quảng Ngãi vốn theo tín ngưỡng đa thần, gồm các thiên thần, nhiên thần. Để khấn mời các vị thần linh, thầy cúng phải thuộc lòng các bài ta jeo khác nhau, tùy thuộc vào vị thần nào được khấn mời mà thầy cúng dùng bài hát cúng có nội dung phù hợp với vị thần đó. Giai điệu, tiết tấu cũng thay đổi trong từng đoạn hát cúng. Có các bài hát cúng như cúng thần gió, cúng thần sông, cúng thần suối, cúng ông bà, tổ tiên, cúng gọi hồn...

* Vađhô con

Vađhô con có nghĩa là hát ru con. Cũng như nhiều tộc người khác, hát ru của người Hrê dùng để ru con, ru cháu. Người Hrê có thể hát ru con ngay cả lúc địu con lên nương rẫy. Nội dung chính của các bài hát ru của người Hrê là chủ yếu là mong con ngủ để cha mẹ đi làm ruộng làm rẫy, để đi bẫy con thú, để vào rừng hái rau, hái củi và mong con lớn lên khỏe mạnh, thành người, biết bẫy thú, bẫy chim, biết làm ruộng, làm nương...

Các loại nhạc cụ

Nhạc cụ của người Hrê chủ yếu được chế tác bằng chính bàn tay của các nghệ nhân dân gian, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, bằng tai nghe, tay làm, mắt thấy, và sự trao truyền từ đời này sang đời khác. Ngoại trừ các bộ chiêng, còn lại hầu hết các loại nhạc cụ đều làm bằng những vật liệu sẵn có.

Người Hrê sử dụng các nhạc cụ dân gian để chơi trong những lúc rỗi rãi, trên nhà sàn, hoặc ngoài nương rẫy, cũng có khi được sử dụng trong các hội mùa, hội ăn trâu, để ru con ngủ, để tỏ tình... Tiêu biểu có các loại nhạc cụ sau:

* Đàn brook

Là một loại đàn phổ biến của nhiều dân tộc ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, với các tên gọi hơi khác biệt chút ít, như brook, bro, vrook... Đàn brook có bầu đàn bằng trái bầu phơi khô, được khoét ruột; cần đàn là một ống lồ ô hoặc ống nứa dài khoảng 60 - 70cm, có đường kính khoảng 3 - 4cm; các phím đàn là những thẻ gỗ cây gạo hoặc bằng cật mây; có 2 dây, gồm một dây chồng (kxi klô) và một dây vợ (kxi kri). Đàn brook dành cho nam giới, dùng để chơi các giai điệu mang tính tự sự, mô phỏng tiếng chiêng, có khi còn để ru con ngủ, dùng trong tang ma của người Hrê...

* Đàn krâu

Cũng là một loại đàn phổ biến của các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, với các tên gọi khác: goong, goong đe, tinh ninh, teng neng, puôi brol, brook tru... Đàn krâu cũng có bầu đàn bằng trái bầu khô, cần đàn ngắn hơn đàn brook (khoảng 50 - 60cm), nhưng đường kính lớn hơn đàn brook, khoảng 5 - 6cm; không có phím đàn. Đàn krâu thường có 8 -15 dây, nhưng phổ biến là 8 dây. Các khóa để căng dây đàn được làm bằng gỗ hoặc tre già. Đàn krâu cũng dành cho nam giới, dùng để chơi các bài ta lêu, đệm hát, mô phỏng các điệu chiêng ba, chiêng năm của người Hrê.

* Đàn chinh kla

Tiếng Hrê chinh có nghĩa là chiêng, kla có nghĩa là tre, chinh kla có nghĩa là chiêng bằng tre. Đây là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất trong tất cả các loại hình nhạc cụ có mặt ở Việt Nam. Đàn chinh kla được làm bằng một đốt tre già, dài khoảng 25 - 30cm, đường kính khoảng 15 - 20cm. Chung quanh ống tre có 8 - 10 dây đàn, được tước ra từ cật tre, hai đầu dây có những thanh gỗ, hoặc thanh tre nhỏ làm ngựa cho dây đàn. Bụng đàn có một lỗ thoát âm, vốn được khoét theo chiều dài của ống tre. Chinh kla cũng dành cho nam giới, dùng để mô phỏng tiếng chiêng, chơi các giai điệu ru con, các điệu ta lêu... Nhiều nơi người Hrê quan niệm, lúc trời giông thì không được chơi loại đàn này, vì nếu chơi trời sẽ nổi giận làm ra nhiều sấm sét, giông bão.

* Đàn rơđoang

Đàn rơđoang là một loại nhạc cụ họ dây kéo, có nơi gọi là k’ny. Đàn chỉ có một dây, được làm bằng gân thú, hoặc dây dứa, dây tơ, dây nilông, dây kẽm. Cung kéo là một thanh tre, hoặc nứa nhỏ (dùng để kéo). Cần đàn là một ống nứa dài khoảng 40 - 50cm, có 4 - 5 phím bằng sáp ong. Một sợi chỉ được buột chặt từ phía dưới thân đàn nối với một miếng kim loại. Khi diễn tấu, ngoài việc dùng cung kéo để kéo vào dây đàn, người diễn còn ngậm vào miếng kim loại để tạo nên một sự cộng hưởng âm thanh từ khoang miệng. Đàn rơđoang cũng chỉ dành cho đàn ông, dùng để chơi các giai điệu tự sự vào những lúc nhàn rỗi, hoặc mối mai vợ chồng...

* Đàn a khung

Được làm bằng 5 ống nứa, ống canh dài hơn 1m, đường kính khoảng 3,5cm; ống con mói dài khoảng 1m, đường kính khoảng 3,2cm; ống con váy dài khoảng hơn 80 cm, đường kính khoảng hơn 3cm; ống con pí dài khoảng hơn 70cm, đường kính khoảng 3cm; ống con pun dài khoảng hơn 60cm, đường kính khoảng gần 4cm. Khi diễn tấu đàn a khung phải có
2 người, một nam, một nữ, hoặc cả 2 nữ trong tư thế quỳ, ngồi bệt, hoặc đứng, tùy vị trí đặt đàn. Người ta dùng 2 bàn tay để vỗ vào đầu ống theo các giai điệu giao duyên, mừng ngày tết, hoặc chỉ đơn thuần là giải trí.

* Đàn và pút

Cũng được làm bằng ống nứa, có kích thước to, nhỏ như đàn rơđoang, nhưng chỉ có 3 ống. Cách chơi cũng giống như đàn rơđoang, nhưng thường chỉ được sử dụng vào dịp Tết, hoặc ở trong rừng, trong rẫy, ít thấy sử dụng trong nhà. Nhiều nơi cho rằng chơi và pút tài sản sẽ bay đi hết.

* Sáo tà lía

Là loại sáo dọc dài, được làm bằng ống nứa (trúc) già, có đường kính khoảng 1,5 - 2cm, dài khoảng 40 - 50cm. Sáo có một lỗ thổi ở đầu ống (ra pét) và 5 lỗ bấm dọc đường thẳng thân ống để tạo các thang âm. Sáo tà lía được dùng để hòa âm với các loại đàn brook, krâu, sáo a mó... vào dịp lễ tết, hoặc có khi chỉ để giãi bày tâm sự vào những đêm trăng sáng...

* Sáo a mó

Được làm bằng một ống triêng rừng, có độ dài khoảng 20 - 25cm, chỉ có một lưỡi gà, không có lỗ để bấm (người Cor gọi là a máp). Đây là nhạc cụ chỉ dành cho phụ nữ. Người chơi sẽ vừa thổi một đầu vừa lấy hai bàn tay đặt vào đầu kia làm hộp cộng hưởng... Sáo a mó dùng để hòa tấu cùng các nhạc cụ khác, để gọi con thức dậy vào sáng sớm, để giãi bày tâm sự...

* Sáo tà vố

Sáo tà vố là một nhạc cụ làm bằng đất sét. Đất sét dùng để làm sáo tà vố là loại đất sét màu đỏ, không pha cát, sỏi. Sau khi đập nhuyễn, nặn thành hình tròn như quả trứng, người làm sáo khoét rỗng ruột, làm các lỗ thổi, xong đem phơi khô. Sáo tà vố thường có 3 - 5 lỗ, khi diễn tấu các ngón tay sẽ bịt hoặc thả ra để tạo nên các thang âm. Sáo tà vố là một loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người, là loại nhạc cụ dành cho trẻ em, dùng để gọi bạn tâm tình, khi chăn trâu, hoặc lên rẫy, lên nương.

* Sáo ra ngoái

Còn gọi là đàn ra ngoái, là loại kèn môi, cấu tạo đơn giản: chỉ là một miếng gỗ bằng tre, nứa, hoặc bằng gỗ mứt, và một thanh thép hoặc đồng. Khi diễn tấu, người chơi kẹp hờ hai miếng lại giữa 2 môi, rồi dùng ngón tay bật thanh thép qua lại để tạo ra những bồi âm. Ra ngoái là loại nhạc cụ dành cho cả nam giới lẫn phụ nữ.

* Chiêng (chinh)

Người Hrê có bộ chiêng ba chiếc nổi tiếng bằng hợp kim đồng, không có núm. Khi chơi chiêng phải có 3 người chơi, và chỉ đánh bằng nắm tay (không dùng dùi như các dân tộc khác). Bộ chiêng ba của người Hrê gồm:

Chiêng túc: còn gọi là chiêng con, chiêng nhỏ nhất trong 3 chiếc. Khi chơi chiêng người chơi treo chiêng lên xà nhà, lấy tay phải bọc vải để gõ vào mặt ngoài của chiêng, tay trái bịt tiếng mặt trong của chiêng.

Chiêng k’tum: còn gọi là chiêng cha, là chiếc chiêng trung bình. Khi chơi chiêng người chơi tì chiêng lên đùi, tay phải đánh vào mặt chiêng, tay trái bịt âm bằng cả cùi tay.

Chiêng vồng: còn gọi là chiêng mẹ, là chiếc chiêng lớn nhất. Khi diễn tấu người chơi cũng đặt chiêng lên đùi, tay phải vừa đánh chiêng bằng nắm tay, vừa gõ chiêng bằng các đầu ngón tay, tay trái bịt lòng chiêng.

Người Hrê có những giai điệu chiêng ba đặc sắc, như: điệu túc năng, là điệu chiêng vui nhộn, thúc giục; điệu túc k’oa, là điệu chiêng mô phỏng tiếng ếch nhái; điệu túc h’lay, là điệu chiêng mô phỏng âm thanh của nước chảy; điệu tu guốc, là điệu chiêng mô phỏng tiếng chim hót.

Ở một số vùng tiếp giáp với huyện Kon Plông (Kon Tum), người Hrê còn có bộ chiêng 5 chiếc, nhưng không phổ biến.

1.3. NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI COR

Các loại hình dân ca

Dân tộc Cor ở Quảng Ngãi còn bảo lưu nhiều loại hình dân ca, khá đa dạng và phong phú, có những sắc thái riêng. Phổ biến có các làn điệu sau:

* Xà ru

Là điệu hát có giai điệu trong sáng, mượt mà, theo lối tự sự, có kể, có tâm tình, có nói bóng gió, lời hát thường từ sự ứng khẩu của mỗi người. Trai gái hay dùng xà ru để hát tỏ tình, trong rừng quế hay ngoài sông, ngoài suối. Trong lễ hội, xà ru là công cụ năng động nhất để đối thoại giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau. Xà ru còn được dùng để giao tiếp với thần linh.

* A giới

A giới là điệu hát đối đáp, có giai điệu ngọt ngào, trong sáng, theo giai điệu có sẵn. Người hát có thể ứng khẩu phần lời cho phù hợp với môi trường, hoàn cảnh. Đề tài của a giới thường là về những nỗi riêng tây, những khó khăn vất vả, những nỗi bất hạnh.

* A lát

A lát có giai điệu tươi vui, thường miêu tả tình cảm giữa con người và loài vật. A lát cũng được dùng trong đám cưới, mừng được mùa, đặc biệt trong lễ ăn trâu. Có khi người Cor còn dùng trống, chiêng để đệm cho các bài a lát.

* Cà lu

Cà lu thường dùng trong lễ tế ông bà, các vị thần linh. Những người già hay thầy cúng thường dùng giai điệu này trong khi tế lễ. Khi hát cà lu người hát phải ngửa mặt lên trời để tỏ lòng cầu khẩn. Nhịp điệu cà lu tương đối tự do nên người Cor không dùng trống, chiêng đệm theo.

* Cà rùa

Cà rùa là giai điệu thường dùng trong đám ma nên âm điệu buồn bã, trầm lắng, là một điệu hát kể, hát khóc, nội dung thường là kể về công ơn cha mẹ, vợ chồng.

Ngoài ra, người Cor còn có điệu hát a rợp, là điệu hát thường dùng trong lễ ăn trâu, hoặc khi làng có tin vui, nhưng điệu hát đang có nguy cơ thất truyền.

Nói chung, dân ca của người Cor ở Quảng Ngãi khá phong phú, đa dạng, trừ điệu a lát có giai điệu tươi vui, còn lại thường là trầm lắng, tâm tình. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, và cả trong thời bình, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã dùng các giai điệu xà ru, a giới, a lát.. để đặt thêm lời mới nhằm vận động bà con người Cor đứng lên chống Pháp, chống Mỹ, kêu gọi đoàn kết Kinh - Thượng, vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa...

Các loại nhạc cụ

Người Cor có nhiều loại nhạc cụ tương tự nhạc cụ của người Hrê, nhưng tên gọi có khác nhau chút ít.

* Đàn brook

Về cấu tạo và cách diễn tấu cũng giống cây đàn brook của người Hrê, có nơi còn gọi là bro, nhưng giai điệu có khác hơn các giai điệu của người Hrê. Người Cor cũng dùng cây đàn brook để hòa tấu cùng với các loại nhạc cụ khác, như brook t’ru, a máp, tà lía, ra ngoái... Brook là loại nhạc cụ dành cho nam giới.

* Đàn brook t’ru

Tương tự như cây đàn krâu của người Hrê, dùng để chơi các giai điệu vui tươi. Khác với người Hrê và người Ca Dong, người Cor ít khi dùng brook t’ru để mô phỏng tiếng chiêng, vì bộ chiêng của người Cor chỉ có hai chiếc. Đàn brook t’ru cũng chỉ dành cho nam giới, dùng trong sinh hoạt hàng ngày và lễ, tết.

* Đàn cà trớt

Có nơi còn gọi là đàn k’doh, là loại đàn giống như cây đàn nhị của người Việt. Cần đàn là một ống nứa dài khoảng 50 - 60 cm, có mắc 1 sợi dây bằng gân thú, hoặc dây tơ (nay thường là dây kim loại, như dây đàn ghita, hoặc dây thắng xe đạp), nối xuống phía dưới hộp cộng hưởng. Hộp cộng hưởng là một ống tre già có đường kính khoảng 10cm, dài khoảng 20cm. Người chơi dùng dây cung, là một đoạn cật tre vót mỏng, dài khoảng 40cm, kéo trực tiếp vào dây đàn. Người Cor dùng đàn cà trớt để chơi trong các dịp lễ hội theo các bài bản nhất định, hoặc đánh thức con cái dậy sớm ra nương, ra rẫy.

* Đàn ra ngoái

Cũng được làm bằng thanh tre hoặc gỗ nhỏ và một miếng thép như đàn ra ngoái của người Hrê, là loại đàn dành cho cả nam lẫn nữ. Hai người có thể dùng ra ngoái để tỏ tình với nhau.

* A máp

Là loại sáo nhỏ, bằng triêng rừng, có lưỡi gà, tương tự a mó của người Hrê, nhưng dài hơn. Trong cộng đồng người Cor hiện có rất nhiều người biết chơi a máp, đặc biệt là các nghệ nhân ở Trà Phong (huyện Tây Trà), như bà Hồ Thị Vui, Hồ Thị Bảy... Hai nghệ nhân này có thể song tấu nhiều bài a máp khác nhau, như ru con, đánh thức con dậy, khuyên con đi làm rẫy, đi bẫy thú... Khi song tấu thì một người thổi vào một đầu ống, một người khác dùng miệng và hai bàn tay "nói" ở đầu còn lại. Chính vì "nói" được qua tiếng a máp mà trong thời kháng chiến chống Mỹ, nhiều nghệ nhân Cor đã dùng a máp để báo tin cho các chiến sĩ cách mạng khi có giặc càn.

* Tà lía

Là loại sáo dọc, có 6 lỗ, tương tự sáo tà lía của người Hrê, dùng để thổi lúc đêm khuya hoặc ra rừng, ra rẫy, có khi còn để hòa tấu với các nhạc cụ khác.

Ngoài ra, người Cor cũng sử dụng các loại nhạc cụ khác, như chinh kla, ra đoang..., nhưng không phổ biến. Đặc biệt, phổ biến hơn người HrêCa Dong, người Cor còn dùng các loại đàn nước, đàn gió.

* Đàn nước

Được làm bằng nhiều ống nứa, đặt ở nguồn nước. Nhờ nguồn nước đẩy vào trái bầu đựng nước mà các ống nứa quệt vào nhau nghe rất trong trẻo, thánh thót, vui tai.

* Đàn gió

Là loại đàn được làm bằng một ống nứa, trên ống nứa có gắn một cái chong chóng cũng bằng nứa. Lúc có gió mạnh đàn gió sẽ phát ra âm thanh như tiếng người hú. Đàn gió vừa để giúp vui, vừa để đuổi chim, đuổi thú.

* Chiêng (chếk)

Bộ chiêng của người Cor có 2 chiếc, là loại chiêng bằng, không có núm, kèm theo một chiếc trống. Mỗi chiếc có chu vi khoảng 120cm, thành chiêng khoảng 5cm, có quai để xỏ dây. Hai chiêng có cao độ bằng nhau. Để so cao độ, người Cor dùng dùi gõ vào lòng chiêng. Khi diễn tấu, người chơi chiêng lấy tay phải néo giữ vào dây buộc chiêng, rồi nâng chiêng lên cao, và dùng dùi để đánh vào lòng chiêng.

Trong hai chiếc chiêng, có một chiếc gọi là chiêng mẹ, một chiếc là chiêng con. Khi hòa tấu, chiêng mẹ tấu trước, chiêng con tấu sau, rồi đến trống phụ họa. Chiêng mẹ thường chơi bồi âm, nghịch phách, chiêng con thường điểm những tiếng nhẹ.

Người Cor có các bài chiêng khác nhau: chiêng chào khách, chiêng cưới, chiêng cúng trâu, chiêng cúng thần, chiêng tiễn khách, đặc biệt là những bài chiêng dùng để "tranh luận" nhau, khi mềm mỏng, khi to tiếng, thậm chí có lúc tựa như tiếng chửi mắng nhau. Trống có nhiệm vụ làm người cổ vũ, lại có lúc làm người giải hòa.

Ngoài những làn điệu dân ca và các loại nhạc cụ rất phong phú, người Cor còn có điệu múa cà đáu rất độc đáo.

* Múa cà đáu (cà đáo)

Múa cà đáu có nhịp điệu nhẹ nhàng uyển chuyển, do các cô con gái người Cor thể hiện trong các dịp lễ tết, đặc biệt trong lễ ăn trâu. Múa cà đáu có 2 dòng: cà đáu trook đtăk, nghĩa là cà đáu đường nước hay cà đáu vùng thấp; cà đáu trook gôk, nghĩa là cà đáu đường núi hay cà đáu vùng cao. Cà đáu đường nước chậm rãi, cà đáu vùng cao hơi dồn dập. Trong lễ ăn trâu, các đội múa cà đáu trong y phục truyền thống phải múa cà đáu 3 đợt quanh cây nêu: cà đáu cho chủ nhà, cà đáu cho làng, và cà đáu cho khách. Các điệu múa cà đáu phụ thuộc vào điệu trống, chiêng. Có 3 động tác chính trong múa cà đáu: cà đáu chếch a rết, có nghĩa là giết cua; cà đáu dâm dắc, có nghĩa là choàng cõng con; cà đáu khor ta moi, nghĩa là cà đáu rừng (4).

1.4. NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CA DONG

Các loại hình dân ca

Cũng như người Hrê, người Cor, người Ca Dong ở Quảng Ngãi cũng bảo lưu được những làn điệu dân ca khá phong phú và đa đạng. Tiêu biểu có các làn điệu: ca lêu, ra nghế, plét, a hội, dê ô dê.

* Ra nghế

Ra nghế là lối hát đối đáp, tự sự, có tính chất ứng khẩu, thường diễn ra vào những đêm trăng sáng, hoặc cũng có khi lên nương, lên rẫy. Người Ca Dong còn dùng ra nghế để hát kể về công lao của con trâu trước khi làm lễ hiến sinh, hát kể về các thành phần cũng như hoa văn họa tiết của cây nêu... Trong các lễ tết, người Ca Dong cũng dùng ra nghế, ca lêu, a hội... để hát vui với nhau.

* A hội

Là lối hát theo một giai điệu và những bài có sẵn được lưu truyền trong dân gian, như về sự tích các con sông, các ngọn núi, chuyện về các anh hùng và những người đẹp huyền thoại, về tình yêu trai gái...

* Plét

Là điệu hát có giai điệu trong sáng, nhưng có thể thay lời mới cho phù hợp với hoàn cảnh, thường có những âm kết ề hế..., được sử dụng trong hội mùa, trong lễ tết...

* Dê ô dê

Là điệu hát có giai điệu ngắn gọn nhưng trong sáng, có thể hát một mình, cũng có thể hát đối đáp, thường mở đầu bằng 3 âm dề ô dê… Nhiều nhạc sĩ đã sử dụng giai điệu của dê ô dê đặt lời mới, nói về công cuộc xây dựng cuộc sống mới hiện nay, hoặc ca ngợi cảnh đẹp của núi rừng, con người vùng miền Tây Quảng Ngãi.

Các loại nhạc cụ

Nhạc cụ của người Ca Dong rất đa dạng và phong phú. Ngoài các loại nhạc cụ phổ biến, giống như các loại nhạc cụ của người Hrê, người Cor, như các loại đàn brook (người Ca Dong gọi là vrook), vrook krâu, vrook a khung, rơ đoang, tà lía, a băm, ra ngoái, đàn nước, đàn gió... còn có các loại nhạc cụ riêng, như kloong pút, chiêng hlênh, chiêng hnăng... Về các loại nhạc cụ của người Ca Dong giống với nhạc cụ của người Hrê, người Cor, xin không miêu tả thêm, vì cơ bản cách chế tác, cách biểu diễn, môi trường biểu diễn là giống nhau, chỉ khác nhau về các làn điệu được sử dụng. Dưới đây là một số nhạc cụ có chút ít khác biệt:

* Đàn kloong pút

Là loại đàn giống như đàn và pút (pênh pút) của người Hrê, nhưng có từ 2 - 5 ống nứa. Cách chơi kloong pút của người Ca Dong cũng giống cách chơi đàn và pút hay đàn a khung của người Hrê. Đây là loại đàn dành cho nữ giới, chủ yếu chơi trong những lúc rỗi rãi hoặc hội hè.

* Đàn vrook t’ru

Đàn vrook t’ru là loại đàn chỉ có 3 dây (khác với vrook krâu thường có 9 - 11 dây). Tiếng đàn vrook t’ru không sôi động, hơi trầm lắng, nên ngoài việc diễn tấu để bày tỏ tâm tình, hòa tấu với các nhạc cụ khác, đôi khi còn được sử dụng trong lễ tang.

* Đàn vrook krâu

Về cấu tạo, tính năng cũng giống như đàn brook krâu của người Hrê, người Cor, nhưng cách chơi đàn vrook krâu của người Ca Dong chủ yếu là mô phỏng tiếng chiêng hlênh, vì thế nó có thể thay thế một dàn chiêng hlênh khi không có dàn chiêng hlênh tham gia diễn tấu. Cấu trúc thang âm của đàn vrook krâu giống như thang âm của từng chiếc chiêng hlênh (theo loại chiêng hlênh 9 chiếc). Ngoài ra, vrook krâu còn được dùng để chơi các giai điệu dê ô dê, a hội, plét...

* Chiêng

Người Ca Dong có hai bộ chiêng là chiêng hnăng và chiêng hlênh.

Chiêng hnăng là bộ chiêng gồm 7 chiếc, có âm trầm vang, không có núm (chiêng bằng). Chiêng được đánh bằng dùi ở mặt trong, chỉ dùng trong lễ ăn trâu, ít khi dùng trong những trường hợp khác, là loại chiêng do đàn ông lớn tuổi sử dụng.

Chiêng hlênh là bộ chiêng gồm 9 đến 14 chiếc, có thang âm hết sức phong phú, dành cho trẻ em hoặc thanh niên. Loại hlênh 9 chiếc, từ nhỏ đến lớn, là loại chiêng có 7 chiêng chính gõ từng nốt một, 1 chiêng núm đệm nhịp, 1 chiêng núm giữ nhịp. Ngoài ra còn 1 trống hòa tấu. Loại chiêng hlênh 13 chiếc, cũng có kích thước từ nhỏ đến lớn, trong đó 3 nốt cao nhất có 3 chiếc, 4 nốt còn lại có hai chiếc, 2 chiếc còn lại dùng để giữ nhịp. Loại chiêng 14 chiếc, về cấu tạo cũng giống chiêng 13 chiếc, nhưng có 3 chiếc chiêng núm để đệm và giữ nhịp cùng với trống (pơtao).

Nhìn chung, kho tàng dân ca và dân nhạc của người Hrê, người Cor, người Ca Dong ở Quảng Ngãi hết sức đa dạng, không chỉ thể hiện ở số lượng, loại hình, giai điệu, tiết tấu mà còn ở nội dung, đề tài, chủ đề. Về cơ bản, nhiều loại hình dân ca, dân nhạc có những điểm giống nhau, nhưng cũng có nhiều loại hình khác nhau, như một số làn điệu dân ca, một số nhạc cụ, đặc biệt là các bộ chiêng, như bộ chiêng của người Hrê có 3 chiếc (và 1 trống), bộ chiêng Cor có 2 chiếc (và 1 trống), chiêng của người Ca Dong thì có 2 bộ, một bộ 7 chiếc, một bộ có khi đến 14 chiếc (và 1 trống), vv.

2. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH

2.1. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI SA HUỲNH CỔ

Những cuộc khai quật khảo cổ học trên vùng đất Quảng Ngãi trong suốt gần 100 năm qua, kể từ ngày Vinê phát hiện ra nền Văn hóa Sa Huỳnh, thì hàng nghìn hiện vật của người Sa Huỳnh cổ vốn chìm lấp trong lòng đất hơn 2 thiên niên kỷ được phơi bày dưới ánh sáng của thời hiện đại. Trong hàng nghìn hiện vật ấy, có không ít những hiện vật có giá trị cao về mặt tạo hình. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy tại Long Thạnh những con lăn in hoa văn tinh tế, các mộ vò táng cao, bụng phình, có hoa văn hình sóng biển quanh thân; các loại hoa tai hình vành khuyên mà mặt cắt thì hình chữ nhật, các chuỗi hạt hình đốt trúc tiện gò nổi tinh vi. Tại di tích Bình Châu - Bầu Trám, thuộc giai đoạn Trung kỳ đồng thau, các mộ vò có hoa văn màu trắng, trang trí các họa tiết cây lúa, dích dắc, mây mưa... Tại Xóm Ốc (đảo Lý Sơn), các nhà khảo cổ học cũng tìm thy các mộ nồi tô hồng hoàng, trang trí họa tiết, hoa văn thừng, băng chì; các loại bát bồng, bình con tiện... bằng gốm tô ánh chì, đỏ, in chấm, khắc vạch theo nhiều đường nét khác nhau, như sóng nước, tam giác, vảy cá, hình ngọn lửa... Tại di chỉ Suối Chình, cũng trên đảo Lý Sơn, hàng vạn mảnh gốm có trang trí hoa văn, như hoa văn đập thừng, hoa văn khắc vạch sóng nước, hoa văn in chấm, hoa văn vỏ sò, hoa văn tô màu đen, đỏ... cũng được tìm thấy. Dù chưa được miêu tả đầy đủ, nhưng tất cả những hiện vật được nhào nặn, đẽo gọt, trang trí vừa giới thiệu trên đã chứng tỏ cư dân tiền Sa Huỳnh - Sa Huỳnh, ngay từ 2.500 năm - 3.000 năm trước, đã biểu hiện óc thẩm mỹ của họ trên ngay những vật dụng sinh hoạt hàng ngày.

2.2. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI CHĂM

Hiện nay, trên địa bàn Quảng Ngãi không còn một tháp Chăm nào, nhưng ít nhất đã có hơn chục phế tích được phát hiện. Tại các phế tích tháp Chánh Lộ, Khánh Vân, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều hiện vật quý giá, đặc biệt là các ngẫu tượng bằng đá, gạch nung. Riêng các hiện vật được tìm thấy tại tháp Chánh Lộ đã làm nên một "phong cách Chánh Lộ" nổi tiếng trong nền nghệ thuật điêu khắc đá của người Chăm cổ từ hàng chục thế kỷ trước. Tiêu biểu thuộc phong cách này là các ngẫu tượng như: tượng Caja Simha đầu voi mình sư tử, đầy sức sống, có điểm những chuỗi hoa; tượng Ganêsa (hiện còn ở chùa Linh Tiên, Bình Đông, Bình Sơn) thế ngồi, đầu voi, ngực nở, bụng phệ, tay đeo vòng...; phù điêu chim thần Garuđa bằng đá, mang nhiều nét hoa văn khắc tinh tế, mềm mại; phù điêu vũ nữ Apxara vóc dáng, hình khối thon thả, uyển chuyển, cân đối; phù điêu thần Shiva (ở Nghĩa Thương, Tư Nghĩa) đường nét thanh thoát, uyển chuyển... Tại phế tháp Khánh Vân, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy bệ thờ trang trí hình lá nhĩ có tượng tu sĩ đang trong tư thế cầu khấn, đầu đội mũ hai tầng, chân quấn xà rông, một cặp chim thần Garuđa, được bố trí đăng đối, hài hòa. Ở tại núi Chồi, những tấm lá nhĩ bằng gốm nung có hình Phật Tam thế cũng được tìm thấy. Rải rác ở các nơi khác, như trong các gia đình, đình, chùa trong tỉnh, nhiều ngẫu tượng Chăm rất độc đáo hiện còn lưu giữ được, như đầu tượng Phật bằng đá, tóc xoăn, đầu tu sĩ bằng đất nung, chít khăn, nhuộm men xanh, vv.

Nói chung, nghệ thuật tạo hình của người Chăm trên đất Quảng Ngãi xưa kia, đặc biệt là điêu khắc đá, thuộc "phong cách Chánh Lộ", ngay từ thế kỷ XI, đã đạt đến một trình độ điêu luyện, có giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ cao, đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình đi lên của nghệ thuật điêu khắc đá Chăm, và đó không chỉ là một "loại nghệ thuật đóng khung trong công thức có sẵn", hay chỉ có tính chất phục hưng nghệ thuật nguyên thủy như Pacmăngchiê đã nhận định (5).

2.3. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT

Nghệ thuật tạo hình của người Việt ở Quảng Ngãi chủ yếu được thể hiện qua việc trang trí nhà cửa, đình làng, chùa chiền, đền miếu...

Người Việt ở Quảng Ngãi vốn có các kiểu nhà truyền thống, đó là nhà tranh tre, nhà rường và nhà lá mái, hay còn gọi là nhà đắp (bằng gỗ, hoặc bằng tranh tre). Kiểu nhà tranh tre ít được trang trí, bởi sườn nhà, cột nhà, vách... đều bằng tre nên việc trang trí, chạm trổ không phù hợp (và cũng do không có đủ điều kiện). Các loại nhà rường, nhà đắp (bằng gỗ) thường được trang trí nhiều hoa văn họa tiết tinh tế. Tùy điều kiện gia đình mà ngôi nhà của họ được trang trí nhiều hay ít. Các hoa văn, họa tiết thường được thể hiện trên các bảng lồng, bảng rui tàu, cửa võng, trụ chồng, bẩy hiên, các bảng nối giữa kèo và cột... bằng cách chạm thủng, chạm lộng, chạm nổi. Đề tài trang trí thường là: "song ngư" (hai con cá đang bơi trong tư thế âu yếm), "song điểu" (hai con chim, thường là khổng tước, đang bay) cũng trong tư thế tình tự, "triền chi" (dây leo) quanh chữ "Thọ", chữ "Phúc", hoặc quanh "ngũ phúc" (năm con dơi), "song ly chầu nhật" (hai con ly chầu mặt trời), "mai điểu" (chim đậu cành mai), "liên áp" (sen và đôi thiên nga)... Ngoài ra, trong các mảng chạm khắc trong ngôi nhà rường, nhà lá mái (bằng gỗ) còn thường chạm trổ các hình ảnh chim két, đôi sóc, cá hóa rồng; mai, lan, cúc, trúc...

Trong các ngôi đình còn lại trong tỉnh, như đình An Hải (huyện Lý Sơn), đình An Định, đình Lâm Sơn (huyện Nghĩa Hành)..., thì mặc dầu không còn nguyện vẹn hệ thống kiến trúc, nhưng đình An Định là nơi lưu dấu những hoa văn, họa tiết hết sức độc đáo của các nghệ nhân ở các làng quê Quảng Ngãi gần hai trăm năm trước. Có thể nói, những hình ảnh "tứ quý" (mai, lan, cúc, trúc), "tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "ngũ phúc" (5 con dơi), "triền chi" (dây leo), "mai điểu" (đôi chim chuyền cành mai), rùa, hạc, sen, chữ "Vạn", chữ "Thọ" cách điệu... được phủ lên các cấu kiện kiến trúc gỗ trong đình, như bảng lồng, cửa võng, đã trở thành những tác phẩm tạo hình tinh tế, đầy ấn tượng.

Trong các ngôi chùa cổ còn lại trong tỉnh, đặc biệt là chùa Ông - Thu Xà (thực chất là một quán do tứ bang Minh Hương và người địa phương góp công sức xây dựng), vẫn còn khá nguyên vẹn những tác phẩm tạo hình trên các thành phần kiến trúc của các nghệ nhân trong và ngoài tỉnh vào năm Minh Mạng nhị niên (1821). Đó là hệ thống "bát bửu", "tứ linh", "triền chi" trên các liên ba đố bảng; là "lưỡng long tranh châu" (hai con rồng tranh hạt châu) trên bảng lồng, trên mái chùa; là các đại tự có đường nét tài hoa và mạnh mẽ trên hoành phi "Hạo nhiên chánh khí - Trung tâm quán nhựt"; là mô típ chày cối đầu choãi cánh dơi gắn vào đầu trụ chồng; là những khám thờ bằng gỗ chạm khắc tinh vi nhiều đề tài khác nhau, vv. Cũng tại Chùa Ông, nhiều pho tượng gỗ quý hiếm vẫn còn nguyên màu sắc hài hòa, đường nét sắc sảo và uyển chuyển, như: cụm tượng Kim Đẩu (gồm Kim Đẩu, Phán Quan và 12 Bà Mụ), cụm tượng Thiên Hậu (gồm Thiên Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thiên Lý Nhãn, Thiên Lý Nhĩ...).

Nhìn chung, nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật tạo hình của người Việt ở các vùng miền khác, nhất là ở vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Sở dĩ có sự tương đồng đó là vì, về quan niệm nghệ thuật cư dân ở các vùng miền này tương đối giống nhau, có ảnh hưởng nhiều với nghệ thuật tạo hình cung đình Huế; mặt khác, trong việc xây dựng một số đình làng, chùa chiền ở Quảng Ngãi còn có các hiệp thợ từ Huế, Quảng Nam vào, và cả Bình Định ra, phối hợp với các hiệp thợ tại địa phương. Đặc điểm của nghệ thuật tạo hình dân gian ở vùng đất này là chú trọng đến sự đăng đối, hài hòa, đường nét uyển chuyển, tinh tế, giàu biểu cảm, thể hiện ước vọng về một cuộc sống thanh bình, no đủ, hạnh phúc, trường thọ; cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, đất nước phồn vinh...

2.4. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI HRÊ

Cũng như các dân tộc thiểu số ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung, các dân tộc thiểu số ở miền Tây Quảng Ngãi nói riêng, người Hrê rất chú trọng đến nghệ thuật tạo hình trên các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày, như cánh cung, con dao, cái rìu, cái gùi, quần áo, khăn đội đầu..., trên mái nhà sàn, trong không gian ngôi nhà, trong và ngoài ngôi nhà mồ... Hoa văn thường được sử dụng là hoa văn khắc vạch kiểu hình học, hình tròn, hình thoi, hình tam giác, hình vuông; màu sắc thường được sử dụng là những màu được chắt lọc từ cây cỏ, động vật có trong tự nhiên, như các màu đỏ (thẫm), xanh (chàm), trắng (đục), đen. Tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình của người Hrê là đồ dệt và trang phục.

Trang phục của người Hrê gồm: phụ nữ có kàtu (váy), iu (áo), mu (khăn đội đầu); đàn ông có kapen (khố), vôn (tấm choàng), và ngoài ra còn có một số sản phẩm đồ dệt thổ cẩm khác, như khăn địu con, tấm khiêng võng (6)... Hầu hết các sản phẩm đồ dệt thổ cẩm người Hrê thường dùng màu trắng nguyên của sợi bông, màu đỏ của đá son, cây sim, màu đen từ nhọ nồi, màu xanh của nhiều loại cây rừng khác. Trên trang phục phụ nữ, màu đỏ và màu xanh (nguyên) ít được sử dụng hơn màu đen (hơi ngả xanh) và màu trắng. Trên khố, áo choàng của nam giới màu đỏ được sử dụng nhiều hơn. Nhìn tổng thể chiếc váy của phụ nữ Hrê có rất nhiều băng hoa văn trang trí nhiều ô hộc khác nhau: hình răng cưa, hình vuông, hình sóng lượn, hoa lá, trái cây... Nhờ sự đa dạng của các loại hoa văn này mà chiếc váy của phụ nữ Hrê khá tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình của dân tộc Hrê, đáng chú ý như các mô típ k’lêh (móc), răng col (hoa lá), plyrih (trái cây), raih (răng lược), klăk (cây để làm giấy cúng). Trên một tấm váy, các loại hoa văn này, có khi được xâu chuỗi, có khi được gián cách, tạo nên sự phong phú, da đạng, bố cục đối xứng, hợp lý, biểu đạt một ý niệm về cuộc sống hòa nhập với thiên nhiên. Các loại sản phẩm từ nghề dệt tại làng Teng (xã Ba Thành, huyện Ba Tơ) hiện nay, chủ yếu cũng dựa theo cách sắp xếp hợp lý, tài hoa này, không rực rỡ, nhưng đằm thắm, khiêm nhường, lặng lẽ như chính người Hrê vậy.

Ngoài những sản phẩm từ nghề dệt thể hiện bàn tay tài hoa, khéo léo và quan niệm thẩm mỹ của người Hrê, nghệ thuật tạo hình của người Hrê còn thể hiện ở biểu tượng sừng trâu trên mái nhà sàn, trên mái nhà mồ. Tuy giản đơn chỉ là vài đoạn tre, hoặc nứa, và vài nắm rơm buộc chúc ngược, nhưng đó chính là một biểu tượng về cái đẹp, về sức mạnh, là một cầu nối giữa thế giới vô hình và thế giới hữu hình của một tộc người. Trên mái nhà mồ của người Hrê còn có những biểu tượng về mặt trời, về mặt trăng, về chim muông, cỏ cây, hoa lá...; còn có các hoa văn, họa tiết màu trắng đục, màu đen, màu đỏ sẫm trong lòng các cánh chong chóng vươn cao giữa trời xanh, trên những đường diềm bằng gỗ quanh nóc nhà mồ...

Nghệ thuật tạo hình của người Hrê có nét rắn rỏi, hào phóng, chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan của chính tộc người này.

2.5. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI COR

Cũng như người Hrê, người Cor ở Quảng Ngãi luôn chú trọng đến vẻ đẹp trong vật dụng sinh hot hàng ngày, vật dụng trong lễ hội, tín ngưỡng, đặc biệt trong lễ hội ăn trâu.

Trong lễ hội ăn trâu, người Cor phải mất hàng vài trăm công để làm cây nêu và các gu tum, gu vla. Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, cây nêu, các gu không chỉ là công cụ của nghi lễ mà còn là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc hết sức độc đáo, trong đó chứa đựng quan niệm về vũ trụ, về cuộc sống, về cái đẹp của người Cor từ bao đời truyền lại. Trên thân cây nêu, vốn được làm bằng gỗ chò, là loại cây gỗ thân thẳng, luôn vươn cao, tượng trưng cho khí phách người Cor, các nghệ nhân đã chạm trổ công phu hàng trăm hình vẽ khác nhau: mặt trăng, mặt trời, sao đêm; cây cỏ, hoa lá; thỏ, rùa, nai, khỉ, gà, chó, tổ ong, chim sẻ, chim đại bàng..., và đặc biệt là chim chèo bẻo (sip-plip), và chim phượng hoàng đất (sip-rak), là những loài chim tượng trưng cho lòng khát khao, quả cảm, chí hiên ngang của người Cor, vv. Nói chung, gần như trong tự nhiên có những gì gần gũi với con người đều được người Cor phô bày trong bóng dáng hiên ngang của cây nêu ngày hội. Để thể hiện các hình ảnh đó, người Cor đã dùng chính những con dao vẫn thường dùng hàng ngày để khắc vạch, tỉa tót công phu, dùng những thứ màu sắc có trong tự nhiên để tô vẽ. Các màu đỏ, đen, trắng luôn là những gam màu chủ đạo. Khi các gam màu này được hòa quyện vào nhau trên thân cây nêu bằng các loại hoa văn cách điệu, như hoa văn xương cá, hoa văn rìa vải, hoa văn cây trái, hoa văn kỷ hà, hoa văn hình học, thì thân cây nêu trở nên một tác phẩm mỹ thuật tuyệt đẹp, vừa rực rỡ, vừa đối ứng, vừa hài hòa, vừa dứt khoát, nhất là ở phần gốc nêu, nơi có "mâm thần" xòe bốn phía.

Cũng trong lễ hội ăn trâu, người Cor còn có gu vlagu tum. Gu vla là chiếc gu treo ở xà nhà, nơi các đấng thần linh trú ngụ. Gu vla có 2 bộ phận, gu trống (gu pô) và gu mái (gu pi). Trên gu pô, các hoa văn họa tiết được bố trí nối tiếp theo chiều dọc thẳng đứng của thân gu (trụ vuông), với 7 phần không lặp lại, gồm các vạch kẻ ngang, dọc, ô hộc, hình tam giác, hình vuông, hình răng cưa, hình rìa vải; biểu thị mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, bông hoa, cái khay, cây trái, hạt lúa... Gu pi có 4 tai gỗ, 8 mảng hoa văn, tương tự như gu pô, nhưng có cách điệu khác hơn trong các đường diềm hình tròn, tựa như 4 cánh hoa rực rỡ những gam màu đen, đỏ, trắng. Gu tum là gu treo ở gian bếp, là gu dành riêng cho thần Lửa, với quan niệm, trong ngày hội thần Lửa bận rộn không được tham dự nên phải làm gu cho thần "thưởng thức" riêng. Các hoa văn họa tiết gu tum tương tự như gu vla, nhưng giản đơn hơn, và gu tum cũng nhỏ hơn gu vla.

Nhìn chung, mỗi mảng chạm khắc, trang trí của người Cor trên các thành phần cây nêu, trên các gu, và cả những vật dụng đồ đan (gùi xui pót, gùi lép, rá đựng cơm, lá phướn...), các đồ dùng sinh hoạt như trang phục (cổ truyền), con dao, ống đựng thuốc..., đều thể hiện bàn tay tài hoa, óc thẩm mỹ cao, luôn trung thành với những mô típ hoa văn truyền thống của dân tộc mình, bởi đó chính là thế giới nghệ thuật riêng của người Cor mà các dân tộc khác không có được.

2.6. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI CA DONG

Cũng giống như các dân tộc anh em trên miền núi Quảng Ngãi, người Ca Dong luôn chú trọng đến nghệ thuật tạo hình trên các đồ dùng sinh hoạt cũng như trong lễ hội. Giống như người Cor, những quan niệm về nghệ thuật tạo hình của người Ca Dong tập trung trên cây nêu trong lễ hiến sinh trâu.

Cây nêu của người Ca Dong chia làm 3 phần: phần gốc (làm bằng gỗ sến hay chò), phần thân (làm bằng cây tre lồ ô) và phần ngọn (làm bằng nứa). Người Ca Dong tập trung trang trí các hoa văn họa tiết trên phần thân và phần ngọn của cây nêu. Trên phần thân có tầng ra vai với những dải kring ning (chuông nứa). Rai vai là 2 mảnh gỗ trang trí các hoa văn màu đen, đỏ, trắng, vắt chéo nhau qua thân nêu, có 4 núm, tượng trưng cho 4 gò vú của con chó Cót Anh (của thần Tờ Trót) trong thần thoại Ca Dong. Tiếp dưới tầng ra vai là tầng vung viêng - nơi thần linh đáp xuống để nhận vật hiến tế, cũng có gắn kring ning và các dải vỏ loang pút màu trắng, phía dưới đôi dải vỏ cây nhuộm đỏ. Vung viêng xòe ra 4 tán rộng, cong ngược ở phần đuôi, được trang trí các hoa văn mặt trời, mặt trăng, hoa trái... với các màu sắc: đen, đỏ, trắng, trong đó màu đen là màu chủ đạo. Phần thân nêu nối giữa tầng vung viêngra vai là nơi người Ca Dong tập trung trang trí nhiều dải hoa văn cách điệu các hình ảnh, như tai cọp, cườm chim đất, cây sí xô, lá rơ nu, răng cưa, vòng kiềng... với các màu: đen, xanh, đỏ, trắng, trong đó màu đỏ là màu chủ đạo. Vì thế, khi nhìn cây nêu, đây là phần rực rỡ nhất. Tầng cao nhất được gọi là tầng chu úc. Tầng chu úc cũng có gắn các ống nứa, các vỏ cây loang pút, và đặc biệt là các dải hoa riêng klung... Dọc theo dải loang pút người Ca Dong gắn các hình chim pơlinh, cá niêng (hơ linh), ếch, gà, thỏ... được tạo tác bằng các vỏ cây (có nơi, người Ca Dong gắn các hình này ở tầng vung viêng), và đặc biệt là, trên phần ngọn của cây nêu có hình con chim hang, được tạo dáng công phu bằng gỗ, sơn đen, mỏ đỏ, bởi chim hang chính là biểu tượng cho người Ca Dong.

Ngoài ra, người Ca Dong còn chú trọng đến việc trang trí trên các đồ dùng sinh hoạt, như các bộ y phục truyền thống, chuôi dao, cung, ná..., nhất là ống đựng thuốc lá (cũng gọi là kring ning) của phụ nữ. Ống đựng thuốc lá là một ống tre lồ ô già, dài khoảng 10cm, đường kính khoảng 3cm, có nắp đậy cũng bằng lồ ô. Trên thân và nắp ống đựng thuốc người Ca Dong chạm khắc các vạch chung quanh rồi tô hai màu chính là đen và trắng. Mỗi ống gắn các tua vải (trắng, đỏ, viền đen), cuối các tua vải có treo khoảng vài chục lục lạc bằng đồng. Ống đựng thuốc lá không chỉ là vật dụng dùng để đựng thuốc bột mà còn là vật trang điểm của phụ nữ (giắt bên hông).

Vẫn là các hoa văn họa tiết cách điệu với nhiều đề tài khác nhau, vẫn là các màu chính: đỏ, trắng, đen, được chiết ra từ cây cỏ tự nhiên như các dân tộc khác đã sử dụng, nhưng qua đôi mắt và bàn tay khéo léo của người Ca Dong, những thứ ấy đã thật sự hài hòa, uyển chuyển, rực rỡ mà khiêm nhường, lại rất riêng, trên các vật dụng sinh hoạt, trên cây nêu trong lễ hội. Có được điều đó là nhờ chúng đã thấm đẫm tâm hồn, cốt cách, quan niệm về cái đẹp của một tộc người.

Nhìn chung, về nghệ thuật tạo hình, mỗi dân tộc ở Quảng Ngãi có cách trình bày riêng, phù hợp với quan niệm về cái đẹp, với nhân sinh quan và vũ trụ quan của từng dân tộc. Chính nhờ cái riêng ấy mà đã làm nên một chỉnh thể nghệ thuật tạo hình Quảng Ngãi, đa dạng và phong phú, độc đáo và đầy ấn tượng, có giá trị cao về thẩm mỹ, về nhân văn, về đạo đức truyền thống...

II. 60 NĂM PHÁT TRIỂN NỀN NGHỆ THUẬT MỚI

1. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG

Kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, cũng như các lĩnh vực hoạt động khác, nền nghệ thuật diễn xướng ở Quảng Ngãi bước sang một chặng đường mới, thay đổi hẳn về bản chất. Cách mạng đã đem lại một sinh khí mới cho những người hoạt động văn hóa nghệ thuật, dù có thể trước đây họ vốn chỉ là những nghệ nhân trong các gánh hát nghiệp dư theo thời vụ (các gánh hát bội, các phường sắc bùa...), như Hồng Mão, Trịnh Kỳ..., hoặc môt số ít tham gia vào Ban nhạc Rozambo (về sau gọi là Ban nhạc Cẩm Thành) với những nhạc sĩ, không chỉ nổi tiếng ở Quảng Ngãi mà còn nổi tiếng trên khắp vùng Nam Trung Bộ, như Nguyễn Huyền, Nguyễn Trình, Vân Đông...(7) Nhiều người trong số họ đã bắt đầu chuyển hướng sang làm nghệ thuật phục vụ cách mạng. Liên đoàn Văn hóa Cứu quốc thành lập từ tháng 9.1945, do ông Lê Anh Trà làm Chủ tịch, các ông Huỳnh Tiến, Nguyễn Hóa làm Phó Chủ tịch, ông Trương Quang Lộc, bà Trần Thị Bạch Liên làm Ủy viên thường vụ. Tại các huyện cũng có các Đoàn Văn hóa Cứu quốc cấp huyện. Năm 1949, Phân hội Văn nghệ Quảng Ngãi thành lập, do nhà thơ Nguyễn Viết Lãm làm Phân hội trưởng. Một đội ngũ hoạt động trên lĩnh vực âm nhạc, sân khấu khá đông đảo được hình thành, như: Vân Đông, Lâm Tô Lộc, Nguyễn Ngọc Cư, Trương Quang Lục, Trần Hồng, Lê Cường, Lệ Thi, Nguyễn Thành, Kim Hùng, Khánh Cao...

Vào khoảng thời gian này, ở Quảng Ngãi có ba đội chuyên về nghệ thuật biểu diễn, đó là đội kịch nói, đội tuồng, đội văn công, thường xuyên đi lưu diễn khắp nơi, đến tận các làng xã xa xôi, góp phần phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của quần chúng nhân dân. Các trường học, các đơn vị bộ đội cũng thường xuyên tổ chức những sinh hoạt văn nghệ, vui chơi, tạo nên một phong trào ca hát, diễn xướng sôi nổi trong toàn tỉnh (8).

Đặc biệt, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ được chuyển về Quảng Ngãi, thì thị trấn Sông Vệ đã trở thành một "thủ đô" kháng chiến của Liên khu V (1946 - 1950), thu hút nhiều thành phần cư dân đến sinh sống và làm việc, trong đó có rất nhiều văn nghệ sĩ, như Khương Hữu Dụng, Phan Huỳnh Điểu, Hoàng Quý, Dương Minh Viên, Nguyễn Quới, Đoàn Nhật Tấn... Tại Sông Vệ đã có những hiệu đàn nổi tiếng như các xưởng đàn ông Đặng Xuân Ba, Huỳnh Cư, Thanh Toàn... chuyên sản xuất các loại đàn ghita, bănggiô, viôlông, măngđôlin. Ở Chợ Chùa (huyện Nghĩa Hành), Châu Ổ (huyện Bình Sơn), thị xã Quảng Ngãi cũng đều có những xưởng sản xuất các loại đàn. Đêm đêm, khắp các ngả đường trong tỉnh đều âm vang tiếng đàn, tiếng hát những ca khúc cách mạng, ca khúc kháng chiến, và ở thị xã, thị trấn, thị tứ thỉnh thoảng còn nghe giai điệu những bản giao hưởng phương Tây (9).

Trong thời gian này, tại Quảng Ngãi có các nhóm nhạc sĩ nổi danh, như: nhóm nhạc sĩ của Tiểu ban Văn nghệ Phòng chính trị Liên khu V với tên tuổi Dương Minh Ninh; nhóm nhạc sĩ của Đài Tiếng nói Nam Bộ (ở Tịnh Hà, Sơn Tịnh) với Quách Vũ và ca sĩ Xuân Mai; nhóm nhạc sĩ của Quân y Liên khu V với Đỗ Luận. Tại các huyện cũng có những nhóm hoạt động âm nhạc, như: Nghĩa Hành với nhóm nhạc của anh em Trần Cao Ba, Trần Cao Nhị; Bình Sơn có nhóm nhạc của Nguyễn Nhĩ; Tư Nghĩa có 2 nhóm là nhóm của Lê Cường ở Nghĩa Lộ, và nhóm của Nguyễn Quế ở Nghĩa Hòa; Sơn Tịnh có nhóm của Bùi Đức Mãn... Ngoài ra, còn có một số nhóm nhỏ ở Ba Gia - Đồng Ké, ở Đề An, An Chỉ, do một nhạc sư Công giáo từ Nam Định vào là Pétrus Thiều đào tạo. Ở các trường học trong tỉnh cũng có những nhóm nhạc, như: nhóm nhạc của nhạc sĩ Vân Đông, Lê Ngọc Cầu, Nhật Lai ở trường Trung học Bình dân; nhóm nhạc của Hoàng Quý, Phan Huỳnh Điểu, Ngọc Trai, Nguyễn Thị Nhị, ở trường Trung học Lê Khiết... Khi Ty Thông tin tuyền truyền văn nghệ lập Đội Văn nghệ - một hình thức văn công, thì nhạc sĩ Vân Đông được cử làm đội trưởng, và ban nhạc của đội gồm có nhạc sĩ Lê Cường và các nghệ nhân Hồng Mão (bài chòi), Trịnh Kỳ (sắc bùa, hô thai, nói lái)... Chính tại Đội Văn nghệ này, nhạc sĩ Vân Đông đã hệ thống hóa các làn điệu dân ca dân nhạc địa phương, thể nghiệm trên các loại nhạc cụ măngđôlin, ghita, thành những tiết mục văn nghệ độc đáo (10).

Về ca khúc, tiêu biểu trong thời kỳ này có: Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên, Vó ngựa sa trường của Phạm Thiều, Bờ xe nước Bước chân chiến sĩ của Vân Đông, Vui ngày mùa của Lê Cường (giải thưởng Phạm Văn Đồng của Hội Văn nghệ Liên khu V, 1952), Ca khúc Chu ro (lời Lệ Xuân) của Nguyễn Đức Tùng, Hoan nghênh tín phiếu (lời Lưu Trùng Dương) của Phan Huỳnh Điểu, Sản xuất tự túc của Dương Minh Ninh, Đánh giặc và tăng gia của Văn Cận, Chuyến tàu trăng của Trương Quang Lục...(11).

Cũng trong thời gian này, có nhiều gánh hát bài chòi hoạt động, như gánh Đồng Tâm của ông bầu Từ Liên, gánh hát bài chòi của gia đình "Anh Liên - chị Ký". Các gánh bài chòi này hoạt động trong nhiều năm, gánh nào tìm ra được nhiều tuồng tích mới, có diễn viên hát hay, thì gánh đó tồn tại lâu hơn. Tướng Nguyễn Chánh, lúc đó là Bí thư Liên khu ủy, đã hết sức quan tâm đến bộ môn ca kịch bài chòi. Chính ông là người chủ trương cho lập Đoàn Văn công Liên khu V vào năm 1952. Đoàn có hai bộ môn tuồng và bài chòi, là hai bộ môn hoạt động chính. Trong 300 ngày chuyển quân tập kết, đoàn đã biểu diễn phục vụ đồng bào vở tuồng Chị Ngộ (Nguyễn Lai), vở bài chòi Trước giờ tạm biệt (Nguyễn Tường Nhẫn), với các vai diễn chính là Lệ Thi và Kim Hùng. Chính vở Trước giờ tạm biệt là chiếc cầu nối giữa sân khấu bài chòi Nam Trung Bộ với sân khấu bài chòi tồn tại trong suốt 21 năm chống Mỹ ở miền Bắc, và là động lực cho Nguyễn Tường Nhẫn viết tiếp vở diễn bài chòi Thoại Khanh - Châu Tuấn, là một vở diễn sống lâu trong lòng công chúng và làm nên một tên tuổi hát bài chòi lừng danh cả nước: Nghệ sĩ Lệ Thi (12).

Để phục vụ các nhiệm vụ chính trị, như vận động tăng gia sản xuất, hũ gạo tiết kiệm, tuyên truyền bình dân học vụ... ngành Văn hóa thông tin, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc cũng phát động phong trào sáng tác và vận dụng ca dao, dân ca, hò vè. Hàng trăm câu ca, hò vè có chủ đề này đã ra đời và tồn tại mãi đến ngày nay.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các hoạt động âm nhạc, sân khấu đã chuyển sang một chủ đề khác: chống xâm lược và chính quyền phản động, kêu gọi thực hiện Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, hòa bình, thống nhất đất nước. Hầu hết số văn nghệ sĩ là người Quảng Ngãi, hoặc không phải là người Quảng Ngãi nhưng hoạt động trên địa bàn này, đều đi tập kết. Tài năng của họ tiếp tục được lớn dần trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Phong trào hoạt động âm nhạc, sân khấu tại Quảng Ngãi tạm thời bị lắng xuống, một phần do sự thiếu vắng đội ngũ nòng cốt, một phần do địch đánh phá ác liệt. Phải đến cuối những năm 50 thế kỷ XX, cùng với sự ra đời các đội công tác tuyên truyền vũ trang, thì phong trào văn nghệ phục vụ kháng chiến chống Mỹ mới bắt đầu khởi động lại cùng với khởi nghĩa vũ trang. Nhiều bài dân ca bài chòi, nhiều bài ca lêu, xà ru, a giới.. được đặt thêm lời mới để cổ vũ quần chúng nhân dân tham gia chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là ở vùng núi.

Nhưng để có một phong trào hoạt động âm nhạc, sân khấu thật sự lớn mạnh và hiệu quả, góp phần quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phải kể từ lúc Đoàn Văn công Giải phóng tỉnh ra đời trên cơ sở tách ra từ Đội tuyên truyền vũ trang tỉnh vào ngày 8.6.1964 tại suối Chí (huyện Nghĩa Hành) với số diễn viên ban đầu chỉ có 8 người, mà hầu hết đều mới rời khỏi ghế nhà trường (13). Nhiều tiết mục hoạt động mang tính tổng hợp như: ca múa nhạc, kịch nói, dân ca - kịch bài chòi, tấu hài... được dàn dựng, biểu diễn khắp các làng xã ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến, thậm chí ngay cả trong lòng địch.

Năm 1966, Ban Tuyên huấn tỉnh lập thêm Đoàn Văn công miền núi. Năm 1967, nhập chung đoàn này vào Đoàn Văn công Giải phóng tỉnh. Năm 1970, Khu ủy Khu V lập thêm Đoàn Văn công Sơn Trà (gồm Sơn Hà, Sơn Tây, và các xã phía Tây Trà Bồng, nay là Sơn Tây). Năm 1972, Đoàn Văn công Sơn Trà lại nhập chung vào Đoàn Văn công Giải phóng của tỉnh, với tổng số cán bộ, diễn viên lên đến 70 người. Trình độ hoạt động của đoàn ngày càng được nâng cao rõ rệt, nhất là khi các nhạc sĩ, đạo diễn từ miền Bắc trở vào tham gia hướng dẫn, đào tạo, sáng tác. Những tiết mục do Đoàn Văn công Giải phóng Quảng Ngãi biểu diễn mãi còn làm náo nức lòng dân ở những vùng đoàn đã đi qua. Và, trong sự nghiệp phục vụ cuộc kháng chiến đầy cam go, thử thách ấy, hàng chục nghệ sĩ, diễn viên đã mãi mãi nằm xuống trên mảnh đất này.

Tại vùng địch tạm chiếm, hoạt động âm nhạc và sân khấu cũng tương đối phong phú. Nhiều lớp dạy nhạc được mở tại thị xã và các thị trấn. Phong trào văn nghệ trong các trường trung học hình thành và phát triển. Trong phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn của sinh viên, học sinh Quảng Ngãi, các trường học trong tỉnh thường xuyên có các chương trình biểu diễn "Văn nghệ vì hòa bình", "Hát cho đồng bào tôi nghe"…

Sau ngày hòa bình, Đoàn Văn công Giải phóng Quảng Ngãi từ căn cứ xuống đã bắt tay ngay vào các hoạt động biểu diễn phục vụ đồng bào trong tỉnh với các tiết mục ca kịch bài chòi, kịch nói, ca múa nhạc, tấu hài... bằng chính những tiết mục "ruột" trong kháng chiến. Trong tỉnh có một phong trào văn nghệ quần chúng nở rộ vào thời điểm sau giải phóng. Khắp nơi vang lên những bài ca kháng chiến, bài ca cách mạng. Thôn xóm nào cũng tổ chức diễn văn nghệ, sinh hoạt lửa trại cho làng xóm mình.

Khi sáp nhập với Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình (1975), phong trào văn nghệ, ca múa tại Quảng Ngãi vẫn tiếp tục được duy trì. Sau khi tái lập tỉnh (1989), Quảng Ngãi có Đoàn Ca múa nhạc dân tộc, có Đội tuyên truyền văn hóa, thường xuyên phục vụ đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng xa, và hải đảo.

Sau năm 1975, đội ngũ làm công tác âm nhạc, biểu diễn không ngừng được lớn mạnh. Nhiều người được đào tạo qua các lớp bồi dưỡng sáng tác, biểu diễn tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghệ thuật âm nhạc, sân khấu, múa... Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ biểu diễn ngày càng được đầu tư, nâng cấp. Chương trình, tiết mục đa đạng. Hàng năm đều có các hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng, liên hoan đàn hát dân ca, liên hoan tiếng hát truyền hình, liên hoan tiếng hát Họa mi...; nhiều chương trình, tiết mục được giải thưởng cao toàn quốc và khu vực. Câu lạc bộ Âm nhạc thành phố Quảng Ngãi cũng là nơi các nhạc sĩ, ca sĩ trong thành phố thường xuyên tổ chức các chương trình biểu diễn, chương trình giới thiệu tác giả - tác phẩm. Các tập ca khúc của Vân Đông, Trương Quang Lục, của các nhạc sĩ trẻ tại Quảng Ngãi được xuất bản, các băng ca nhạc, các đĩa CD ca nhạc về Quảng Ngãi cũng được phát hành. Nổi lên trong thời kỳ sau năm 1975 có các nhạc sĩ: Trần Xuân Tiên, Dương Quang Hùng, Minh Châu, Nguyễn Tuấn... Ở một số địa phương khác trong cả nước cũng có một số nhạc sĩ, ca sĩ là người Quảng Ngãi khá nổi tiếng, như Hoàng Tạo, Trần Xuân Tiến, Phạm Đăng Khương, Đình Thậm, Thế Vũ (ca sĩ)...

Một số gương mặt tiêu biểu của ngành nghệ thuật biểu diễn:

Vân Đông (1919 - 2002), tên thật là Trần Quang Huy, sinh tại thành phố Quảng Ngãi, nổi lên từ thập kỷ 40 của thế kỷ XX, qua Ban nhạc Rozambo. Vân Đông là một người đa tài, vừa chơi đàn, vừa hát, vừa sáng tác múa, vừa vẽ tranh, vừa viết giáo trình âm nhạc, đặc biệt là sáng tác nhạc (với hơn 300 ca khúc, hàng chục hợp xướng, khí nhạc sonate, quintette, tam tấu, tứ tấu...). Ông có các tập ca khúc: Nhớ về quê mẹ (1974), Nhớ đàn xe nước (1991), trong đó nổi tiếng nhất là các bài Nhớ đàn xe nước, Nhớ về quê mẹ, Bước chân chiến sĩ, Dưới ánh sao vàng, Thu tiễn… Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 (2001).

Lâm Tô Lộc (sinh 1929), quê quán thành phố Quảng Ngãi, hiện đang sống ở Hà Nội, hoạt động âm nhạc và múa từ những năm 40 của thế kỷ XX. Năm 1945, tham gia Liên đoàn Văn hóa cứu quốc. Sau năm 1954, ông đi vào công tác nghiên cứu và giảng dạy. Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học, ông chuyên sâu về múa. Ông là tác giả hoặc đồng tác giả của 23 công trình nghiên cứu cấp nhà nước, 15 cuốn sách đã công bố, là người đầu tiên nghiên cứu về nghệ thuật múa ở Việt Nam. Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1, và đồng tác giả của tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh (kịch múa Ngọn lửa Nghệ Tĩnh).

Trương Quang Lục (sinh 1933), quê Sơn Tịnh, là nhạc sĩ viết nhiều loại ca khúc, nổi tiếng với các ca khúc: Cô gái Lâm Thao, Tiếng hát bên rừng, Vàm Cỏ Đông, Hoa sen tháp mười, Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường... Ông còn nổi tiếng với các ca khúc viết cho thiếu nhi, tiêu biểu có các tác phẩm: Trái đất này là của chúng mình, Tuổi mười lăm, Em yêu đàn gà xinh xinh... Ngoài ra, ông cũng sáng tác một số tác phẩm nhạc phim.

Lệ Thi (sinh 1925), quê thành phố Quảng Ngãi, học hát và trở thành diễn viên hát tuồng chuyên nghiệp từ năm 1938, đặc biệt nổi tiếng với vai diễn ca kịch bài chòi ngay từ thời chống Pháp (cô Sáu Thi). Bà cũng là người tham gia đào tạo nhiều lớp diễn viên ở Khu V với khoảng hơn 200 diễn viên chuyên nghiệp. Bà là diễn viên sân khấu đầu tiên được phong Nghệ sĩ nhân dân. Hiện đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh với chồng là nhà viết kịch Nguyễn Tường Nhẫn.

Kim Nhớ (1930 - 2003), sinh tại Sơn Hà, người dân tộc Hrê, Nghệ sĩ ưu tú. Học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội, biểu diễn trong Đoàn Văn công Tây Nguyên thời chống Mỹ, từng biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới. Nổi tiếng trong thể hiện các ca khúc mang âm hưởng Tây Nguyên, đặc biệt là các ca khúc của Nhật Lai.

Ngoài ra còn có một số tên tuổi khác, nổi tiếng từ trước giải phóng, như Khánh Cao - Nghệ sĩ ưu tú ngành sân khấu, Nguyễn Kim Hùng - tác giả viết kịch tuồng, Lê Cường - nhạc sĩ, hy sinh năm 1971, Hoàng Tạo - nhạc sĩ, Nguyễn Thị Thanh Trì, Phan Hữu Ích - nghệ sĩ ưu tú ngành thanh nhạc, Phó Giáo sư Tiến sĩ - nhạc sĩ Thế Bảo, nhạc sĩ Đoàn Văn Kiện, ca sĩ Hồng Vân... và nhiều nghệ sĩ khác.

Về điện ảnh, người Quảng Ngãi hoạt động ở miền Bắc, đóng nhiều phim truyện nổi tiếng về cuộc chiến tranh chống Mỹ là nghệ sĩ điện ảnh Trà Giang - con gái của nghệ sĩ Khánh Cao. Bà là một trong số ít gương mặt tiêu biểu nhất của nền điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX. Trà Giang sinh năm 1942, quê cha ở thành phố Quảng Ngãi, đã đóng nhiều phim truyện nổi tiếng như: Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Chị Tư Hậu, Thủ lĩnh áo nâu, Ngày lễ thánh, Huyền thoại người mẹ..., là diễn viên điện ảnh đầu tiên của Việt Nam được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Cho đến nay, Trà Giang vẫn là người giành được nhiều giải thưởng nhất về điện ảnh. Bà là nữ diễn viên điện ảnh đầu tiên của Việt Nam nhận được giải diễn viên xuất sắc ở Liên hoan phim quốc tế. Bà hiện đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn đang hoạt động điện ảnh (chủ yếu là giảng dạy), và vẽ tranh.

2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thực sự mở ra một chân trời mới cho ngành nghệ thuật tạo hình.

Người đầu tiên ở Quảng Ngãi được đào tạo về hội họa có hệ thống đó là họa sĩ Lê Khắc Hoành (14) (quê Tịnh Bắc, huyện Sơn Tịnh), trước là học trò xuất sắc của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Khi Liên đoàn Văn hóa cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi được thành lập, hoạt động đầu tiên của Liên đoàn là tổ chức một cuộc triển lãm tại Bunggalô (gần Cống Kiểu) mang tên Quảng Ngãi đứng lên giành chính quyền. Ngoài những tranh cổ động của họa sĩ Lê Khắc Hoành, trong cuộc triển lãm này còn có nhiều tranh của các họa sĩ nghiệp dư khác, cùng với các hiện vật liên quan đến cuộc kháng chiến (15).

Vào xuân 1947, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc phối hợp với Phòng Văn nghệ Ủy ban kháng chiến miền Nam tổ chức triển lãm tranh của họa sĩ Hoàng Kiệt tại thị xã Quảng Ngãi bấy giờ. Đây là cuộc triển lãm mỹ thuật cá nhân đầu tiên của miền Nam Trung Bộ. Cuộc triển lãm đã trưng bày gần một trăm tác phẩm bằng các chất liệu thuốc nước, lụa về đề tài các dân tộc ít người ở cả hai miền Nam - Bắc. Cũng vào thời gian này, tại trung tâm thành phố Quảng Ngãi còn trưng bày một bức tượng lớn có tên gọi Thành đồng Tổ quốc của Song Văn nhằm kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã duyệt binh dưới tượng đài này (16).

Năm 1948, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung từ chiến trường cực Nam ra mở tại Quảng Ngãi lớp đào tạo họa sĩ trong 2 năm, có sự tham gia giảng dạy của họa sĩ Sĩ Ngọc và họa sĩ Văn Giáo. Nhiều người từ lớp này đã trở thành họa sĩ, như Đường Ngọc Cảnh, Nguyễn Thế Vinh, Hồ Quảng, Trương Qua, Vũ Trung Lương, Phạm Hổ (người Bình Định, sau này chuyển sang làm văn học), và có những tác phẩm có giá trị. Nhân có các họa sĩ tham gia giảng dạy lớp mỹ thuật, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc phối hợp với Ty Thông tin tuyên truyền, Phòng tuyên truyền của Ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ tổ chức triển lãm tranh của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Văn Giáo, Đào Thế. Cuộc triển lãm đã thu hút đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh đến xem.

Sau năm 1954, những họa sĩ được đào tạo trong tỉnh theo học lớp hội họa do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung mở đều đi tập kết, một số trở thành những tên tuổi nổi tiếng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trong quãng thời gian từ 1954 - 1964, gần như trên chiến khu chưa có họa sĩ nào được đào tạo bài bản, phải đến sau năm 1965 trở đi mới có các họa sĩ được tăng cường từ ngoài Bắc vào như Phạm Mùi, Hồ Thu, Phạm Văn Dân... tham gia sáng tác tranh tượng cổ động nhân dân đứng lên chống Mỹ, vẽ tranh, minh họa trên các tạp chí xuất bản ở khu căn cứ của Tỉnh và Khu. Một số họa sĩ người Quảng Ngãi được đào tạo tại miền Bắc có nhiều tranh tượng khá nổi tiếng, như Lương Lu, Đinh Rú, Nguyễn Thị Phi... Lớp họa sĩ này thường sử dụng các chất liệu ximăng, gỗ (cho điêu khắc), bột màu, màu nước, ký họa, sơn mài (cho hội họa)...

Trong lĩnh vực nhiếp ảnh, thời kỳ này trên chiến khu và các vùng giải phóng ở Quảng Ngãi cũng có các nhà nhiếp ảnh chuyên chụp ảnh tại chiến trường, như Vũ Doanh Dzụ, Phan Tấn Bạch... và đặc biệt là nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Văn Giá với nhiều bức ảnh về đất và người Đức Phổ. Ở miền Bắc thì có Nguyễn Hy,…

Tại vùng địch tạm chiếm, phong trào sáng tác tranh cũng có một số điểm đáng chú ý. Năm 1965, họa sĩ Nghiêu Đề (Nguyễn Tiếp) nổi tiếng với tác phẩm Ngọn tóc trăm năm. Ông cũng là người đoạt Huy chương Vàng toàn miền Nam với tác phẩm Chân dung (1961) và từng có các tác phẩm triển lãm chung với nhiều họa sĩ tên tuổi ở miền Nam Việt Nam. Từ năm 1970 đến ngày giải phóng, có rất nhiều triển lãm cá nhân, triển lãm chung của nhiều họa sĩ chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư trong tỉnh, tiêu biểu là các cuộc triển lãm của họa sĩ Phạm Cung, Cao Bá Minh (17)... Đề tài của những tác phẩm triển lãm thời bấy giờ chủ yếu là tranh tĩnh vật, chuyện hoang tưởng, hay ẩn dụ bằng chất liệu sơn dầu.

Thời kỳ 1975 - 2005, các loại hình nghệ thuật tạo hình, hội họa, điêu khắc và nhiếp ảnh tiếp tục phát triển. Các tác giả từ trên chiến khu xuống, từ miền Bắc về, cùng các tác giả tại chỗ có những đóng góp vào phong trào hoạt động nghệ thuật ở Quảng Ngãi. Nhiều học sinh là người Quảng Ngãi đã thi đỗ vào các trường mỹ thuật, nhất là Trường Cao đẳng Nghệ thuật Huế, được học tập và bồi dưỡng ở Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nghĩa Bình. Tiêu biểu cho số trưởng thành sau năm 1975 tại Quảng Ngãi có: Bùi Nam, Nguyễn Tài Đạt, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Văn Quý... Ngoài ra, tại một số địa phương khác, cũng có nhiều họa sĩ là người Quảng Ngãi. Về nhiếp ảnh, ở Quảng Ngãi có Nguyễn Ngọc Trinh, Nguyễn Đăng Lâm, Nguyễn Văn Xuân...; là người Quảng Ngãi hoạt động nơi khác tiêu biểu có Lê Hồng Linh, quê Bình Sơn, với hàng chục tác phẩm nhiếp ảnh được các giải thưởng quốc tế có uy tín chuyên ngành nhiếp ảnh.

Một số họa sĩ tiêu biểu (là người Quảng Ngãi) trong 60 năm qua:

Đường Ngọc Cảnh (sinh 1925), quê thành phố Quảng Ngãi, chuyên ngành đồ họa; ông là một trong những họa sĩ hàng đầu của Việt Nam làm rạng rỡ và khai thông chất liệu in khắc ở Việt Nam. Đề tài thể hiện thường là hoa quả, những đồ vật thường dùng hàng ngày. Bố cục tranh phá cách, chủ yếu là tranh vuông, in khắc bằng thạch cao. Tiêu biểu có các bộ tranh Hoa quả hè thu (1993), Nhóm tranh khắc (1994). Tác phẩm của ông được lưu tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và các bảo tàng thế giới. Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1.

Nguyễn Thế Vinh (sinh 1926), người Đức Phổ, có các tác phẩm tiêu biểu: Lớp bổ túc văn hóa ở Tây Nguyên, Làm gạo, Qua vùng biển, Quanh cứ điểm Mỹ (hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam). Ông chuyên về sơn mài, trung thành với nghệ thuật truyền thống, hình ảnh thường sử dụng là con người Khu V và Tây Nguyên.

Nguyễn Trân (sinh 1929), bút danh Hà Châu, quê Mộ Đức, tốt nghiệp Học viện Mỹ thuật Rêpin (Liên Xô, 1964), chuyên nghiên cứu về mỹ thuật, được nhận giải thưởng toàn quốc về các nhóm công trình nghiên cứu mỹ thuật trên các tạp chí và sách nghệ thuật đồ họa.

Ngoài ra, còn một số tác giả khác cũng được đánh giá cao, như: Hồ Thu (sinh 1940), họa sĩ điêu khắc, quê Mộ Đức, tác phẩm tiêu biểu có Mùa rẫy, Mẹ (gỗ)...; Lương Lu (sinh 1940), quê Tư Nghĩa, hiện sống ở Bình Định, chuyên vẽ bột màu; Phạm Mùi (sinh 1945), quê Mộ Đức, có nhiều ký họa trong thời chống Mỹ ở Khu V (và cả làm thơ, viết kịch bản phim); Nguyễn Thị Phi (sinh 1946), quê Đức Phổ, với nhiều tranh vẽ bột màu, lụa, khắc gỗ; Lê Hồng Khánh (sinh 1933), Nguyễn Hy (sinh 1933), có nhiều tác phẩm nhiếp ảnh được giải thưởng toàn quốc... Nguyễn Ngọc Trinh (sinh 1942), với nhiều tác phẩm ảnh phong cảnh…


(1) Xem Văn hóa dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi, Đề tài khoa học cấp tỉnh, 2001, biên soạn: Nguyễn Đăng Vũ.
(2)  Xem Văn hóa dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi, sđd, tr. 124.
(3)  Theo Thế Truyền: Vài nét về âm nhạc dân gian của người Hrê và việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Cẩm Thành số 25, 11.2000, tr. 69.
(4)  Xem Đinh Long Ta: Múa cà đáu trong Lễ hội của người Cor ở Quảng Ngãi, Tạp chí Cẩm Thành, số 15, 5.1998, tr. 61.
(5)  Theo Lê Đình Phụng: Phong cách Chánh Lộ và những di tích Văn hóa Chămpa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 9, 2003, tr. 44.
(6)  Xem thêm Chương XXI: Ăn - Mặc - Ở.
(7)  Theo Lâm Tô Lộc: Hoạt động âm nhạc ở Quảng Ngãi thời kháng chiến chống Pháp, Tạp chí Cẩm Thành, số 28, 2001.
(8)  Theo Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005, tr. 573.
(9)  Theo Hoàng Nghĩa: Thị trấn Sông Vệ - "Thủ đô kháng chiến Khu V", Tạp chí Cẩm Thành, số 40, 2004.
(10)  Theo Lâm Tô Lộc, sđd, tr. 15, 16.
(11)  Theo Hồng Nhân: 50 năm ngành Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ngãi, 1995, tr. 41; và Phạm Trung Việt: Non nước xứ Quảng tân biên, sđd, tr. 182.
(12)  Theo Thế Kỷ: Bản sắc văn hóa dân tộc trên sân khấu ca kịch bài chòi, Văn nghệ Quảng Ngãi, số tháng 8 + 9.1998.
(13)  Theo Hoài Hà: Cuộc hội ngộ sau 35 năm, Tạp chí Cẩm Thành, số 28, 8.2001.
(14)  Hoạ sĩ Lê Khắc Hoành mất năm 1946.
(15)  Theo Trương Quang Lộc: Văn nghệ Quảng Ngãi thời kỳ 1945-1954, giai đoạn Văn hóa cứu quốc, Tập san Văn hóa & đời sống, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ngãi, tháng 6.1993.
(16)  Theo Nguyễn Viết Lãm: Miền Nam Trung Bộ, đất thơ trong kháng chiến chống Pháp, trong sách Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, sđd, tr. 1034.
(17)  Theo Phạm Trung Việt: Non nước xứ Quảng tân biên, sđđ, tr. 184.