|
Căn cứ vào thực tế văn học dân gian ở Quảng Ngãi, mục này của sách xin
tách văn học dân gian của từng dân tộc sinh sống trên địa bàn để khảo
xét riêng. Trong mỗi dân tộc sẽ được phân ra hai phần chính: phần giới
thiệu về truyện kể dân gian và phần giới thiệu về các loại hình văn vần.
Ở đây, những người biên soạn có chú trọng đến tên gọi vốn có, sát với
thể loại, mà không áp đặt những tên gọi khác. Xin lưu ý thêm rằng ngay
cả các tên gọi thể loại này phần nào cũng do các nhà nghiên cứu đặt và
trở nên quen thuộc.
1.1. TRUYỆN
KỂ
Bên cạnh những truyện kể rất phổ biến với mọi người Việt Nam ở khắp đất
nước, như Thánh Gióng, Mỵ Châu - Trọng Thủy, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Chử
Đồng Tử - Tiên Dung, Thạch Sanh, Tấm Cám..., người Việt ở Quảng Ngãi
cũng có những sáng tác dân gian, gắn liền với vùng đất mà họ đã từng gắn
bó trong suốt nhiều thế kỷ.
Nhìn dưới góc độ đề tài, truyện kể dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi
phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau: về các hiện tượng tự nhiên, về lịch
sử vùng đất, về những di tích - thắng cảnh, về các nhân vật lịch sử và
cả về những con người bình dị... trên quê hương núi Ấn - sông Trà.
Về cách giải thích hiện tượng tự nhiên, người Việt ở Quảng Ngãi lưu
truyền nhiều truyện kể dân gian liên quan đến nhiều ngọn núi, nhiều con
sông, như chuyện ông Khổng Lồ gánh đất lấp biển làm đổ hai đầu đất, một
đầu thành núi Ấn, một đầu thành núi Bút; chuyện về những dấu chân khổng
lồ ở Sa Kỳ, ở Gò Yàng, chuyện về các dấu chân thiêng của Cao Biền,
chuyện về Hòn Son, Hòn Chữ ở Sa Huỳnh...
Gắn liền với các di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh có các
chuyện về Cao Biền yểm núi Long Đầu và sự tích vua Nam Chiếu bên bờ sông
Trà, chuyện về chuông Thần, giếng Phật trên chùa Thiên Ấn, chuyện về
giếng Vua ở làng Thanh Thủy (Bình Sơn), chuyện về giếng Ông Miềng ở đảo
Lý Sơn; chuyện về Ông Rau ở núi Long Phụng, chuyện về 4 ông tu tiên ở
chùa Hang Lý Sơn, chuyện về hòn Ông, hòn Bà ở vùng cửa biển Sa Cần,
chuyện về Kha Hổ mà nay còn miếu thờ Thần Hổ ở Trà Bồng.
Gắn liền với các nhân vật lịch sử, những tấm gương tiết liệt, những nhân
cách cao đẹp của kẻ sĩ, anh hùng, có các chuyện, như chuyện về Bùi Tá
Hán hiển Thánh mà nay vẫn còn truyền tụng hai câu thơ "Nhân
mã bất tri hà xứ khứ/ Huyết y trường dữ thử
bi lưu",
chuyện về Nguyễn Tấn tiếp các già làng người dân tộc ở Đá Vách, chuyện
về đánh giặc Tàu Ô của ông Nguyễn Văn Tuất, chuyện về Bà Roi tuẫn tiết
(Lý Sơn) và nhiều giai thoại về các chí sĩ
yêu nước Lê Trung Đình, Lê Đình Cẩn,
Nguyễn Thụy, Nguyễn Bá Loan, về ông Giải nguyên Thuận Phước, về
Cử nhân Phạm Hoành, về chàng nho sĩ họ Phạm ở làng Chánh Lộ...
Gắn liền với hình ảnh người bình dân, có rất nhiều chuyện kể khác nhau,
thường là những truyện cười, những giai thoại có chủ đề chính là phê
phán các thói hư tật xấu, ca ngợi người tài trí, đức độ, dũng cảm, như:
chuyện thằng Bòi đi thi, chuyện hò hay lấy được vợ, chuyện mặt rỗ đối
giỏi cũng được vào cung, chuyện chàng hợm bị một vố đau…(1).
Nội dung chính của kho tàng truyện kể người Việt ở Quảng Ngãi thường thể
hiện cái nhìn suy nguyên về các sự vật, hiện tượng, thể hiện niềm tự hào
đối với quê hương xứ sở qua việc thiêng hóa vùng đất, thiêng hóa con
người, qua đó cũng bộc lộ tâm hồn và tính nết con người Quảng Ngãi trong
việc ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong các
truyện kể nêu trên có một số câu chuyện mang môtíp quen thuộc trong
truyện kể dân gian của nhiều vùng trong nước. Tuy nhiên, những câu
chuyện có môtíp phổ biến ấy cũng đã có nhiều đổi khác, đã có những sắc
thái riêng của vùng đất và con người Quảng Ngãi. Đó là một sự tái tạo
theo nhãn quan riêng của người dân ở vùng đất này trong quá trình sinh
sống ở một môi trường mới, mà ở đó điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử
- xã hội đã có ít nhiều khác biệt so với vùng quê gốc, có sự giao lưu
với Văn hóa Chămpa cổ, với văn hóa của người Hoa và với văn hóa của các
dân tộc thiểu số miền núi.
Cùng với truyện kể dân gian, trong cộng đồng cư dân Việt ở Quảng Ngãi
còn có một khối lượng lớn ca dao, hát hò, hát hố, tục ngữ, vè, câu đố...
thể hiện dưới hình thức văn vần. Ngoài những câu, những bài mang tính
phổ thông của toàn quốc, của vùng, miền, người Việt ở Quảng Ngãi còn có
những câu, những bài mang nét riêng của vùng đất. Có thể tạm
chia văn vần dân gian của người Việt ở
Quảng Ngãi làm hai mảng đề tài chính: mảng đề tài phản ánh ứng xử với
môi trường tự nhiên và mảng đề tài phản ánh ứng xử với môi trường xã
hội.
Trong quan hệ ứng xử đối với môi trường tự nhiên, người Việt ở Quảng
Ngãi có những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác bằng
những câu ca, những câu nói có vần (trong đó chủ yếu là tục ngữ, vè), mà
trong đó chứa đựng những kinh nghiệm về lịch thời tiết, lịch con nước,
lịch đánh bắt cá, cách chế biến thức ăn từ ruộng đồng, sông biển, ao hồ;
về nhật trình đi biển, lịch làm ruộng; những cảm quan về đất đai sông
núi miền đất Ấn - Trà... Ví dụ như, khi nói về lịch thời tiết, văn vần
dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi có những câu như:
Đời ông cho chí đời cha/Mây phủ
Sơn Trà
(2) không gió thì mưa, hoặc Chiều
chiều mây phủ Sơn Trà/ Sóng xô cửa Đại trời đà chuyển mưa; hay
Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng gió giật...; khi nói về kinh
nghiệm đi biển có những câu, như:
Tháng Giêng động dài, tháng Hai động tố/ Tháng Ba nồm rộ, tháng Bốn nam
non/ Trông lên tới đỉnh Hòn Son/ Son còn đỏ rực anh còn ra khơi,
hay: Thuyền ngược ta khấn gió nồm/
Thuyền xuôi ta khấn mưa nguồn gió may...; khi để nhớ về các loài
chim, người Việt ở Quảng Ngãi có bài vè về chim; khi để nhớ tên các loại
cá, người ta có bài vè về cá; khi để nhớ đặc điểm của mỗi chặng đường
quanh ven biển từ Bắc vào Nam, ngư dân ven biển ở mảnh đất này phải
thuộc lòng bài vè Các lái, bài
Đi vô lẫn bài Đi ra, vv.;
nói về những loại đặc sản, thổ sản có những câu như:
Chim mía Xuân Phổ/Cá bống sông Trà/ Kẹo gương Thu Xà/ Mạch nha Mộ Đức,
hay: Con gái còn son không bằng tô
don Vạn Tượng, vv. Những câu văn vần về đề tài này hết sức phong
phú, đa dạng, về nhiều khía cạnh khác nhau trong quá trình người Việt
ứng xử với môi trường tự nhiên ở vùng đất Quảng Ngãi.
Nếu như tục ngữ, vè được dùng như một thế mạnh để phản ánh quan hệ của
con người với môi trường tự nhiên thì ca dao là một thế mạnh được con
người dùng để phản ánh quan hệ ứng xử của con người với môi trường xã
hội. Ca dao thường phản ánh những vấn đề về tình yêu, hôn nhân, quan hệ
gia đình, làng xóm, quan hệ với lịch sử - xã hội... Chẳng hạn nói về
tình yêu: Trách người phơi lúa
giống thưa/ Chèo thuyền trong lộng khéo lừa duyên em, hoặc:
Trời mưa lâu cho đá nọ mọc rêu/
Đứa nào ở bạc con dế kêu thấu trời; hay:
Bao giờ núi Hó hết
tranh/
Sông Trà hết nước thời mình mới xa...
Đó là tình yêu, còn về quan hệ gia đình, cũng không hiếm những câu như:
Mẹ ơi đừng đánh con đau/ Để con
bắt ốc hái rau mẹ nhờ/ Mẹ ơi đứng đánh con khờ/ Để con thả lờ bắt cá mẹ
ăn, hoặc: Nước mắm ngon thượng
thủ/ Dằm đu đủ lờ đờ/ Em than bổn phận em khờ/ Làm dâu nhà mẹ cũng nhờ
tiếng anh. Phản ánh công cuộc chống thực dân, đế quốc, người Việt ở
mảnh đất này đã sáng tác nên những câu ca như:
Bình Đông có tiếng đánh Tây/ Có
gan đánh Mỹ phá vây mấy lần, hay:
Sông Trà Khúc ai mà tát cạn?/ Rừng Trà Bồng ai đẵn hết cây?/ Anh mà đi
lính với thằng Tây/ Em đành phải dứt cái dây nghĩa tình, vv.
Cùng với các truyện kể dân gian, những câu, những bài văn vần dân gian
của người Việt ở Quảng Ngãi có những sắc thái riêng, mang dấu ấn của
vùng đất, của con người sống trên vùng đất này. Sự tái tạo và sáng tạo
theo nhãn quan riêng đã làm cho ca dao của người Việt ở Quảng Ngãi rất
phong phú, đa dạng, trong nội dung, trong hình thức biểu đạt - một sự
biểu đạt chân chất, hồn nhiên, thẳng thắn, hơi cục mịch mà thật sâu nặng
tình cảm như chính con người Quảng Ngãi, ví dụ như:
Có thương thì thương cho chắc, cho
chặt, cho bn/ Đừng thương lỡ dở bắt đền uổng công, hoặc: Thuốc ngon chợ Huyện/ Giấy quyến Sa Huỳnh/ Nẩu xa thì mược (mặc) nẩu/
(Chứ) hai đứa mình đửng (đừng) xa...; và dù có cục mịch, thô tháp
thì cũng thật ý tứ, kín đáo: Anh
thương em, đừng cho ai biết, đừng cho ai hay, đừng cho ai biểu, ai bày/
Thâm thâm dìu dịu mỗi ngày mỗi thương/ Nước mía trong cũng thắng thành
đường/ Anh thương em thì anh biết chứ thói thường biết đâu!...
Trong sinh hoạt các làng Hrê khá phổ biến loại hình truyện kể. Truyện
kể dân gian của người Hrê ở Quảng Ngãi có nhiều thể loại: cổ tích, thần
thoại, truyền thuyết, sử thi, ngụ ngôn..., phản ánh các đề tài: về các
hiện tượng tự nhiên, như các ngọn núi, con sông, con suối, các hòn đá,
cây cỏ, thiên tai...; về các nhân vật anh hùng huyền thoại của bộ lạc,
của plây, của tộc người, hoặc của một vùng; về sự hình thành cộng đồng
cư dân và quan hệ gia đình, làng xóm; về nghề nghiệp, như trồng lúa,
dưa...; về các phong tục, tập quán, tín ngưỡng...(3).
Về các hiện tượng tự nhiên, có các truyện như truyện giải thích về xuất
xứ núi Cao Muôn, về sông Liêng, sông Tô, sông Rvá, về hang Dơi, về chàng
A Lênh và con gái nhà Trời... Về sự hình
thành cộng đồng cư dân, có
các truyện như sự tích nguồn sông Rhe - nơi khởi nguồn của người Hrê, sự
tích sông Rvá - nơi khởi khuồn của nhóm Hrê bên sông Rvá, về thanh gươm
Tà Nọ... Về nghề trồng lúa, có các truyện kể như truyện về
Vu giơ ra mà trong đó có hình
tượng người con gái Y Dật tìm ra hạt lúa, truyện Đăm Vầu với việc tìm ra
quả dưa gang... Về các loài vật, có rất nhiều truyện kể đề cập đến đề
tài này, dưới dạng ngụ ngôn, như các truyện về cọp, về con dúi, con
trút, con rùa... Và đặc biệt là truyện kể về các anh hùng huyền thoại,
là các
đăm - chàng trai thông minh, khỏe mạnh, dũng cảm và cô con gái thứ
Mười (nàng Y Dật). Trong các loại truyện kể này, thường là có phối hợp
giữa hát và kể, có câu dài câu ngắn, có khi một truyện kể được kể trong
khoảng 1 giờ, cũng có truyện kể dài đến 3 - 4 đêm. Vì thế có thể xem
những truyện kể loại này ít nhiều mang tính sử thi, hoặc vốn là sử thi
mà nay chỉ tìm thấy những mảnh vỡ, hay chỉ còn có cốt truyện là chính.
Tiêu biểu có các truyện kể về chàng Y Dật, Vu Chư, Đăm Ta Yoong, Kơ
Vông, Gơ Lóc...
Trong sinh hoạt cá nhân cũng như cộng đồng, người Hrê thường dùng nhiều
điệu hát, nếu sắp xếp theo chu kỳ vòng đời người, thì có: hát ru
(vadhô con), đồng dao (ka
ếch), hát giao duyên (ta/ca
lêu), tự tình
(ca choi/chơi), hát cúng (ta
jeo), hát khóc (ta ôi)...(4).
Đó là cách phân loại theo chức năng, mà trong đó, xét về nội dung và đề
tài phản ánh, chúng đã hàm chứa những thế ứng xử của con người với môi
trường tự nhiên và xã hội. Nếu chỉ tách phần lời để xem xét, chúng là
những tác phẩm văn học đích thực, bởi trong đó chứa đựng những giá trị
nhân văn, đạo đức, giáo dục, thẩm mỹ; ngôn từ trong sáng, tinh tế, giàu
hình ảnh. Dưới đây là trích đoạn một bài
ca choi nói về nỗi khổ của một
người Hrê:
...Tôi leo lên đỉnh đồi đeo gùi rách quai
Tôi vào rừng sâu mang lưỡi rựa không cán
Tôi đeo con bên hông không có ai nhìn
Tôi đeo con trên lưng không có ai ngó
Ôi, tới gò kia tôi đứng khóc
Tới núi kia tôi ngồi buồn...
Nga Ri Vê dịch
Ở
một bài ca choi khác, một người con gái thở than:
Đời em sinh ra như cây mọc bên đường
Như lá khô trên rừng trôi xuống sông...
Nói về cô gái đẹp, người Hrê bày tỏ bằng lời qua điệu ta lêu:
Em đẹp bằng nào
Đẹp như gầu ha tu
Như tua hoa đu đủ
Như trái chai chín đỏ
Trái gang non xanh
Đẹp như hoa ka rê
Như trăng non mới mọc
Như cây mía tím đỏ mọng
Đẹp như củ mì pa zia
Như cá niêng bé nhỏ...(5)
Nga Ri Vê dịch
3. VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI COR
Kể chuyện là một sinh hoạt phổ biến trong các làng nóc người Cor. Truyện
kể dân gian của người Cor cũng gồm các thể loại, như cổ tích, thần
thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn...; với các đề tài về các hiện tượng tự
nhiên, về những nhân vật anh hùng huyền thoại, những số phận côi cút,
nghèo khổ, về phong tục tập quán, tín ngưỡng, về những loài vật...
Trong cộng đồng người Cor còn lưu giữ nhiều truyện kể gắn
liền với những giải thích về các ngọn núi, con sông trên địa bàn cư trú
của mình, như sự tích núi Răng Cưa, sự tích Eo Chim, sự tích Hòn Vua...
Truyện kể về những con người côi cút, nghèo khổ nhưng biết chiến thắng
số phận và trở thành những con người được cộng đồng tôn vinh, như các
truyện kể về chàng câu cá (Ta
poóc), chàng Khô Nội, hai anh em mồ côi, chàng Rít, chuyện giết con quỷ 7 miệng.... Về sự hình thành cộng
đồng cư dân và những mối quan hệ láng giềng, có các truyện kể về người
đàn bà và con chó, truyền thuyết về đảo Lý Sơn, sự tích người Cor và
người Kinh, chuyện về điện Trường Bà... Truyện kể dân gian Cor còn có
khá nhiều những câu chuyện về loài vật mà trong đó hàm chứa những chủ đề
khác nhau: có chuyện giải thích nguồn gốc xuất hiện của các loài vật,
như các chuyện giải thích vì sao mắt lươn thì híp và mắt cá gáy thì đỏ,
sự tích chim chèo bẻo; có chuyện mượn loài vật để nói những quan hệ
nhiều chiều trong đời sống xã hội, như các chuyện kể về ốc và cọp, cối
và cọp, chuyện kể về diều hâu, chim chích, con thỏ, con rùa... Để giải
thích các phong tục tập quán, các loại hình văn hóa tín ngưỡng có các
truyện kể, như sự tích ăn trâu, sự tích cây nêu, sự tích nhà sàn, truyện
kể về thần Lúa, truyện kể về hai vị thần Oplik và Oplok dạy cho con
người biết ca hát... Cũng như người Hrê, trong truyện kể dân gian của
người Cor, hình ảnh người anh hùng của bộ lạc, của làng, của vùng, của
cả tộc người hiện rõ trong nhiều câu truyện, như các truyện kể về Eo
Chim, về Taman Xơri, về Hòn Vua, về nàng Y Dật...(6).
Người Cor ở Quảng Ngãi hiện vẫn sử dụng các làn điệu dân ca truyền thống
của họ, đó là các điệu xà ru - xà
lía (tự sự, ứng khẩu), a giới
(đối đáp), a lat (hát mừng), ca lu, ca
rua (hát cúng)... Xét dưới
góc độ diễn xướng dân gian thì đó là những làn điệu có giá trị về nghệ
thuật âm nhạc. Mặt khác, cũng như các làn điệu dân ca của người Hrê,
người Ca Dong, xét dưới góc độ phần lời của bài hát thì đó là những tác
phẩm văn học có giá trị. Nội dung chính của các làn điệu dân ca Cor chủ
yếu cũng để phô diễn tâm tình, trước thiên nhiên, thần linh, con người
và những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Tùy theo mỗi thể loại
mà nội dung các bài dân ca khác nhau.
Dưới đây là vài đoạn trích phần lời một vài bài
xà ru:
Anh từ đâu ra?
Tôi từ buồng cau ra
Em từ đâu ra?
Em từ cây chuối non, từ hoa huệ
...
Em như bông hoa rừng
Anh như là cây lau
Ta lấy nhau đẹp đôi vợ chồng
(7).
4. VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CA DONG
Trong truyện kể dân gian phổ biến ở các làng người Ca Dong có nhiều thể
loại cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn... hướng về các đề
tài: giải thích các sự vật hiện tượng
có trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, về các nhân vật anh hùng huyền
thoại, về phong tục tập quán, tín ngưỡng, những người nghèo khổ, bất
hạnh, sự hình thành cộng đồng cư dân... tương tự như truyện kể của người
Hrê và truyện kể của người Cor đã giới thiệu sơ lược ở trước.
Để giải thích các hiện tượng tự nhiên, người Ca Dong có các câu chuyện
về người Khổng Lồ, về cây thần Brin, về Oong Grăng Téc Pia, hay sự tích
cây cau, cây đùng đình và dòng sông Rinh... Để giải thích nguyên nhân vì
sao con người lại trồng được lúa có câu chuyện về sự tích cây lúa và dây
bầu, nàng Y Dật và hạt lúa... Để nói về sự hình thành cộng đồng cư dân,
về mối quan hệ giữa các nhóm tộc người có các câu chuyện về sự tích vùng
Huy Măng, sự tích người Ca Dong với tục cúng con trút, Kon Tung... Về
đời sống lứa đôi và những khát vọng vươn tới cái đẹp có các chuyện kể về
chuyện tình nàng Y Dật, về chàng Grăng Hoa, chàng Yang Ing... Để giải
thích các loại hình các phong tục tập quán, tín ngưỡng còn đang tồn tại
trong cộng đồng Ca Dong có các chuyện kể về chim hang, về con trút, và
rải rác trong nhiều câu chuyện khác, như chuyện Yang Ing, Kiếc Roi Năm,
Oong Grăng Téc Pia... Về tình cảm anh em, nghĩa vợ chồng, tình cha mẹ có
các câu chuyện về hai anh em Mua và Gao, về chàng Sóc, về chàng Grăng đi
tìm người đẹp, sự tích con ve sầu... Và nổi lên trong các truyện kể này,
là hình ảnh các chàng Grăng tài ba, các
đăm thông minh, mưu trí, dũng
cảm, và nàng Y Dật xinh đẹp, dịu dàng, chăm chỉ. Tiêu biểu cho loại
truyện có đề tài này là các truyện kể về chàng Grăng đi tìm người đẹp,
Oong Grăng Hoa, chuyện tình Y Dật, Kiếc Roi Năm... Ngoài ra, cũng như
truyện kể dân gian của người Hrê, người Cor, trong kho tàng truyện kể
dân gian của người Ca Dong ở Quảng Ngãi còn rất nhiều câu chuyện liên
quan đến loài vật, dưới hình thức là truyện ngụ ngôn, như chuyện ốc và
cọp, chuyện rùa và cọp, chuyện chó và mang, cọp, cheo và nai...(8).
Cũng như các dân tộc khác, trong sinh hoạt đời sống, người Ca Dong
thường sử dụng các làn điệu dân ca để bày tỏ tình cảm của mình trước
thiên nhiên, trước các đấng thần linh mà họ ngưỡng vọng, trước sự đổi
thay của quê hương, đất nước, làng xóm, trước những biến động của lịch
sử, hoặc để để tỏ tình, để ru con ngủ... Người Ca Dong có các làn điệu
dân ca: Ta lêu (giao duyên), ra nghế (đối đáp), a hội (tự tình), plét
(tùy hứng)...
Dưới đây xin trích một vài lời hát của các làn điệu dân ca này:
Thương nhau đi năm cái rẫy cũng gần
Không thương nhau thì nhà trên nhà dưới cũng xa
(Ta lêu)
Anh em ơi ta cùng nhau đi bắt cá
Mắt ta tinh tường mũi lao ta phóng xuống nước
Cá gáy trốn đâu thoát, cá niêng chạy đường nào
Mũi lao ta có mắt, cánh tay ta rắn chắc…
(Plét) (9)
*
*
*
Nhìn chung, các dân tộc trong tỉnh Quảng Ngãi có một di sản văn học dân
gian rất phong phú, đa dạng và đặc sắc, chứa đựng nhiều giá trị về nội
dung lẫn nghệ thuật, vừa có những điểm tương đồng, nhưng lại vừa có
những điểm khác biệt so với các tộc người khác,
hoặc cùng trong một tộc người nhưng ở
những vùng miền khác. Văn học dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi có
nhiều điểm tương đồng với văn học dân gian của người Việt ở các vùng
miền khác nhau, đặc biệt là với văn học dân gian vùng Nam Trung Bộ; văn
học dân gian các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong vừa có nhiều điểm tương đồng
với nhau lại vừa có những điểm tương đồng với văn học dân gian của các
cư dân vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, đặc biệt là các truyện kể dân gian
(như môtíp người con gái thứ Mười là nàng Y Dật, về các đăm, các
grăng...). Những tương đồng ấy có căn nguyên từ đặc điểm về nguồn gốc cư
dân, về lịch sử xã hội, về môi trường tự nhiên, hệ sinh thái. Sự khác
nhau trong các truyện kể, trong những bài ca dao, dân ca, chủ yếu là ở
những chi tiết, cách diễn giải, những yếu tố vùng, miền.
II. VĂN HỌC THÀNH VĂN
Văn học thành văn hay văn học viết là một khái niệm để chỉ các hiện
tượng văn học khác với văn học dân gian. Nếu văn học dân gian là văn học
truyền miệng thì văn học thành văn lưu truyền bằng chữ viết. Nếu tác giả
của văn học dân gian là quần chúng, thì tác giả của văn học thành văn là
một cá nhân xác thực, cụ thể. Còn rất nhiều điểm khác nữa để khu biệt
văn học thành văn với văn học dân gian.
Văn học thành văn ở Quảng Ngãi chắc chắn xuất hiện muộn hơn nhiều không
chỉ so với văn học dân gian, mà còn so với lịch sử khai phá vùng đất.
Mãi đến giữa thế kỷ XVIII, tức gần 280 năm sau khi thừa tuyên Quảng Nam được thành lập, người ta mới
thấy ở Quảng Ngãi xuất hiện những bài thơ đầu tiên của Nguyễn Cư Trinh
vịnh mười cảnh đẹp ở Quảng Ngãi. Nhưng Nguyễn Cư Trinh không phải là
người Quảng Ngãi. Năm mươi năm sau, vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỷ XIX, mới thấy các bài thơ của một tác giả người Quảng Ngãi là
Nguyễn Hữu Thể (thân phụ Phó bảng Nguyễn Bá Nghi), người làng Lạc Phố,
huyện Mộ Đức, với một số sáng tác.
Sự xuất hiện muộn của văn học thành văn có thể do cư dân Quảng Ngãi phải
tập trung khai phá, lập làng trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và
do hoàn cảnh lịch sử có nhiều cuộc chiến tranh liên miên (giữa Lê - Mạc,
Trịnh - Nguyễn, Nguyễn - Tây Sơn, Tây Sơn - Nguyễn), do việc phát triển
giáo dục còn nhiều hạn chế… Cũng có thể có những tác giả, tác phẩm nào
đó chưa được phát hiện ra. Từ thế kỷ XIX, tức từ đầu thời kỳ nhà Nguyễn
trở về sau, văn học thành văn ở Quảng Ngãi có bước phát triển đều đặn
với nhiều tác phẩm của các tác giả Quảng Ngãi. Đây là những đóng góp
đáng ghi nhận vào văn học sử Việt Nam.
Sau đây là khảo
lược văn học thành văn ở Quảng Ngãi theo tiến trình lịch sử qua các thời
kỳ.
1. VĂN HỌC TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ
TRƯỚC
Như trên đã nói, văn học thành văn ở Quảng Ngãi chỉ chính thức xuất hiện
từ đầu thế kỷ XIX trở về sau, tuy nhiên cũng cần biết sơ qua về các sáng
tác trước đó, qua tác phẩm của Nguyễn Cư Trinh và Nguyễn Hữu Thể.
Nguyễn Cư Trinh
(1716 - 1767), hiệu Đạm Am, người huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên, đỗ Hương tiến, làm quan dưới thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc
Khoát. Năm 1750, ông làm Tuần vũ Quảng Ngãi. Về tác phẩm, ông để lại:
Đạm Am thi tập, 10 bài thơ họa
Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích. Trong
Phủ biên tạp lục, ông còn có
bài Tiểu dẫn thơ gửi đáp Mạc
Thiên Tích. Thời gian làm quan ở Quảng Ngãi, tương truyền ông có 10 bài
thơ vịnh cảnh đẹp xứ này (Cẩm
Thành thập cảnh), nhưng 10
bài ấy có thật của Nguyễn Cư Trinh hay của người đời sau thì còn phải
tìm hiểu thêm. Cũng thời gian làm quan ở Quảng Ngãi, ông có viết bài
Sãi vãi bằng quốc âm, dài 680
câu. Nội dung chủ yếu của Sãi vãi là đề cao đạo Nho và đả kích các khuynh hướng mê tín, không
lành mạnh. Trong bài văn biền ngẫu này, khi nói đến tộc người "Đá Vách"
ở miền Tây tỉnh Quảng Ngãi nổi lên đấu tranh đòi quyền sống, ông đứng về
phía triều đình để đánh giá họ. Tuy nhiên, Nguyễn Cư Trinh cũng bộc bạch
lòng thương cảm của mình đối với đời sống khó khăn của họ do thiên tai
và quan lại địa phương gây nên. Đọc bài "Long Hồ đại phong kỷ hoài",
thấy ông "Đau lòng cho hàng nghìn ngôi nhà ở Châu Định Viễn" của nhân
dân bị gió to cuốn trôi. Ông cũng chia sẻ với tình cảnh làm ruộng của
nông dân không đủ trưng thu cho quan lại thời bấy giờ. Nguyễn Cư Trinh
là ông quan trung quân, nhưng biết thương dân ở nơi mình cai quản.
Nguyễn Cư Trinh được coi là người có những sáng tác văn học đầu tiên về
Quảng Ngãi.
Nguyễn Hữu Thể
(1771 - 1841), người làng Lạc Phố, sống, hoạt động và sáng tác
trong thời Tây Sơn và đầu thời nhà Nguyễn. Theo ghi chép của Nguyễn Bá
Nghi mà dòng họ còn lưu giữ được, người ta biết Nguyễn Hữu Thể được thân
phụ là ông Nguyễn Hữu Đức tiến nạp cho vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từ năm
15, 16 tuổi. Sau đó, Nguyễn Hữu Thể làm bộ tướng của Trần Quang Diệu hãm
thành Quy Nhơn (1800), theo Trần Quang Diệu đi đường thượng đạo ra tới
Quỳ Hợp (Nghệ An) thì bị quân Nguyễn bắt được, may nhờ các vết thương
tấy máu mà sống sót trở về quê làm Tri thủ (Lý trưởng) làng Lạc Phố.
Nguyễn Hữu Thể rất say sưa sáng tác văn học, viết về nhiều nỗi nhọc nhằn
của người dân quê. Niềm đam mê văn học ấy ở ông được truyền cho con là
Nguyễn Bá Nghi. Qua ghi chép của Nguyễn Bá Nghi, thơ Nguyễn Hữu Thể
"sành về mặt thơ Nôm". Chẳng hạn ông viết một bài thơ Nôm kể đến nỗi khổ
của những chức vụ cấp thấp ở tổng, xã như sau:
Sai, tô, gỗ, lính, đá, đường, cầu
Việc nọ chưa rồi, việc khác câu
Dãi nắng vàng hoe đầu bản phủ
Đánh đòn đen kịt đít tri châu (10).
Hoặc khi người thợ guồng xe nước ở Long
Phụng mất, theo ý nguyện của gia đình, Nguyễn Hữu Thể đã làm bài văn tế
có đoạn như sau:
Nhớ linh xưa: vai vác bồ cào, tay cầm đòn xóc
Nhằm năm nhằm bảy, lên rừng già đốn lạt bắt dây
Tháng Giêng tháng Hai xuống đồng nội chẻ tre buộc
đốc
Gốc lên ngọn xuống, đóng một hàng ngay tựa chỉ
giăng
Lá héo chạc khô, gánh hai bó lần bằng bồ cốc.
Ngôn ngữ, ý tứ như trên khá điêu luyện, thâm sâu, khiến người ta có thể
nghĩ rằng văn học thành văn ở Quảng Ngãi có thể đã xuất hiện khá nhiều
đương thời hoặc trước đó, nhưng do thời gian, loạn lạc, chiến tranh, lại
không được in ấn nên bị thất tán, mai một. Nhưng ngoại trừ những sáng
tác như trên, người ta vẫn chưa thấy sáng tác văn học nào đáng kể, như
văn học thành văn thế kỷ XIX sẽ khảo lược
dưới đây.
1.1.
VĂN HỌC THÀNH VĂN THỜI NHÀ NGUYỄN (1802 - 1884)
Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn,
từ đầu thế kỷ XIX đến hơn nửa thế kỷ, nhà Nguyễn cai trị nước ta mà
không có nạn ngoại xâm. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam bắt đầu từ năm
1858, 1859 (khi tấn công Đà Nẵng, Gia Định) nhưng chỉ thực sự đô hộ trên
toàn cõi nước ta từ năm 1885 trở về sau. Đối với Quảng Ngãi, thì từ 1884
trở về đầu thế kỷ
XIX
có thể coi là dưới thời nhà Nguyễn tự chủ. Tiếp theo các thời đại trước, văn
tự dùng trong hành chính nhà nước cũng như trong sáng tác là chữ Hán,
trong sáng tác có thể dùng chữ Nôm. Đời sống người dân Quảng Ngãi vẫn có
nhiều khó khăn, đói kém, nhưng việc học hành thi cử đã được triều đình
phong kiến nhà Nguyễn tổ chức bài bản, quy củ hơn trước và đây cũng
chính là thời kỳ mà giáo dục Nho học ở Quảng Ngãi phát triển nở rộ nhất.
Từ cái nền học vấn ấy, văn học thành văn ở Quảng Ngãi cũng phát triển
với nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Đương nhiên, các tác giả hầu hết là
những trí thức Nho học, hoặc đỗ đạt hoặc không, hoặc làm quan, hoặc ở
ẩn, nhưng đều là những người có tri thức tương đối khá. Đề tài hướng tới
của văn học thành văn thời kỳ này khá đa diện, có thể là loại thơ ứng
đối - thù tạc, xướng họa, có thể là thơ vịnh cảnh, thơ vịnh sử, có thể
là thơ bày tỏ nỗi niềm u uẩn về tình thế đất nước, niềm thương cảm với
sự khổ cực của nhân dân, có thể là áng văn ca ngợi những phẩm cách cao
đẹp, anh hùng, có thể là thơ thể hiện cái tôi của kẻ sĩ… Các tác giả
dùng nhiều thể loại văn thơ có trong văn học cổ điển Việt Nam.
Sau đây là
các tác giả và tác phẩm tiêu biểu.
Trương Đăng Quế
(1793 - 1865),
một trong những tác giả tiêu biểu
của văn học Quảng Ngãi.
Trương Đăng Quế
(11)
đỗ Hương tiến năm
Kỷ Mão niên hiệu
Gia Long (1819). Tác phẩm của ông có:
Quảng Khê văn tập; Trương Quảng
Khê tiên sinh thi tập; Sứ trình vạn lý tập; Duyệt Giáp
Thìn khoa điện thí
văn; Nhật
Bản kiến văn tiểu lục;
phê bình cuốn Diệu
Liên thi tập.
Ông còn tham gia chủ trì hoặc biên tập các sách
Đại Nam liệt truyện tiền biên; Đại Nam thực lục tiền biên; Đại Nam thực
lục chính biên; Hoàng Nguyễn thực lục tiền biên; Hoàng Nguyễn lục hậu
chính biên (12).
Trong hoạt động văn học, Trương Đăng Quế có công lớn đối với nền khoa
học lịch sử nước nhà, khi làm Tổng tài Quốc Sử quán triều Nguyễn.
Học văn dư tập cho thấy Trương
Đăng Quế không chỉ là nhà chính trị, quân sự, kinh tế, mà ông còn là một
người có tâm hồn thơ mẫn cảm. Tập thơ thể hiện rõ tình quê hương, sự
hiếu thảo, tình huynh đệ, nghĩa bạn bè đến niềm trung quân, công tâm,
yêu dân, trọng hiền tài... Thơ ông thường xuất hiện vào dịp ông thư thả, rỗi
rãi. Ông quan niệm: "Dẹp hết các lời sáo hủ, chẳng dựa bên cửa sổ người
khác, ý đến thì thuận bút mà ghi ngay". Ông nói "ghi ngay" là ghi cái
chất chứa trong lòng. Có lẽ vì vậy mà số phận, cảnh đời của những người
con gái, phụ nữ trở nên cảm động trong thơ ông
(Khí phụ từ, Thanh lâu oán, Xuân giang khúc). Những cảnh tượng của
quê hương, đất nước cũng bước vào thơ ông với tính tả thực mặn mà (Đăng
dục Thúy Sơn, Hà Tiên, Thuyền quá Quảng Ngãi cố hương).
Nguyễn Bá Nghi (1807 - 1870),
người làng Thời Phố (sau đổi là Lạc Phố), nay thuộc xã Đức
Nhuận, huyện Mộ Đức.
Là con trai Nguyễn Hữu Thể (giới thiệu ở trước), đỗ Phó bảng
khoa Nhâm
Thìn 1832, từng làm quan ở nhiều tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ, làm quan đến chức
Tham tri, Tổng đốc, trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,
làm chủ khảo 2 khoa thi Hương tại Gia Định và Hà Nội, giám khảo 2 khoa
thi Hội ở kinh đô Huế. Nguyễn Bá Nghi có nhiều sáng tác thơ văn bằng cả
chữ Hán và chữ Nôm. Lịch sử văn học Việt Nam ghi nhận ông có
Sư Phần thi văn tập (Sư Phần
là tên tự của ông). Nguyễn Bá Nghi nổi tiếng là con người tiết tháo, có
chủ kiến, giàu óc thực tiễn. Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng sau này viết về
ông: "Nguyễn Bá Nghi chuyên việc học thực dụng, thường bác Tống Nho, có
làm sách và xin sửa đổi phép học (…) ông này học thức nhiều điều đáng
phục". Tính cách ấy cũng biểu hiện khá rõ trong thơ Nguyễn Bá Nghi, như
trong bài ca trù Bài ca sinh nhật
tuổi 60 mở đầu với lời tự bạch của một cá nhân kẻ sĩ:
Sư Phần tử sa chân
trên đất núi
Trước và sau thui thủi quá mười năm
Chữ kinh luân có sót, có lầm
Nghề văn võ cũng hay, cũng dở.
Đỗ Đăng Đệ (1814 - 1888), hiệu là Tùng Đường, người
làng Châu Sa, nay thuộc xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh. Đỗ Phó bảng khoa
Nhâm Dần 1842, làm quan dưới các triều Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức quyền
Thượng thư (1876). Thời Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông và Nguyễn Bá Nghi đều
bị cách chức do không ngăn được giặc Pháp. Thời làm Tiễu phủ sứ Sơn
phòng Quảng Ngãi (1871), ở quê ông thường giao du với danh sĩ Nam Kỳ là
Nguyễn Thông, lúc này giữ chức Bố
chánh
Quảng Nghĩa và xướng họa thơ với nhau. Ông để lại tập Tùng Đường di
thảo.
Đinh Duy Tự (1807 - 1888), hiệu là Kim Sơn,
người đời thường gọi là Nghè Kim, quê làng Trà Bình Trại, nay thuộc xã
Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh. Ông thi đỗ Tú tài, ra làm một chức quan ở Kinh
dưới thời vua Thiệu Trị, dạy con cháu hoàng tộc, thảo văn tế, giấy tờ,
chép tuồng góp vui trong cung đình, được vua Tự Đức phong tước Nghè (nên
gọi là Nghè Kim).
Năm
1856, cáo quan về quê, dạy học, làm thầy thuốc. Với sự động viên của Bố
chánh Nguyễn Thông, ông đứng ra tổ chức dân làng đắp lại được đập Ông Cá
năm 1872. Khánh thành đập với niềm vui khôn tả, Nguyễn Thông viết bài
văn ca ngợi công lao của ông và đặt tên là đập Đinh Gia qua bài Đinh
Gia yển ký (ký về con đập nhà họ Đinh); còn Đinh Duy Tự thì vẫn gọi
là đập Ông Cá và viết một bài phú về đập, thể hiện niềm vui của ông và
dân làng, mô tả sinh động về sự hình thành, quá trình hư hại và đắp lại
đập. Bên cạnh bài phú Đập Ông Cá, Nghè Kim Đinh Duy Tự còn sáng
tác rất nhiều thơ Nôm, đáng chú ý như các bài Lụt Bất quá (1878),
Chợ Thạch An, đều thể hiện những cảm xúc đằm thắm, niềm thương
cảm của ông đối với đời sống của dân. Khác với thơ văn các tác giả kể
trên, văn thơ Đinh Duy Tự ngồn ngộn chất hiện thực, hiện thực đời sống
và hiện thực tình cảm của tác giả. Thơ văn ông cũng đậm chất dân gian ở
nét trữ tình hài hước. Phần lớn các sáng tác của ông viết không lưu, chỉ
qua trí nhớ lời truyền của bà con và dân làng, nên cũng có nhiều dị bản
và thật khó xác định chính xác nguyên tác.
Phan Thanh (1836 - 1914), sau đổi là Phan Thúc Nghiễm, người làng An Nhơn, nay thuộc xã Tịnh An, huyện Sơn Tịnh. Đỗ Tú tài khoa
Tân Dậu 1861, bị mù ở nhà dạy học, là nhà giáo nổi tiếng có nhiều học
trò đỗ đạt cao và trở thành danh sĩ Quảng Ngãi như Lê Trung Đình, Tạ
Tương, Trương Quang Đản… Về văn học, Phan Thanh cũng có nhiều sáng tác
thơ Nôm nhưng bị thất truyền, trong số các sáng tác chỉ có bài vè dài
mang tên Lụt Bất quá, mô tả
rất sinh động tác hại của cơn lũ lịch sử năm Mậu
Dần
1878, vẫn còn được lưu truyền.
Bên cạnh các tác giả trên, còn có thể kể sáng tác thơ đầy tình cảm lãng mạn,
thiên về cá nhân của anh em Cử nhân Phạm Viết Duy - Tú tài Phạm Viết
Cang ở Chánh Lộ (nay thuộc thành phố Quảng Ngãi) qua các bài
Ký tình nhân thi, Văn tế bà Sáu Kẽm;
sáng tác thơ của Học Soạn ở Phú Nhiêu (nay thuộc xã Nghĩa
Trung, huyện Tư Nghĩa) với bài Tiều phu thán
thể hiện tâm tưởng lánh xa chốn danh lợi hồng trần…
Ngoài các
tác giả người Quảng Ngãi kể trên, có hai nhà thơ nổi tiếng Việt Nam có
nhiều nợ duyên với đất và người Quảng Ngãi và để lại dấu ấn sâu đậm
trong văn chương
là Cao Bá Quát và Nguyễn Thông.
Cao Bá Quát (1808 - 1855),
hiệu Chu Thần, người Bắc Ninh, đỗ Cử nhân, làm quan nhỏ ở
Bộ Lễ. Ông là một trí thức lỗi lạc, có khí phách hào
hùng, tư tưởng ngang tàng, bất khuất, có tình thương dân, nỗi lo đời,
nhưng luôn bị vùi dập. Về tác phẩm, ông để lại một số ca trù, thơ, phú,
câu đối chữ Nôm và các tập thơ:
Chu Thần thi tập, Cúc Đường
thi loại, Mẫn Hiên thi tập,
Mẫn Hiên thi loại. Ông có bài thơ nôm nổi tiếng:
Tài tử đa cùng phú. Ông còn là
người có tuyên ngôn về thơ, có tài bình văn. Với Quảng Ngãi, ông có hai
bài thơ nổi tiếng về sông Trà:
Trà giang dạ bạc
và
Trà giang thu nguyệt ca. Trong
thời gian ở Hàn lâm viện, ông thường đi công cán miền Trung. Nhân bạn
ông là Bảo Xuyên đi quân thứ An Giang, lúc ghé qua Quảng Ngãi, dừng chân
bên mạn thuyền sông Trà Khúc, ông viết bài
Trà giang thu nguyệt ca. Tiễn bạn mà vịnh trăng, nên tình quyến
luyến, giàu tiết điệu lòng người: Trăng như người, trăng "như kính",
người "tung hoành", trăng "luyến luyến bất nhẫn tử", người "cùng
đồ". Nhưng rực rỡ hơn cả là "bóng người dọc ngang", "chống gươm đi thì
đi thẳng". Tầm địch khái hiện lên trong hình tượng thơ.
Trà giang thu nguyệt ca là một
trong những bài thơ hay nhất trong sự nghiệp sáng tác, với đầy nét bi
tráng, rộng mở trong hồn thơ Cao Bá Quát.
Nguyễn Thông (1827 - 1884), tên chữ Hy Phần,
hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am. Ông người Vàm Cỏ, Long An, đỗ Cử nhân
năm 23 tuổi, làm quan từ năm 1855. Năm 1869, ông làm Bố chánh tỉnh Quảng
Ngãi. Hiểu được nỗi khó khăn của người dân địa phương trong sản xuất
nông nghiệp, nên trong những năm 1869 - 1872, Nguyễn Thông chú trọng đến
việc thủy lợi và trồng cây ở Quảng Ngãi, và qua đó ông có làm một số bài
thơ khuyên người dân cần chú trọng công tác thủy lợi, trồng trọt. Các
bài thơ của ông như: Khuyến cần nông, Khuyến hưng cừ, Khuyến tài thực nói rõ điều này. Ở
Quảng Ngãi, Nguyễn Thông có giao du với Tùng Đường Đỗ Đăng Đệ, nhưng ông
lại rất giống Nguyễn Bá Nghi ở óc thực tiễn. Nguyễn Thông lưu nhiệm ở
Quảng Ngãi chỉ khoảng 3 năm, nhưng chính ở Quảng Ngãi ông gặp những thử
thách khắc nghiệt, có dịp bộc lộ phẩm cách, tài năng, tâm hồn của mình
và để lại nhiều trước tác quan trọng. Ông thể hiện óc thực tiễn, tài tổ
chức rất giỏi của mình qua việc tổ chức thủy lợi, viết bài
Nghĩa Châu thủy lợi tiểu sách tự
(bài tựa cho cuốn sách nhỏ về thủy lợi ở Quảng Ngãi),
Trần thủy lợi tài thụ nghi sớ
(Sớ trình bày việc thủy lợi và trồng cây). Vì sơ suất trong xử án,
Nguyễn Thông bị cách chức, nhưng những nhân sĩ và người dân Quảng Ngãi
đã kêu oan cho ông. Ông rất xúc động trước nghĩa cử cao đẹp đó mà viết
Tứ nhân truyện (chuyện bốn người). Ở Quảng Ngãi, ông cảm khái về một
thủ lĩnh nghĩa quân người Quảng Ngãi đã chiến đấu và hi sinh ở Nam Bộ
quê ông
khi
rơi vào tay giặc Pháp mà viết Lãnh
binh Trương Định truyện (chuyện về Lãnh binh Trương Định). Ông khảo
sát vùng bán sơn địa Trà Bình Trại, động viên cụ Tú tài Đinh Duy Tự đứng
ra tổ chức dân làng đắp li đập Ông Cá, rồi cảm xúc viết bài
Đinh Gia yển ký thật xúc động. Ông nói với Đinh Duy Tự: "Kẻ sĩ dù ở
nhà hay ra làm quan, cốt nhất là giúp ích cho đời". Các bài viết của
Nguyễn Thông về thủy lợi không đơn thuần là kỹ thuật, nó bộc lộ tâm tư,
tình cảm, tài năng và nhân cách kẻ sĩ cao đẹp, chứa chan nhân tình, với
bút pháp sắc sảo, điêu luyện, tóm lại là những tác phẩm văn học xuất
sắc, đích thực.
1.2.
VĂN HỌC THỜI KỲ CẦN VƯƠNG (TỪ NĂM 1885 ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX)
Sự biến kinh đô tháng 7.1885 như một sự vùng vẫy trong
tuyệt vọng của triều Nguyễn trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp.
Kinh đô Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải xuất bôn và hạ chiếu Cần vương.
Pháp chiếm trọn quyền ở Việt Nam, áp đặt nền đô hộ trên toàn cõi nước
ta, dựng vua Đồng Khánh lên ngôi làm bù nhìn hòng dùng bộ máy cai trị
sẵn có và hòng chiêu dụ sĩ phu, làm mất tác dụng của ngọn cờ Cần vương
chống Pháp.
Từ đây, vấn đề lịch sử đặt ra cho sĩ phu và nhân dân là
phải tập trung sức cho công cuộc chống Pháp, cứu nước, trong đó có việc
nhận thức rõ về âm mưu thâm độc của thực dân và phải hành động, phải sẵn
sàng xả thân vì nước. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, văn học cũng phải dốc
sức vào nhiệm vụ cứu nước. Thời kỳ Cần vương chống Pháp, ở Quảng Ngãi
nổi lên các chí sĩ nổi bật trong
cả
nước
như những tấm gương tiết liệt trong hành động thực tiễn,
thể hiện rõ trong những áng văn chương được viết bằng máu,
mà điển hình nhất là Lê Trung Đình và Nguyễn Duy Cung.
Lê Trung Đình (1857 - 1885), người làng Phú
Nhơn (nay là thị trấn huyện lỵ Sơn Tịnh), đỗ Cử nhân khoa Giáp Thân
1884, là thủ lĩnh của Hương binh huyện Bình Sơn. Hưởng ứng chiếu Cần
vương của vua Hàm Nghi, Lê Trung Đình dẫn Hương binh về đánh chiếm tỉnh
thành Quảng Ngãi từ tay bọn quan lại cơ hội nằm chờ. Nguyễn Thân phản
bội, chiếm lại thành, bắt Lê Trung Đình tống ngục, sau khi không dụ được
bèn đưa ông ra pháp trường. Trên đường ra pháp trường, Lê Trung Đình ứng
khẩu đọc bài thơ tuyệt mệnh, về sau người đời gọi đó là bài "Lâm hình
thời tác" (Cảm tác lúc bị hành hình) như sau:
Kim nhật lung
trung điểu
Minh triều trở
thượng ngư
Thử thân hà túc
tích
Xã tắc ái kỳ khu.
(Nay là chim trong lồng
Mai đã cá trên thớt
Thân này tiếc gì đâu
Gian nan tình đất nước!)
Bài thơ tổng cộng chỉ có 4 câu, 20 chữ,
mà như đúc nén cả một ý chí xả thân cứng như thép, một tấm lòng cao vời
vì đất nước. Đúng với các giai thoại về Lê Trung Đình và với các áng văn
thơ mà ông từng bày tỏ trước kia:
Rồi đây không Võ thì Đình
Sẽ trải mật giữa non sông, nòi giống!
Ngoài
Lâm hình thời tác là một áng
thơ bất hủ, Lê Trung Đình còn để lại nhiều bài thơ khác thể hiện tâm
chí, khí phách của ông và người đời cũng còn lưu truyền nhiều giai thoại
rất hay về ông.
Nguyễn Duy Cung (1839 - 1885), quê làng Vạn Tượng (nay thuộc xã Nghĩa Dũng, thành
phố Quảng Ngãi), là thầy học của Lê Trung Đình, đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn
1868. Năm 1885, khi có chiếu Cần vương, Nguyễn Duy Cung đang làm Án sát
Bình Định, ông cùng các sĩ phu tỉnh này dốc tâm chống Pháp, cứu nước.
Nhưng cũng như người học trò Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi, ông cũng bị bọn
phản bội bắt giam. Trước lúc hi sinh, trong ngục ông cắt ngón tay lấy
máu viết lên tấm áo dài trắng một bài văn dài tựa đề "Bình thành cáo
thị", người đời thường gọi là
Huyết lệ tâm thư (bức thư lòng viết bằng máu lệ), ném ra ngoài thành
kêu gọi sĩ phu và nhân dân tiếp tục chống Pháp. Bức chúc thư của Nguyễn
Duy Cung cũng như thơ tuyệt mệnh của Lê Trung Đình không chút vương vấn
gì đến cái chết của bản thân, mà chỉ một lòng lo cho đất nước với một
tấm lòng nhiệt huyết hừng hực.
Thà làm ma có hồn trung, vía nghĩa
Không làm người đeo mặt ngựa đầu trâu
Xin trong tay sắp sẵn qua mâu, lòng địch khái còn hăng chưa nhụt
Xin cùng nhau gọn gàng giáp trụ, chí Cần vương càng mạnh không quên.
Đương thời, bài văn gây xúc động sâu sắc trong nhân dân và sĩ phu hai
tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và có tác dụng cổ vũ lớn lao mọi người đứng
lên xả thân vì nước, cho nên người ta còn gọi đó là hịch kêu gọi chống
Pháp. Sau này, Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét: "bài Hịch của cụ Nguyễn
Duy Cung là một trận đánh, một trận đánh với tinh thần quyết tử".
Cuộc đời, hành trạng và thơ văn của Lê Trung Đình, Nguyễn Duy Cung là
những điểm sáng trong lịch sử và trong văn học Việt Nam, được các nhà
nghiên cứu đánh giá rất cao, như Phó Giáo sư Nguyễn Lộc trong giáo trình
Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Giáo
sư Phan Ngọc trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam…
Văn học thời Cần vương chống Pháp ở
Quảng Ngãi còn phải kể các gương mặt nổi bật sau đây:
Nguyễn Tự Tân (1848 - 1885),
quê làng Trung Sơn (nay thuộc xã Bình Phước, huyện
Bình Sơn), đỗ Tú tài năm Mậu Thìn 1868, là Phó quản Hương binh Bình Sơn,
phó tướng của Lê Trung Đình, hi sinh khi thành Quảng Ngãi lọt vào tay
Việt gian Nguyễn Thân. Ông có để lại một số bài thơ chữ Hán thể hiện
tình yêu đất nước cũng như chí khí của kẻ sĩ, như các bài
Trung Sơn, Tuyền Tung, Tình đất
nước…
Nguyễn Bá Loan (1857 - 1908), người làng Lạc Phố (nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện
Mộ Đức), con trai Phó bảng Nguyễn Bá Nghi, là thủ lĩnh của phong trào
Cần vương Quảng Ngãi sau khi Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân hi sinh. Ông
lãnh đạo phong trào Cần vương, đánh nhau với Việt gian Nguyễn Thân nhiều
trận cho đến năm 1888 thì lánh vào Nam Kỳ suốt hai mươi năm, sau quay về
Quảng Ngãi tham gia lãnh đạo Duy tân Hội và hi sinh trong vụ cự sưu,
khất thuế 1908. Trong thời gian là thủ lĩnh Cần vương, giữa ông và Trịnh
Tuyết Anh có mối tình đẹp như thơ đầy tình yêu thương và chí khí.
Trịnh Thị Tuyết Anh (1870 - 1887?), là con một nhà quan ở làng Quýt Lâm (nay thuộc xã
Đức Phong, huyện Mộ Đức), vốn là người yêu của Nguyễn Bá Loan, nhưng số
phận đưa đẩy làm hôn thê của Việt gian Nguyễn Thân. Khi thấy rõ bộ mặt
gian ác của Nguyễn Thân, Trịnh Thị Tuyết Anh đã cải trang nam nhi trốn
theo quân Cần vương dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bá Loan, cầm "Thanh gươm
tuyết hận" để trả tình riêng, đền nợ nước. Tương truyền bà cũng có một
số bài thơ thể hiện tình cảnh, tâm chí của mình, như bài
Đẹp má đào dưới đây:
Khoác áo nam nhi, vượt sóng trào
Hồn ôm đất nước rực trời sao!
Tuốt gươm trừ tiệt phường bạo tặc
Thỏa chí bình sanh, đẹp má đào!
Dưới đây là một đoạn trong bài thơ Nỗi ngậm ngùi của Nguyễn Bá
Loan khi ông ngắm nhìn "thanh gươm tuyết hận" do Trịnh Thị Tuyết Anh gửi
lại trước lúc nàng hi sinh và cảnh quê hương trước khi ông lánh vào Nam
Kỳ:
Ngóng về đồng nội mây che khuất
Nghe tiếng quân reo dậy cõi bồ
Thanh gươm tuyết hận rơi đầu giặc
Bóng nàng lồng lộng giữa trời mơ
(13).
Nhìn chung, văn học Quảng Ngãi thời kỳ Cần vương có nhiều điểm nổi bật
và những tác phẩm rất có giá trị. Các tác phẩm văn học Cần vương chống
Pháp thường do chính các chí sĩ Cần vương sáng tác, ở đó văn chương hòa
nhập với hành động cứu nước, với ý chí của bản thân người sáng tác, tính
chân thực trong cảm xúc rất cao.
Tuy nhiên, không phải tất cả các Nho sĩ đều đi theo Cần vương, vì lẽ này
hay lẽ khác. Trong số những người không tham gia Cần vương có Trương
Quang Đản là người có nhiều trước tác mà xét về mặt lịch sử văn học,
không thể bỏ qua.
Trương Quang Đản (1833 - 1915), hiệu Cúc Khê, quê làng Mỹ Khê Tây (nay thuộc xã
Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh), con thứ của Trương Đăng Quế. Ông đỗ Tú tài
khoa Ất Mão 1855, sau ra làm quan một thời gian dài ở các tỉnh Bắc và
Trung Kỳ, thời Đồng Khánh được Pháp đưa lên làm vua, ông giữ một chức
quan trong triều. Đến khi Thành Thái lên ngôi, Trương Quang Đản giữ chức
Phụ chính Đại thần. Năm 1900 (Thành Thái năm thứ 12), ông về hưu và mất
ở quê năm 1915. Trong thời gian ở triều đình Huế, ông từng làm Tổng tài
Quốc Sử quán, chủ biên các bộ sách lớn như
Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực
lục chính biên (đệ tứ, đệ ngũ kỷ) mà đến nay vẫn còn giá trị sử
liệu. Về trước tác, ông có tập Cúc
Khê thi tập. Các bộ sách do ông chủ biên kể trên có ý nghĩa như là
sự tiếp tục công việc của thời kỳ trước còn dở dang.
2. VĂN HỌC TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN TRƯỚC
NĂM 1930
Năm 1888, ba năm sau khi hạ chiếu Cần vương, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt và
đày đi Angiêri.
Song với tâm thức dân tộc, các sĩ phu và nhân dân Quảng Ngãi vẫn tiếp
tục công cuộc Cần vương chống Pháp cho đến những năm cuối thế kỷ XIX.
Sau thất bại của Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Thái Thú,
Trần Du, phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi chỉ còn lại những hào quang
của một thời. Đầu thế kỷ XX, các chí sĩ Quảng Ngãi cùng các nhà yêu nước
trong nước tìm kiếm phương hướng cứu nước mới theo ý thức hệ dân chủ tư
sản. Mục đích cuối cùng vẫn là khôi phục độc lập dân tộc, nhưng phương
lược có khác. Phía thực dân Pháp thì củng cố bộ máy cai trị và tăng
cường bóc lột, Âu hóa. Chế độ khoa cử Nho học và việc học chữ Hán vẫn
duy trì, nhưng đã dần phai nhạt, tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ dần dần thay
thế. Các nhà nho tham gia học tiếng Pháp, học Quốc ngữ. Khoảng năm 1906,
Duy tân Hội hình thành ở Quảng Ngãi. Năm 1908, diễn ra cuộc cự sưu, khất
thuế do Hội lãnh đạo làm rung động cả Trung Kỳ nhưng hàng loạt chiến sĩ
bị tàn sát, bị tù đày. Năm 1914, Việt Nam Quang phục Hội hình thành và
năm 1916 tổ chức cuộc khởi nghĩa bất thành, lại thêm nhiều người bị tàn
sát, tù đày. Phong trào yêu nước lại lâm vào bế tắc. Cho đến đầu thập
niên 20 thế kỷ XX, lại có những nỗ lực mới nhằm cải thiện dân
sinh do các nhà chí sĩ tổ chức khi
chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong khoảng 30 năm, nhiệm vụ
cứu nước được đặt lên hàng đầu nhưng những phương lược cứu nước mới được
tìm tòi, truyền bá vẫn chưa khai thông được bế tắc. Trên cái nền chính
trị - xã hội đó, văn học Quảng Ngãi cũng có những bước chuyển và
những thành tựu rất đáng ghi nhận.
Chủ đề chính của văn học thời kỳ này vẫn là chống Pháp, cứu nước, tuy
nhiên do yêu cầu truyền bá tư tưởng mới, nên nhiều tác phẩm văn học
thiên về tuyên truyền, truyền bá, vận động, thức tỉnh quần chúng, như
thức tỉnh về thân phận nô lệ, về việc cải biến hủ tục, vận động mọi
người giữ chí khí và đứng lên cứu nước…
Tác giả văn học thời kỳ này cũng là các nho sĩ, trí thức yêu nước, thủ
lĩnh các phong trào chống Pháp, như các Cử nhân Lê Đình Cẩn, Nguyễn
Thụy, Nguyễn Đình Quản, Tú tài Phạm Cao Chẩm, Tú tài Trần Kỳ Phong,
Trương Quang Cận…
Văn học thời kỳ này vẫn dùng chữ Hán, song chữ Quốc ngữ đã bắt đầu chiếm
lĩnh các thể loại văn học, chủ yếu là các thể thơ truyền thống theo thể
đường luật, lục bát, song thất lục bát… với các tác giả và tác phẩm sẽ
được trình bày dưới đây:
Lê Đình Cẩn (1870 - 1914), quê làng Hòa Vinh (nay là xã
Hành Phước, huyện Nghĩa Hành), đỗ Cử nhân khoa Quý Mão 1903, là Hội chủ
của phong trào Duy tân Quảng Ngãi, nhiều lần xô xát với Công sứ Pháp
Đôđê (Daudet) (14).
Lê Đình Cẩn có bài thơ song thất lục bát dài:
Xin đúc một chữ đồng kêu gọi đồng bào xóa bỏ hủ tục, đồng tâm đứng
lên cứu nước, phần cuối bài thơ có đoạn:
Đường vinh nhục ta này phải sáng
Chí tự cường cậy hẳn nhân dân
Mong sao trên dưới một lòng
Cùng nhau lấp hố bất bình từ đây!
Nguyễn Đình Quản (1878 - 1910),
quê làng Phong Niên (nay thuộc xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh), đỗ Cử
nhân khoa Đinh Dậu 1897, tham gia phong trào Duy tân, bị đày đi Côn Đảo
và chết ở đó, được Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng rất mến phục. Nguyễn Đình
Quản sáng tác nhiều thơ, trong đó có các bài đáng chú ý như Dặn dạ,
Tâm sự…
Nguyễn Thụy (1864 - 1916), người làng Hồ Tiếu (nay thuộc xã Nghĩa Hà, huyện
Tư Nghĩa), đỗ Cử nhân khoa Quý Mão 1903, tham gia Duy tân Hội, bị đày đi
Côn Đảo, trở về tham gia Việt Nam Quang phục Hội và là yếu nhân trong
cuộc khởi nghĩa 1916 ở Trung Kỳ, bị Pháp xử trảm. Ông có bài thơ Để
rồi xem nói về chí làm trai trong thời nô lệ.
Bên cạnh các tác giả trên còn có Tú tài Phạm Cao Chẩm, Nhà giáo Phạm Cao
Đàm quê làng Xuân Phổ (nay thuộc xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa), Tú tài
Trần Kỳ Phong người Châu Me (nay thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn),
các Chí sĩ Trương Quang Cận ở Trà Bình Trại (xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh), Nguyễn Công Phương làng Hòa Vinh (xã Hành Phước, huyện Nghĩa
Hành)… Họ đều có những sáng tác thơ để thể hiện tâm chí mình, động viên
đồng chí, đồng bào nuôi chí cứu nước.
Khi tư tưởng cộng sản được truyền bá đến Quảng Ngãi trong những năm cuối
thập kỷ 20 thế kỷ XX, các chí sĩ viết thơ vận động cho tư tưởng cách
mạng vô sản, thức tỉnh nhân dân về dân tộc và giai cấp, trong đó tiêu
biểu nhất là các sáng tác thơ của Tú tài Trần Kỳ Phong với các bài thơ
Xoay trời lại, Chuyện ngược đời…
3. VĂN HỌC TỪ NĂM 1930 ĐẾN
NĂM 1954
Kế tiếp văn chương yêu nước trong thời kỳ trước là bộ phận thơ ca cách
mạng. Các chiến sĩ cộng sản dùng văn thơ để tuyên truyền, vận động cách
mạng.
Tham gia sáng tác thơ văn thời kỳ này chủ yếu là những người hoạt động
cách mạng theo lý tưởng cộng sản. Xét về đội ngũ, họ đông đảo hơn so với
các nhà yêu nước tiền bối. Số lượng tác phẩm nhiều hơn. Nội dung có sự
thống nhất rộng rãi. Hình thức thể hiện còn ảnh hưởng thi pháp thơ cổ,
đồng thời cũng có người vận dụng tốt thi pháp thơ mới.
Cơ sở lịch sử của thơ văn thời kỳ này là thực tế xã hội sôi động của
phong trào hoạt động cách mạng. Ở đâu có phong trào cách mạng thì ở đó
có văn học cách mạng. Điều này đúng với Xô viết Nghệ - Tĩnh và cũng đúng
đối với Quảng Ngãi. Do vậy, xét về nội dung, tính chất và tầm vóc thì
thơ văn Quảng Ngãi đủ chiều kích đứng bên cạnh các vùng văn học cách
mạng khác.
Nội dung bao trùm trong thơ văn là tuyên truyền, vận động cách mạng theo
lý tưởng yêu nước thương nòi, kêu gọi sự đồng tâm chống thực dân, phong
kiến để giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Do yêu cầu trọng tâm
này, nên thơ văn cách mạng Quảng Ngãi mang đậm tính chính trị. Tuy mức
độ khác nhau, nhưng các nội dung chủ yếu trên đây đều có thể tìm thấy
trong sáng tác của nhiều chiến sĩ cộng sản như: Trương Quang Trọng, Phan
Thái Ất, Nguyễn Chánh, Tôn Diêm, Nguyễn Thị Du, Trương Đình Đẩu, Mai Thị
Én, Võ Xuân Hào, Trần Thị Hiệp, Phạm Xuân Hòa, Nguyễn Huỳnh, Lê Trọng
Kha, Vi Kiện, Phạm Kiệt, Trần Thị Lan, Trần Kinh Luân, Nguyễn Quang Mao,
Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Thị Nhạn, Nguyễn Công Phương, Nguyễn Hồng Sinh,
Huỳnh Tấu, Huỳnh Thanh, Bùi Phụ Thiệu, Nguyễn Thiệu, Hồ Thiết, Trần
Toại, Võ Tùng, Phạm Ngọc Trân, Phạm Thị Trinh, Huỳnh Thị Tuyết... Sau
đây là một số khuôn mặt và các tác phẩm tiêu biểu:
Trương Quang Trọng (1906 - 1931), quê ở Sơn Tịnh, tham gia thành lập tổ chức
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
ở Quảng Ngãi, hy sinh ở ngục Kon Tum. Trương Quang Trọng đã viết nhiều
câu thơ song thất lục bát hào sảng, kêu gọi mọi người đứng dậy theo
gương nước Nga Xô.
Đồng tâm, đồng chí, đồng bào
Đập đổ đế quốc lật nhào vua quan
Thực dân phong kiến tiêu tan
Xích xiềng bẻ gãy, lầm than xóa mờ
Chung tay xây dựng cơ đồ
Việt Nam độc lập, tự do đời đời...
Nguyễn Nghiêm (1904 - 1931),
người con của huyện Đức Phổ, có công đầu trong việc thành lập Đảng bộ
tỉnh Quảng Ngãi và là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên. Ông làm thơ với mục đích
góp phần hiệu triệu quần chúng nhân dân đi theo cách mạng. Ông viết từ
trước khi Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi ra đời: "Ai ơi có Đảng ra cầm lái/Tất
cả vùng lên rửa tủi hờn". Trong bài
Hãy xốc tới, ông xác định: "Hễ
còn áp bức ta còn đấu tranh". Tất cả đều thống nhất trong một lời kêu
gọi đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng.
Nguyễn Chánh (1914 - 1957),
người huyện Sơn Tịnh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi năm 1939, một trong
những người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ tháng 3.1945, cũng viết nhiều
vần thơ cổ động cách mạng, kêu gọi đồng đội, người thân cần vững bền
trong ý chí đấu tranh. Các bài thơ như:
May thay, Sức vẫy vùng, Tin ở ngày mai... cho thấy điều đó. Ngay khi
bị giam hãm trong tù, sự khao khát đấu tranh và niềm tin thắng lợi vẫn
luôn luôn đầy ắp trong cảm quan lịch sử của ông:
Trên đường gió bụi chông gai
Đạp bằng ta sẽ ngày mai đi về
...
Tình nhà nợ nước đôi bề vẹn hai
Em ơi! Tin tưởng ngày mai.
Thơ văn của các chiến sĩ cộng sản mang
sắc thái dân gian và đã có hơi hướng hiện đại. Có người còn dùng thi
pháp thơ trung đại, có người đã tiếp nhận, sáng tác theo thi pháp thơ
mới đương thời. Có một vài hình ảnh ước lệ, một số cách diễn đạt cũ, đôi
thể thơ truyền thống, nhưng đặt những bài thơ giàu ý nghĩa về lẽ sống
này trong bối cảnh cách mạng đang sôi sục hoặc các tác giả đang bị tù
đày ở nhiều nhà ngục... thì những hạn chế về nghệ thuật là điều đương
nhiên.
Điều cốt lõi là thơ ca cách mạng đã được truyền bá một cách rộng rãi,
lôi cuốn thêm những chiến sĩ cách mạng mới, đẩy mạnh thêm phong trào,
làm cho sự nghiệp cách mạng vô sản ngày càng lớn mạnh. Cái ưu trội của
thơ văn thời kỳ này là có lý tưởng rõ ràng để hướng đến, có quan điểm
giai cấp hẳn hoi, không có những nghịch lý phải chọn lựa khốc liệt như
giữa việc theo vua hay đứng về phía nhân dân như ở thời cận đại có người
gặp phải. Tất cả họ, dù đang được tự do hoạt động hoặc đang bị tù đày,
đều có sự thống nhất cao giữa con người, xã hội và nội dung thơ văn. Sự
thống nhất cao ấy khiến thơ văn họ là tấm gương soi trung thực về chính
cuộc đời hoạt động cách mạng của họ. Thơ văn của họ, vì vậy, đã góp vào
văn học cách mạng vô sản Việt Nam những viên gạch thuở ban đầu.
3.2. NHỮNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM THUỘC
PHONG TRÀO THƠ MỚI
Trong phong trào Thơ mới Việt Nam (1932 -
1942), Quảng Ngãi góp vào thi đàn ba khuôn mặt thơ, thông qua sự chọn
lựa của Hoài Thanh - Hoài Chân, nhưng số lượng tác gia viết theo thi
pháp thơ mới có nhiều hơn.
Nguyễn Vỹ (1910 - 1971),
sinh ở Tân Phong, huyện Đức Phổ, sống ở Hà Nội, Sài Gòn, làm đủ nghề,
nhiều thăng trầm. Nguyễn Vỹ viết văn, làm thơ, in bài trên
Văn học tạp chí, Hà Nội báo, Phụ nữ... từ năm 1927. Ông còn làm chủ
nhiệm, chủ bút một số tuần báo từ năm 1949 đến 1971 như:
Dân ta, Tạp chí Phổ thông, Thằng Bờm... Nguyễn Vỹ xuất hiện trong
phong trào Thơ mới với trường thơ Bạch Nga. Ông có ý thức kiếm tìm
trong thi pháp thể hiện. Tác phẩm đã xuất bản:
Tập thơ đầu (1934), Hoang vu
(1962); tiểu thuyết có Đứa con
hoang (1936), Chiếc áo cưới
màu hồng (1957), Dây bí rợ
(1957), Mồ hôi nước mắt (1963). Đối với tình yêu xứ sở, Nguyễn Vỹ có một bài
thơ nhiều người biết đó là bài
Quảng Ngãi quê hương tôi. Hai bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Vỹ,
được Hoài Thanh, Hoài Chân đánh giá cao, là bài
Sương rơi và bài
Gửi
Trương Tửu.
Tế Hanh (sinh năm 1921),
quê Bình Dương, huyện Bình Sơn, nổi tiếng trong phong trào Thơ mới
từ năm 1938 và được Hoài Thanh, Nhất Linh đánh giá cao. Giải thưởng
Tự Lực Văn Đoàn năm 1938 cho
tập thơ Nghẹn ngào đã đưa Tế
Hanh sớm định vị trên thi đàn Việt
Nam. Tế Hanh làm thơ, dịch thơ, viết
tiểu luận, nhưng ông thực sự là một nhà thơ. Đề tài trong thơ ông là
những cảnh tượng bình dị, gần gũi, thân thương, đặc biệt là sinh hoạt
miền sông - biển làng quê Bình Dương (Bình Sơn) quê hương tác giả. Thơ
Tế Hanh có hình ảnh trong sáng, ý thơ
chân, ít triết lý, cú pháp thơ thuận, nhịp điệu thơ khoan, gần với thơ
truyền thống, giọng điệu tâm tình, giãi bày, cảm hứng nhất quán một cõi
riêng, như ông nói: Tâm thức một
đời với cái đẹp sông - biển và tình người quê hương. Sau 1945, hồn
thơ ông được mở rộng thêm, đạt nhiều thành tựu mới. Trước sau, ông có 20
tập thơ với rất nhiều bài thơ hay. Tế Hanh có một số bài thơ được chọn
vào chương trình giảng dạy văn trong nhà trường như:
Quê hương, Nhớ con sông quê hương,
Vườn xưa, đều là những bài thơ đậm đà tình quê hương với nỗi lòng
hết mực thiết tha, và ý thơ, tứ thơ trong sáng, ngôn từ bình dị, nhưng
sâu lắng. Ông được nhận Giải
thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I (1996).
Bích Khê (1916 - 1946), tên thật là Lê Quang Lương, sinh ở quê ngoại huyện
Sơn Tịnh, sau về sống ở Thu Xà, huyện Tư Nghĩa. Tác phẩm của Bích Khê có
tự truyện và một vài thi phẩm. Năm 1939, tập thơ
Tinh huyết của Bích Khê ra
đời. Đương thời, Hàn Mặc Tử có những lời bình xứng đáng với giá trị đặc
sắc của thơ ông. Còn Hoài Thanh xem những câu: "Ô! Hay buồn vương cây
ngô đồng/Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông" (Tỳ
bà) thuộc hạng những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt
Nam. Do hình tượng độc đáo và thi pháp
tân kỳ, nên những bài thơ như Duy
tân, Xuân tượng trưng, Tranh lõa thể, Tỳ bà... đến nay vẫn còn sức
hấp dẫn riêng.
Bích Khê được xem là nhà thơ tượng trưng điển hình nhất trong các
nhà thơ Việt Nam. Đối với quê hương, Bích Khê
cũng có những bài thơ hay nổi tiếng như
Làng em, Trên núi Ấn nhìn sông
Trà, Về Thu Xà cảm tác.
Nguyến Viết Lãm (sinh năm 1919), quê phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng
Ngãi. Ông học Trường Quốc học Quy Nhơn, tham gia nhóm thơ Quy Nhơn với
Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan trong những năm 1936 - 1939 với bút
danh Nguyễn Hạnh Đàn, nhưng thời ấy chưa được Hoài Thanh chú ý. Trước
1945, ông in thơ, truyện, khảo cứu trên một số tờ báo và công việc này
vẫn được tiếp tục về sau. Ông đi theo Cách mạng tháng Tám và sáng tác
đều cho đến sau 1975. Ông về làm Thư ký Hội Văn nghệ Hải Phòng từ 1962
và sinh sống luôn ở đất Cảng. Nguyễn Viết Lãm in trên 10 truyện ngắn,
bút ký, dịch thuật một số thơ Pháp sang Việt ngữ, nhưng trước sau ông
vẫn là nhà thơ với 5 tập thơ được nhiều bạn đọc biết.
Tuyển tập thơ Nguyễn Viết Lãm do Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ngãi
in năm 1992 cho thấy thơ ông luôn thể hiện tình cảm chân thành trước
những điều lớn lao của nhân dân, quê hương qua hai cuộc kháng chiến. Xa
quê nhà, nhưng ông vẫn dành tình cảm sâu sắc cho quê hương Quảng Ngãi.
Thơ Nguyễn Viết Lãm thể hiện một tâm hồn đôn hậu, sâu lắng và luôn thủy
chung với những điều từng tâm niệm, khát khao.
4.1. VĂN HỌC CÁCH MẠNG
Ở VÙNG GIẢI PHÓNG
Thơ văn cách mạng ở vùng giải phóng Quảng Ngãi những năm chống Mỹ, cứu
nước đạt được một số thành tựu nhất định, góp phần tích cực vào cuộc
chiến đấu chung.
Xét về đề tài, thơ văn thời kỳ này tập trung thể hiện những vấn đề lớn
lao từ cuộc sống xây dựng và chiến đấu của quân dân ta trên khắp các địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Về nội dung, hầu hết các tác phẩm đều ngợi ca những tư tưởng, tình cảm
cao đẹp của các tầng lớp người tham gia chiến đấu. Đó là những suy cảm
về những người dân kiên cường góp sức người, sức của và cả máu xương cho
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là sự khẳng định nhiều phẩm chất
rất đáng tự hào của những người lính cầm súng chiến đấu cho quê hương,
quyết tâm đánh giặc cứu nước.
Về mặt thể loại, văn học thời
kỳ này khá phong phú, nhưng số lượng cũng như sự thành công thì thể
truyện - ký và thơ ca chiếm ưu thế.
Về đội ngũ sáng tác, trong thời kỳ này có hai bộ phận cầm bút cùng viết
về cuộc chiến đấu của nhân dân Việt
Nam
nói chung, nhân dân Quảng Ngãi nói riêng. Thứ nhất, các cây bút người
Quảng Ngãi như: Nguyễn Viết Lãm, Tế Hanh, Phú Sơn, Thanh Thảo, Đinh Xăng
Hiền, Vũ Hải Đoàn, Nguyễn Trung Hiếu, Hoài Hà... Thứ hai, các nhà thơ,
nhà văn ở khắp mọi miền đất nước đến công tác, chiến đấu ở Quảng Ngãi,
như Thu Bồn, Nguyễn Chí Trung, Bùi Minh Quốc, Dương Đức Quảng…
Dù là người địa phương hay người ở các nơi khác, tác phẩm của họ đều có
sự gần gũi về đề tài, chủ đề, cảm hứng sáng tạo. Điểm chung trong nội
dung thơ văn cách mạng giai đoạn này là sâu nặng tình đất tình người,
giàu quyết tâm chiến đấu và do vậy, nó tự hào được nối kết với dòng văn
học chống Mỹ trong cả nước, góp phần tạo nên chiến thắng trên mặt trận
văn hóa - tư tưởng nói chung.
Các tác giả người
Quảng Ngãi
Cầm bút trên chính quê hương mình, các tác giả người Quảng Ngãi rất
thuận lợi trong việc miêu tả, sáng tạo về con người và cuộc sống, cuộc
chiến đấu nơi đây. Nguyễn Hồ với những ghi nhận về cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng qua Bão lửa Trà Bồng, Vũ Hải Đoàn ghi nhận
Đêm qua vùng ranh, Nguyễn
Trung Hiếu chia sẻ với bà con khi họ đem tin tức cho đội công tác qua
bút ký Chỗ hẹn đầu cầu. Hoài
Hà, Đinh Xăng Hiền ca ngợi tình yêu bản làng và lòng căm lũ giặc của anh
Đinh Tô, anh A Nỉ. Nguyễn Viết Lãm, Tế Hanh... dù ở xa Quảng Ngãi, vẫn
có những sáng tác hướng về quê hương trong những năm kháng chiến. Phú
Sơn (Nguyễn Phúc Hoàng) cũng có nhiều thơ trào phúng đả kích kẻ thù từ
những năm kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là những năm chống Mỹ. Tiêu
biểu có tập Thơ trào phúng,
xuất bản năm 1993. Riêng Thanh Thảo, vì tham gia chiến đấu ở chiến
trường Đông Nam Bộ nên hầu hết các tác phẩm của ông đều viết về cuộc
chiến đấu của chiến sĩ, nhân dân vùng Đông Nam Bộ.
Số lượng người cầm bút ở Quảng Ngãi cũng như tác phẩm của họ tuy chưa
nhiều, nhưng những trang văn thơ của họ, ngoài tình cảm hướng về cuộc
chiến đấu của toàn dân tộc, họ thật sự có điều kiện thể hiện riêng tình
yêu đối với quê hương của mình.
Các tác giả là người ở
địa phương khác nhưng gắn bó và có viết về Quảng Ngãi
Do yêu cầu của cách mạng, nhiều người cầm bút đến công tác tại vùng đất
Quảng Ngãi. Tại đây, họ chứng kiến sự kiên cường bất khuất của người dân
Quảng Ngãi. Chính điều đó đã thôi thúc và gợi ý cho họ viết những vần
thơ, những trang văn về đất và người Quảng Ngãi. Bùi Minh Quốc ca ngợi
con người và quê hương Trà Bồng, Quảng Ngãi (Đất
lửa Trà Bồng), ca ngợi đất và người vùng đất Sa Kỳ anh dũng (Hồi
đó ở Sa Kỳ). Nguyễn Chí Trung lại ghi nhận các giá trị văn hóa và
tình người nơi đây (Làng quế,
Hương Cau). Những cây bút có tên tuổi ở xa như Yến Lan, Nguyễn Xuân
Sanh, Chế Lan Viên cũng có thơ về những chiến công của quân dân Quảng
Ngãi (Vạn Tường ơi!, Sơn Mỹ, Sơn
Mỹ)…
Tác giả và tác phẩm của những cây bút ở các địa phương khác, nhưng có
gắn bó với Quảng Ngãi, viết về đất và người Quảng Ngãi chiếm một số
lượng khá lớn trong thành tựu văn học chống Mỹ ở mảnh đất này.
Viết về quê hương và con người Quảng Ngãi trong điều kiện khốc liệt của
chiến tranh, có khi có tác phẩm mới chỉ như phác thảo, có tác phẩm chưa
thật hay, nhưng tất cả các trang văn thơ ấy đều chân thành, cảm động.
Các tác giả đã thực sự có một quá trình nếm trải sống còn với đạn bom
chiến tranh và đã dành những tình cảm sâu nặng đối với quê hương núi Ấn
- sông Trà.
4.2. VĂN HỌC VÙNG TẠM
CHIẾM
Từ năm 1954 đến năm 1975, đồng thời với văn học phục vụ cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, trong vùng tạm chiếm do chính quyền Sài Gòn kiểm
soát cũng có những sáng tác văn học với nhiều khuynh hướng khác nhau.
Nếu đề tài và cảm hứng của văn học chống Mỹ là xây dựng, đấu tranh bảo
vệ Tổ quốc, nhân dân và ngợi ca lý tưởng độc lập tự do, thì đề tài và
cảm hứng của văn học Quảng Ngãi ở vùng tạm chiếm chủ yếu là thế sự, đời
tư và oán than, phủ định. Hầu hết người viết thuộc các thế hệ trong vùng
tạm chiếm đều chứng kiến cảnh loạn ly, điêu tàn do chiến tranh gây nên.
Một đời sống tinh thần có phần bất an, những tâm trạng lo âu, khắc
khoải... xuất hiện rải rác qua nhiều tùy bút, truyện ngắn và một số thi
phẩm. Các tác giả vừa xót xa cho sự sống, thân phận, có ý thức chống
chiến tranh, mong hòa bình, vừa suy ngẫm về thời cuộc bể dâu và qua đó
gửi gắm tình yêu quê hương cũng như những hoài bão mang tính tích cực
đối với Tổ quốc. Những nội dung tình cảm này biểu hiện khác nhau ở từng
cây bút cụ thể, nhất là quan niệm đối với chiến tranh.
Nhìn theo diễn trình, từ năm 1954 đến năm 1960, hầu như không có được
mấy tác phẩm văn học xuất hiện ở vùng
tạm chiếm. Phải đến sau những năm 1960 mới có một số tác phẩm ra
đời, chủ yếu là thể loại thơ ca của các tác giả: Ngũ Hà
Miên, Vũ Hồ, Thanh Sơn,
Trào Phúng,
Minh Đường, Khắc Minh, Phan Nhự Thức, Tố Diễm, Đoàn Huy Giao, Lê
Vinh Ninh, Lê Vinh Thiều,
Phương Đình, Đoàn Khắc Huỳnh, Luân Hoán, Hà Nguyên Thạch, Trần
Thuật Ngữ... Cũng có người không phải là người Quảng Ngãi nhưng viết về
Quảng Ngãi khá hay như Trần Lê Nguyễn với bài
Về Quảng Ngãi. Về văn xuôi,
tiêu biểu có bà Tùng Long chuyên viết nhiều tiểu thuyết phơiơtông rất
nổi tiếng trên các nhật báo ở Sài Gòn.
Về các tác giả nghiên cứu, phê bình có thể kể đến Phạm Văn Diêu, với
công trình văn học sử - giảng văn:
Văn học Việt Nam (Nxb Tân
Việt, Sài Gòn, 1960).
Riêng Phạm Trung Việt với ba công trình chính:
Non nước xứ Quảng (4 lần tái
bản), Khuôn mặt Quảng Ngãi
(1973), Thi ca và giai thoại miền
Ấn - Trà (1973) viết về vùng đất, văn hóa và con người Quảng Ngãi,
đã có thể xem ông là một nhà văn hóa học địa phương, một nhà văn nặng
tình nghĩa với quê hương núi Ấn sông Trà. Các tác phẩm này của ông hiện
vẫn có nhiều giá trị về tư liệu và vẫn được đông đảo bạn đọc là người
Quảng Ngãi, trong lẫn ngoài tỉnh, đón nhận.
Khoảng từ năm 1970 đến ngày giải phóng, trong đời sống văn học Quảng
Ngãi ở vùng tạm chiếm xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ. Họ làm việc nhiều
nơi, khác nhau về thành phần, lứa
tuổi, nhưng gần gũi nhau về đề tài, chủ đề và bút pháp. Sáng tác của họ
nhiều nhất vẫn là thơ ca. Thơ ca họ gần gũi với văn giới đàn anh ở bình
diện nội dung, nhưng có phần ưu tiên cho tình yêu tuổi học trò, tình yêu
quê hương và nỗi oán than đối với chiến tranh. Những sáng tác này
xuất hiện chủ yếu trên: Trước mặt,
Quảng Ngãi ngày nay, Thi văn
đoàn Âu Cơ…
Nhìn chung, văn học trong vùng tạm chiếm ở Quảng Ngãi giai đoạn 1954 -
1975 khá đa dạng về thể loại, đề tài, có ít nhiều đóng góp cho sự phát
triển văn học Quảng Ngãi, nhưng chưa thực sự có những đổi mới về bút
pháp; hình ảnh, ngôn ngữ còn bị ảnh hưởng nhiều của thơ cũ. Chưa có
nhiều tác phẩm đứng được lâu, trừ một số biên khảo của tác giả Phạm
Trung Việt.
5.1. NHỮNG TÁC GIẢ VÀ
TÁC PHẨM TRƯỞNG THÀNH TỪ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Như đã trình bày ở phần văn học phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, đội
ngũ sáng tác văn học ở Quảng Ngãi thời kỳ này có hai bộ phận: các cây
bút người Quảng Ngãi và các cây bút ở địa phương khác chiến đấu và sáng
tác ở đây. Mỗi người cầm bút trong điều kiện chiến tranh hầu như không
có đủ thời gian để làm người viết chuyên nghiệp. Do yêu cầu và đòi hỏi
của công tác cách mạng, các tác giả phải làm nhiều việc với tư cách công
dân, tư cách chiến sĩ, bên cạnh tư cách nhà văn. Vì thế, chưa có người
cầm bút nào có thể coi là nhà văn chuyên nghiệp, và cũng vì không chuyên
nghiệp nên chất lượng tác phẩm không đồng đều. Tuy nhiên, trong số họ
vẫn có một số tác giả tiêu biểu, có thể được xem là trưởng thành trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, như: Thanh Thảo, Đoàn Minh Tuấn, Đinh Xăng
Hiền, Vũ Hải Đoàn, Nguyễn Trung Hiếu, Hoài Hà…
Thanh Thảo (sinh 1946),
hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn
học nghệ thuật đợt 1 (2002). Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh
tại Mộ Đức, đã in 12 tập thơ và nhiều tập tiểu luận phê bình. Về thơ, có
các tập thơ tiêu biểu: Dấu chân qua trảng cỏ (1978),
Trẻ em Sơn Mỹ (1979), Khối
vuông Rubíc (1986), Một trăm mảnh gỗ vuông (in trong Từ
một đến trăm, 1988)... Về trường ca, có Những người đi tới biển
(1977), Những ngọn sóng mặt trời (tác phẩm bộ ba, 1982)... Về phê
bình, đoản văn, tạp bút có Ngón thứ sáu của bàn tay (1995),
Mãi mãi là bí mật (2005)... Sáng tác của Thanh Thảo đa dạng về đề
tài, chủ đề, cảm hứng, thể loại và ở phương diện nào cũng có những thành
công, có đóng góp nhất định. Trong thế giới nghệ thuật phong phú ấy, thơ
ca là lĩnh vực làm rõ nhất tài năng văn học của ông. Thanh Thảo bước vào
thi đàn chống Mỹ từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, ông có sức thẩm
thấu lớn đối với hình tượng người lính và nhân dân. Đây là tài sản văn
hóa chung, nhưng người viết biết đi bằng lối mới và nói tiếng nói của
mình, chú trọng đến sự cách tân trong ngôn ngữ, trong hình ảnh, trong
cấu tứ, trong cách lựa chọn đề tài. Sự chọn lựa khốc liệt của người lính
trong chiến tranh, sự hy sinh lặng lẽ, bao dung và sức mạnh tiềm tàng
của nhân dân là những điều lớn lao, có sức hút tập trung nhất trong cảm
hứng sáng tạo của Thanh Thảo. Thơ và trường ca của Thanh Thảo, do vậy,
trở thành một trong những hiện tượng tiêu biểu trong đời sống văn học
Việt Nam những năm liền sau 1975.
Đoàn Minh Tuấn (sinh 1932), quê Tịnh Khê, Sơn Tịnh, hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, viết nhiều thể loại, chủ yếu là truyện ký, truyện ngắn. Tiêu biểu:
Núi sông hùng vĩ (1973 -
1974), Bác Hồ - cây đại thọ
(1989), Tuyển truyện ngắn
(2002), Trăm năm một thuở
(1995), Với bác Nguyễn (1997),
Đất nước phương trời (2002)… và một số kịch bản phim, kịch bản rối…
Tuyển tập Đoàn Minh Tuấn
(2002) là tác phẩm mới, đáng chú ý nhất của nhà văn trong thời gian đầu
thế kỷ XXI.
Đinh Xăng Hiền (1940 - 1989),
người dân tộc Hrê, sinh tại Sơn Kỳ, Sơn Hà, mất tại Quy
Nhơn. Thơ đã in: Giản đơn và yên
lặng (Hội Văn học nghệ thuật Nghĩa Bình, 1984), Thơ Đinh
Xăng Hiền (Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, 2004). Thơ Đinh Xăng Hiền chưa phải
phong phú về đề tài, chủ đề, thể loại, nhưng ở phương diện nào ông cũng
có ý thơ hay, tứ thơ lạ. Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Xăng Hiền là vẻ
đẹp truyền đời của thiên nhiên vùng miền núi quê ông, như cây cỏ, tiếng
suối, các loài hoa, chim thú, ánh sáng, lễ hội, mùa xuân… Lặng lẽ, hồn
nhiên và đằm thắm của tâm hồn
là những điều làm nên thế giới nghệ thuật thơ Đinh Xăng
Hiền.
Nguyễn Trung Hiếu (sinh 1932), quê Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi, hội viên Hội
Nhà văn Việt Nam, đã in 8 tác phẩm gồm thơ, truyện, ký. Thơ văn Nguyễn
Trung Hiếu chín dần theo chiều sâu ngẫm nghiệm đối với kỷ niệm thời
chiến tranh, đối với tình yêu xứ sở và quan hệ con người thời hòa bình.
Các tác phẩm chính: Ngôi sao
phương Nam (thơ, 1968),
Đất hương vàng (văn, 1995),
Phía ấy mặt trời lên (thơ,
1987), Mùa xuân đến trước
(văn, 1998), Từ độ các anh về
(thơ, 2000), Chuyện còn lại
(2005)...
Phan Minh Đạo,
người xã Bình Dương, huyện Bình Sơn,
từng chiếu đấu và sáng tác ở chiến trường cực Nam Trung Bộ, sau 1975 là
hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, có nhiều tác phẩm về đất nước và
con người Bình Thuận.
Hoài Hà,
tác giả viết nhiều thể loại
văn học như thơ, truyện, ký, kịch... Các tác phẩm chính:
Ngày về không có em (thơ, 1995),
Những phiên bản màu đỏ (2000), Chuyện như mới hôm qua
(2005).
Vũ Hải Đoàn
làm thơ sớm, in riêng 3 tập. Đời
thường qua tim là tập thơ chọn lọc in năm 2000. Trong tập thơ này,
Vũ Hải Đoàn thể hiện những cảm xúc của mình về quê hương, đất nước cùng
những chuyện đời tư.
5.2. NHỮNG TÁC GIẢ, TÁC PHẨM XUẤT HIỆN
SAU NĂM 1975
Sau năm 1975, văn học Quảng Ngãi từng bước phát triển và ngày càng phong
phú. Đội ngũ cầm bút đông đảo, do sự góp mặt của nhiều thế hệ. Đề tài,
chủ đề, thể loại cũng được mở rộng, phát triển, do sự chuyển mình, thay
đổi của cuộc sống, thời đại. Những cây bút lớp trước chủ yếu viết về kỷ
niệm thời chiến tranh, về thế sự, và quan hệ con người thời đổi mới.
Những người cầm bút trẻ, xuất hiện từ sau khi đất nước thống nhất, chủ
yếu quan tâm đến các vấn đề mới do cuộc sống đặt ra như tình yêu đôi
lứa, chuyện đời tư, gương người tốt, các mặt tiêu cực của đời sống,
nghĩa vụ của công dân...
Hiện nay có 3 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đang sinh sống ở Quảng Ngãi.
Ngoài Thanh Thảo, Nguyễn Trung Hiếu có Hơ Vê (Nga Ri Vê) - người dân tộc Hrê, sinh ở Sơn Hà, xuất hiện sau năm 1975, nhưng sớm được nhiều người
biết đến. Tác phẩm đã in: Đóa hoa
rừng (1990), Tất cả cho anh
(1994), Plây em mùa xuân
(1997), Khát vọng (2001). Đề
tài và chủ đề trong thơ Hơ Vê hầu hết hướng về vẻ đẹp và những khao khát
nồng cháy của con người, thiên nhiên ở mảnh đất miền Tây Quảng Ngãi.
Một số tác giả khác đã có in những tập thơ riêng như: Lê Quang Tân có
Điệu ru đầu tiên (1990),
Nguyễn Ngọc Hưng có Cầm sợi gió
trên tay (1993) và 6 tập khác, Tạ Linh Nha có
Khối linh hồn (1995), Lê Vinh
Ninh có Còn đọng (1995), Nam
Hồ có
Còn một chút tình (1998), Hà
Huy Hoàng có nhiều tập như
Một nắng hai sương (1998), Hoa
nắng hoa mưa (2001)…, Thế Kỷ có
Đàn của gió (1994), Tạ Hiền
Minh có Bến Tam thương (thơ -
văn, 2000), Lý Văn Hiền có Trăng côi (2000), Nguyễn Tấn On có
Thơ tặng người (2000), Mai Bá Ấn
có Lục bát làm liều
(2001), Và...
bốn chung quanh (2005), Minh Tân có
Theo cùng năm tháng (2002),
Nào quên (2005); Hoàng Nguyên có
Một khúc tâm tình (2003),
Ai xuôi Trà Khúc (2004), Đinh Tấn Phước có
Gió mùa (2003), Phong Đăng có
Nắng hanh quá
chiều (2004), Phạm Đương có
Bùn non (2004), Nguyễn Tấn Hải
có Thơ Nguyễn Tấn Hải
(2003), Trần Cao Duyên
có Hoa hút mật (2004)...
Ngoài ra, còn nhiều tuyển thơ của Phòng Văn hoá - Thông tin thị
xã Quảng Ngãi như Thơ mùa hạ
(1992); của Sở Thông tin - Văn hóa tỉnh Quảng Ngãi như
Trăng thu sông Trà (1994), Lửa
đầu nguồn (1995)... Nhóm bạn thơ là người Quảng Ngãi tại thành phố
Hồ Chí Minh và ở vài nơi khác cũng đã tổ chức xuất bản tập thơ
Một khúc sông Trà (1998)
(15). Nhìn
chung, trong giai đoạn này, ở Quảng Ngãi đã xuất hiện hàng trăm tập thơ,
dày mỏng khác nhau, in ấn đẹp hơn trước. Song, trừ các tập thơ của Thanh
Thảo được giải thưởng Nhà nước, một vài tác giả khác được tặng thưởng
(chưa phải giải thưởng), còn hầu hết các tập thơ của các tác giả khác
sức lan tỏa còn ít, chưa có những tập gây được ấn tượng mạnh trong công
chúng yêu thơ, chưa có giải thưởng nào lớn về thơ, chưa thật sự có cách
tân trong ngôn ngữ, hình ảnh, cấu tứ..., thường vẫn giọng điệu cũ, âm
hưởng cũ. Người làm thơ, xuất bản thơ chủ yếu là để giải tỏa nỗi niềm là
chính. Một vài người in thơ chỉ để nhớ đến "kỷ niệm một thời" của họ.
Trong khoảng thời gian trước năm 2005 có một số tuyển thơ, văn đáng chú
ý: 99 bài thơ (tuyển thơ, Hội
Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, 2003),
Sông có khúc (tuyển truyện và
ký, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, 2003) với sự góp mặt tương đối
khá đầy đủ của các cây bút thơ, văn xuôi trong tỉnh và các cây bút ngoài
tỉnh viết về Quảng Ngãi. Ngoài ra, trong thời gian này cũng có một số
tác giả có nhiều thơ in trong các tuần báo
Văn nghệ,
Văn nghệ Trẻ, Tạp chí Thơ của
Hội Nhà văn Việt Nam, là những tờ báo có uy tín về văn học nghệ thuật,
như: Thanh Thảo, Nguyễn Trung Hiếu, Hơ Vê, Đăng Vũ, Phạm Đương, Nguyễn
Ngọc Hưng… Cùng với một số tác giả trên, nhiều tác giả ở Quảng Ngãi
thường xuyên có thơ in trên các báo, tạp chí khác như: Hoài Hà, Trần
Thuỵ Du, Lý Văn Hiền, Mai Bá Ấn, Lê Hồng Khánh, Hà Huy Hoàng, Trần Cao
Duyên,… Nhiều người làm thơ, viết văn trong tỉnh dường như đã ít viết
thơ, viết văn mà đã chuyển sang viết báo (chuyên nghiệp), hoặc làm công
tác nghiên cứu, sưu tầm văn hóa văn nghệ.
Ngoài các tác giả đang sinh sống và làm việc ở Quảng Ngãi,
các tác giả người Quảng Ngãi đang sinh sống, công tác ở địa phương khác
cũng đã xuất bản nhiều tập thơ như: Hoài Vũ, Đoàn Huy Giao, Nguyễn Tấn
Cứ, Đoàn Vị Thượng, Trần Ngọc Tuấn, Linh Vũ, Nguyễn Tấn On, Nguyễn Thánh
Ngã... Rất tiếc chưa có điều kiện thống kê trong phần này. Riêng Đoàn
Huy Giao với các tập thơ Bài ca
trái tim mạ non (1995), Ngọn
lửa cuối cùng (1991), Con chim cu nhìn
tôi (2001) đã được nhiều bạn đọc đánh giá cao về ngôn ngữ thể hiện,
về cấu tứ, hình ảnh...
Về văn xuôi, có một số cây bút được nhiều người biết đến như:
Đoàn Minh Tuấn, Thứ Lang, Phạm Quy, Cao Chư, Mạc Do Hùng, Thoại Văn, Mai
Bá Ấn... và gần đây là Nguyễn Anh Tuấn. Các tác giả có một số truyện in
trên các báo, tạp chí ở trung ương, như Thứ Lang, Thoại Văn, Mạc Do
Hùng. Nhưng có lẽ do nhiều lý do khác nhau, các sáng tác văn xuôi trong
tỉnh, đặc biệt là truyện xuất hiện còn thưa thớt.
Về kịch,
có tập kịch chung của nhiều người viết
Tình huống
bất ngờ (1993), một số tác
phẩm kịch cũng có mặt trong tập
Mộng du (1992). Thế Kỷ, Hoàng Lĩnh và một số tác giả khác có chú ý
đến sáng tác kịch bản văn học, nhưng loại này chưa có nhiều, xuất hiện
còn thưa thớt, chưa có thành tựu lớn.
Tiêu biểu trong đội ngũ sáng tác kịch ở Quảng Ngãi có Nguyễn Thế Kỷ.
Ngoài các tập sách như Quảng Ngãi
quê hương tôi (1991), Quảng
Ngãi - giai thoại và truyền thuyết (1994),
Gian lao nghìn dặm (1994), Vị
thượng khách từ Paris về Hà Nội (1990),
Đàn
của gió (1995), và nhiều thơ
in trên các báo, tạp chí, ông còn có các tác phẩm kịch như:
Đốm lửa núi Hồng (kịch thơ, 1970),
Ngã ba Đồng Lộc (kịch thơ, 1973),
Những đứa trẻ không cô đơn (tuyển tập kịch, 1982). Nguyễn Thế Kỷ là
hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.
Trong lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học,
từ sau năm 1975, ở Quảng Ngãi cũng xuất hiện một số tác giả viết nghiên
cứu - phê bình, nhưng chưa nhiều. Tiêu biểu trong số này là Nguyễn Đức
Quyền.
Nguyễn Đức Quyền (1937 - 1999), người Nghĩa Dõng, thành phố
Quảng Ngãi, là nhà giáo - nhà phê bình văn học. Ông đã xuất bản gần 20
đầu sách. Công trình chính: Dạy và
học thơ ca dân gian (viết chung, 1986),
Những vẻ đẹp thơ (1987),
Bình giảng thơ (1997), Vẻ đẹp
ca dao (1997), Góp phần tìm
hiểu "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (viết chung, 1998), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương (viết chung, 1998)... Nguyễn Đức Quyền
là một nhà phê bình văn học tài hoa, am hiểu khá sâu rộng văn học Việt Nam, đặc biệt là
về văn học dân gian. Ông có cái nhìn về ca dao và cảm thụ ca dao rất
tinh tế.
Từ sau ngày tái lập tỉnh cũng có một số cây bút khác tham gia viết
nghiên cứu, phê bình văn học như: Nguyễn Diên Xướng, Cao Chư, Lê Hồng
Khánh, Nguyễn Tấn Huy, Trần Hoài Anh, Mai Bá Ấn, Võ Vĩnh Khuyến,...
Về các tác giả nghiên cứu phê bình văn học là người Quảng Ngãi đang sống
và làm việc ở những nơi khác có Phương Lựu, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Tấn
Đắc, Nguyễn Lộc, Lê
Ngọc Trà, Trường Lưu, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Xuân Nam, Lê Xuân Lít…
Tiêu biểu có:
Phương Lựu (sinh 1936),
tên thật là Bùi Văn Ba, sinh tại Nghĩa
Thương, huyện Tư Nghĩa. Năm 1991, ông là người đầu tiên bảo vệ luận án
Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ khoa học) về khoa học xã hội trong nước. Cũng
năm này, ông được phong học hàm giáo sư và hiện là Giám đốc Trung tâm
Trung Quốc học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Công trình chính:
Lỗ Tấn, nhà lý luận văn học
(1977), Học tập tư tưởng văn nghệ
Lênin (1979), Tìm hiểu một
nguyên lý văn chương (1983),
Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam (1985),
Tinh hoa lý luận văn học cổ
điển Trung Quốc (1989) và hàng chục tập nghiên cứu, lý luận, phê
bình văn học khác. Ông đã được tặng 2 Giải thưởng Nhà nước, một giải
thưởng về Khoa học và một giải thưởng về Văn học nghệ thuật đợt I.
Võ Quang Nhơn (1929 - 1995), quê Quảng Ngãi. Năm 1982, ông bảo vệ luận án Phó
Tiến sĩ Ngữ văn và được phong Phó giáo sư năm 1984. Ông là chuyên gia về
văn học dân gian ít người ở Việt
Nam. Từ 1981, ông mở rộng thêm chuyên
môn sang Văn học Đông Nam Á. Công trình chính: Giáo trình đại học
Văn học dân gian các dân tộc ít
người ở Việt Nam
(1983), Dân ca Tây Nguyên
(1976 - 1986). Ngoài ra, ông còn nhiều công trình khác như
Chàng Đăm Thí (1972), Truyện
cổ Cà Tu (1978), Truyện cổ Cơ
Ho (1984 - 1988), Rọi - Dân ca
Tày (1972), Bến cây hoa Chămpa
(1970), Tráng sĩ Hông Kính Tôn
(1989). Võ Quang Nhơn là người
đầu tiên ở Việt Nam
nghiên cứu văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Ông
được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I.
Nguyễn Tấn Đắc (sinh 1931),
Giáo sư văn học, sinh tại Nghĩa Lộ, thành phố Quảng
Ngãi, học ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh (Trung Quốc), sau về làm việc tại
Viện Văn học, rồi Viện phó Viện Đông Nam Á. Vào thành phố Hồ Chí Minh
làm ở Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2005, Phó Hiệu
trưởng Trường Đại học Hồng Bàng. Tác phẩm chính:
Văn học các nước Đông Nam Á (chủ biên),
Văn học Ấn Độ (2000), Truyện
kể dân gian đọc bằng type và motib (2001),
Văn hóa Đông Nam
Á (2003), Văn hóa xã hội và
con người Tây Nguyên (2005)…
Nguyễn Lộc (sinh 1934),
quê Bình Mỹ, huyện Bình Sơn. Ông được đào tạo ở Trung Quốc, về giảng dạy
tại Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi Khoa Ngữ văn - Báo chí,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã
được phong học hàm Phó Giáo sư, từng làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn và Báo
chí trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hiệu trưởng Trường Đại
học Dân lập Văn hiến Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình chính:
Văn học Việt
Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
(2 tập, 1976, 1978, 1992), Văn học Việt Nam
nửa cuối thế kỷ XIX (1976, 1992),
Hồ Xuân Hương (1984),
Văn học Tây Sơn (1985)...
Lê Ngọc Trà (sinh 1945),
quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Ông được đào tạo ở Liên Xô, bảo vệ luận án Phó
Tiến sĩ năm 1980, Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ khoa học) năm 1988, được phong
Phó Giáo sư năm 1991, Giáo sư năm 2002. Ông nhận giải thưởng báo Văn
nghệ năm 1987, Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991. Công trình chính: Đi
tìm cái đẹp (1984), Lý luận văn chương sơ giản (1986), Lý
luận văn chương (viết chung, 1986, 1997), Lý luận và văn học
(1990 - 2005), Mỹ học đại cương (1994)...
Trường Lưu (Mai Đình Thọ; sinh 1929),
quê Tịnh Long, Sơn Tịnh, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa (Bộ Văn hoá - Thông tin).
Đã xuất bản 10 công trình (sách) nghiên cứu văn hóa - văn nghệ riêng và nhiều công trình viết chung. Tiêu biểu: Sự chuyển
đổi các giá trị văn hóa trong văn hóa Việt Nam (1992), Chủ nghĩa
nhân văn và văn hóa dân tộc (1996), Văn hóa - một số vấn đề lý
luận (1999), Toàn cầu hóa và văn hóa dân tộc (2003)...
Ngoài các tác giả trên, trong lĩnh vực
nghiên cứu, phê bình văn hóa - văn nghệ còn có:
Huỳnh Như Phương (sinh 1955), quê Đức Hòa, Mộ Đức, học ở Liên Xô, từng làm Chủ
nhiệm Khoa Ngữ văn và Báo chí Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh, đã được phong Phó Giáo sư. Công trình chính:
Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ (viết chung với GS.TS Nguyễn
Văn Hạnh, 1985), Những tín hiệu mới (1993).
Lê Xuân Lít (sinh 1936), quê Hành Thịnh, Nghĩa Hành. Tác phẩm chính đã xuất
bản: Tìm hiểu từ ngữ truyện Kiều
(2000),
Cảm nhận phê bình văn học
(2001), Hai trăm năm nghiên
cứu bình luận truyện Kiều (2005)..., và một số sách viết chung khác.
Nhìn chung, đội ngũ sáng tác văn học và nghiên cứu, lý luận, phê bình
văn học thời kỳ 1975 - 2005 (kể cả trong tỉnh lẫn ngoài tỉnh là người
Quảng Ngãi) tương đối đông đảo, trong đó có một số người được nhiều giải
thưởng lớn như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Văn học
nghệ thuật và là những cánh chim đầu đàn của nền văn học Việt Nam hiện
đại.
(1) Xem Thế Kỷ - Hà Thanh: Quảng
Ngãi - giai thoại truyền thuyết, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ngãi,
1994.
(3) Về truyện kể Hrê, người viết
dựa trên các nguồn: Truyện cổ Hrê của Đinh Xăng Hiền (sưu tầm), Sở
Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, Quy Nhơn, 1984; ngoài ra còn một số
truyện do nhà thơ Hơ Vê (Nga Ri Vê) và Đăng Vũ sưu tầm trong quá trình
điền dã từ năm 2002 đến 2005.
(4) Theo cách phân loại của Thế
Truyền, trong đề tài khoa học: Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển vốn
âm nhạc dân gian của người Hrê ở Quảng Ngãi, Sở Khoa học - Công nghệ và
Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ngãi, 2003. Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn
Ngọc Trạch.
(5) Theo bản trích dịch trong sách:
Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi của Tạ Hiền
Minh - Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Xuân Hồng, Sở Văn hóa - Thông tin - Thể
thao Quảng Ngãi, 1995, tr.190.
(6) Những truyện được dẫn chủ yếu theo:
Truyện cổ Cor của Lê Như Thống (sưu tầm, biên soạn), Nxb Hải Phòng,
2003.
(7) Theo Đời sống văn hóa các dân
tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi, sđd, tr. 194.
(8) Các truyện được đề cập trong
tiểu mục truyện kể Ca Dong ở trên theo các tài liệu: Truyện cổ Ca
Dong do Đinh Xăng Hiền và Nguyễn Thanh Mừng sưu tầm, Sở Văn hóa - Thông
tin Nghĩa Bình, 1988; Truyện kể dân gian Ca Dong do Nguyễn Đăng Vũ sưu
tầm, giới thiệu, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, 2004 (tác phẩm tài trợ
sáng tạo).
(10) Bảy chữ đầu tiên của bài thơ kể 7 việc mà
chức việc ở tổng, xã phải lo. Chữ "bản phủ" ở câu ba
theo lời chú trong văn bản là cai tổng, chữ tri châu ở câu 4 có nghĩa là
lý trưởng (không phải tri châu là chức vụ tương đương huyện trưởng như
sau đó).
(11) Về thân thế và sự nghiệp của Trương Đăng
Quế, xem thêm Chương XI: Các nhân vật lịch sử tiêu biểu.
(12) Theo Cao Chư: Các nhà khoa
bảng Nho học Quảng Ngãi, sđd, tr. 107, thì Trương Đăng Quế còn có
thêm Đại Nam hội điển toát yếu.
(13) Nguyễn Hồng Sinh: Thơ văn yêu
nước và cách mạng Quảng Ngãi (1885 - 1945), Hội Văn nghệ Nghệ An
xuất bản, 1975.
(15) Những người biên soạn chương
này chưa có điều kiện thống kê được hết các tác phẩm của các tác giả
là người Quảng Ngãi đã xuất bản, nhất là các tác giả ở xa quê.
|