Trở về

 

I. DI TÍCH THỜI ĐẠI ĐÁ CŨ

DI TÍCH GIẾNG TIỀN

Đầu năm 2006, một số nhà khảo cổ học học đã tình cờ phát hiện trên bậc thềm cổ của miệng núi lửa núi Giếng Tiền ở phía bắc đảo Lý Sơn có các công cụ đồ đá cũ. Các di vật thu nhặt gồm rìu tay, hòn ghè, hòn ném, bàn mài, vòng trang sức, đặc biệt có rất nhiều mảnh tước bị tách ra trong quá trình chế tác công cụ. Bước đầu các nhà khảo cổ học đã xác định đây là di tích cư trú và cũng là xưởng chế tác đá của cư dân ở sơ kỳ thời đại đá cũ, cách nay khoảng 30 vạn năm. Di tích Giếng Tiền có thể sánh tương đương với di tích đá cũ ở Núi Đọ (Thanh Hóa). Đây là di tích đá cũ đầu tiên được phát hiện ở Quảng Ngãi cũng như ở miền Trung Việt Nam.

Di tích gò trá

Năm 1978, các nhà khảo cổ học học đã thu nhặt các công cụ đá ở bậc thềm cổ Gò Trá thuộc thôn Trà Bình, xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh (1). Quá trình xâm thực đã làm lộ ra các di vật của cư dân thời đại đá cũ, gồm rìu tay, hạch đá, công cụ mũi nhọn hình tam diện, mảnh tước nằm ở độ sâu 0,50m. Theo các nhà khảo cổ học thì dạng rìu tay bằng chất liệu đá thạch anh (quarzite) có niên đại muộn hơn Núi Đọ (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), thuộc cuối sơ kỳ đá cũ, cách nay 14 - 15 vạn năm. Bộ di vật đá cũ ở Tịnh Thọ có mối tương đồng với di vật đá cũ ở hang Thẩm Òm (Nghệ An) về chất liệu đá thạch anh, nhưng ở hang Thẩm Òm di vật cùng xương răng động vật hóa thạch ở hang trong lớp trầm tích thuộc đầu hậu kỳ cánh tân, trong khi đó những di vật đá cũ Gò Trá lại nằm ngoài trời ở thềm cổ gần sông nên có khả năng trôi dạt từ nơi khác đến.

Hai di tích thuộc thời đại đá cũ Giếng Tiền và Gò Trá cho biết con người đã sinh sống trên vùng đất Quảng Ngãi từ buổi bình minh của lịch sử loài người. Đây là bước khởi đầu văn minh của người nguyên thủy để từ đó phát triển lên thời đại đá mới.

II. DI TÍCH HẬU KỲ ĐÁ MỚI

DI TÍCH TRÀ PHONG

Là di tích được phát hiện và khai quật vào năm 2001 (2). Địa điểm khai quật nằm bên triền đồi thung lũng sông Nước Niêu thuộc xã Trà Phong, huyện Tây Trà. Tầng văn hóa dày trung bình 0,65m, trong đó chứa các di vật như phác vật rìu, rìu vai, bàn mài, cuội lăn gốm cùng rất ít mảnh gốm thô đỏ. Đặc trưng công cụ di tích Trà Phong khá gần gũi với văn hóa Biển Hồ (Tây Nguyên) ở loại hình rìu có vai chế tác từ đá lửa (Shilex) rất cứng, hình dáng đốc dài, lưỡi xoè, vai ngang, thân hình cong lồi thấu kính, rìa lưỡi mài sắc. Loại bàn mài nhiều mặt cũng chế tác từ đá lửa, loại cuội lăn gốm có nguồn gốc từ sông suối và một khối đá nguyên liệu bằng ngọc thạch. Di tích Trà Phong thuộc thời đại đá mới ở giai đoạn hậu kỳ đã chớm qua sơ kỳ kim khí, có niên đại cách đây khoảng trên dưới 4000 năm. Trên triền đồi thấp, gò thấp của vùng thung lũng sông Nước Niêu, sông Tang, sông Xà Lò... là những phụ lưu thượng nguồn sông Trà Khúc đều tìm thấy các công cụ đá như ở di tích Trà Phong. Cư dân hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí Trà Phong cư trú trên khu vực rộng của vùng thung lũng thượng nguồn sông Trà Khúc. Bộ sưu tập công cụ của cư dân hậu kỳ đá mới có đặc trưng riêng. Đó là loại rìu mài toàn thân và sử dụng đến tận cùng đốc rìu, loại rìu vai có nấc, loại bàn mài bằng đá lửa rất cứng được tận dụng trên mọi bề mặt của khối đá hình lập phương. Đặc biệt, khuyên tai đá hình bầu dục làm bằng đá cuội cát kết có xuyên lỗ để đeo. Hiện nay, các nhà khảo cổ học tìm thấy các hiện vật thuộc hậu kỳ đá mới ở vùng thấp hơn như Trà Xuân (Trà Bồng) và Gò Nà (Bình Sơn). Từ đó cho thấy, cư dân hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí Trà Phong có xu hướng tiến dần xuống vùng đồng bằng thấp hơn để chiếm lĩnh, khai thác.

III. DI TÍCH THỜI ĐẠI KIM KHÍ

1. CÁC DI TÍCH THỜI ĐẠI ĐỒNG THAU: TIỀN SA HUỲNH

LONG THẠNH

Di tích Long Thạnh phía đông giáp biển, phía tây giáp đầm nước ngọt An Khê, phía bắc giáp đồi cát Phú Khương, phía nam chính là thôn Long Thạnh, thuộc xã Phổ Thạch, huyện Đức Phổ. Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đào thám sát và khai quật vào các năm 1977, 1978. Sau đó, có nhiều đợt khảo sát của các nhà khảo cổ học trong nước và nước ngoài. Cuộc khai quật năm 1978 (3) tìm thấy di chỉ cư trú có tầng văn hóa dày trên 2m phát triển từ sớm đến muộn và một khu mộ táng có 16 quan tài chum gốm chôn đứng. Các chum chôn theo từng cụm vài chiếc cạnh nhau đã phản ánh quan hệ thân tộc của cư dân cổ Long Thạnh. Chum gốm Long Thạnh có hai loại hình trứng và hình cầu, hầu hết bên trên có nắp đậy. Bên trong chum có chứa rất nhiều đồ tuỳ táng gồm đồ đá, đồ xương và đồ gốm. Tuy nhiên, số lượng di vật tuỳ táng bên trong các chum không đồng đều, điều đó có thể là biểu hiện cộng đồng xã hội của cư dân cổ Long Thạnh đã có sự phân chia giàu nghèo. Đặc trưng bộ sưu tập di vật của cư dân cổ Long Thạnh rất phong phú. Công cụ sản xuất bằng đá bao gồm các loại cuốc đá diệp thạch dạng "lưỡi mèo", bôn rìu dạng "răng trâu", rìu vai, rìu tứ giác, rìu tam giác, bàn mài, dao, đục... Tính đa dạng và số lượng nhiều của công cụ sản xuất cho thấy cư dân cổ Long Thạnh có trình độ nông nghiệp phát triển. Bộ sưu tập đồ trang sức từ đá ngọc nephrit rất phong phú, gồm có khuyên tai hình vành khăn, khuyên tai có mấu hình đuôi cá, hạt chuỗi hình đốt trúc, khuyên tai hình tròn bản dẹt có khe hở… Hầu hết đồ trang sức được chế tác, mài giũa và tạo hình công phu, thể hiện tính thẩm mỹ cao của chủ nhân. Đồ gốm của cư dân cổ Long Thạnh thực sự là những tác phẩm nghệ thuật, đó là những chiếc bình lọ hoa gốm có chung đặc điểm là cổ cao, miệng loe, eo cổ tròn và bụng tròn, có chân đế hoặc không. Đặc trưng của bình lọ hoa gốm Long Thạnh là tạo dáng cân đối, các đường cong lượn mềm mại, toàn thân bình phủ kín các loại hoa văn, trên đó nổi bật đồ án chữ S có tô chì bên trong, mô tả cách điệu các loại sóng biển. Hầu như trên tất cả đồ đựng bằng gốm, đồ trang sức bằng đá quý đều được cư dân cổ Long Thạnh chú ý chế tác công phu. Đây là điểm đặc trưng nổi bật, phản ánh niên đại rất sớm của Long Thạnh. Di tích Long Thạnh đại diện cho các di tích Tiền Sa Huỳnh sơ kỳ đồng thau. Niên đại tuyệt đối C14: 2875 ± 60 B.P (Bln.2054) độ sâu 0,6m và 3370 ± 40 B.P (77 GMV- TS), độ sâu 1,20m. Niên đại tương đối của di tích khoảng trên 3.000 năm cách ngày nay.

BÌNH CHÂU I 

Di tích Bình Châu I phân bố trên một trảng cát lớn gần biển thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn. Viện Khảo cổ học khai quật năm 1978 trên 2 địa điểm: gò Ông Đảnh và gò Ông Sáo (4). Kết quả khai quật di tích Bình Châu I cho thấy, ở đây có hai khu cư trú và khu mộ táng. Khu mộ táng tìm thấy 7 mộ đất, đồ tùy táng gồm nồi, bát bồng, bình con tiện, đều được đặt úp ngược hoặc nghiêng. Đặc trưng di vật Bình Châu I gồm các loại đồ đá có cuốc đá lưỡi xoè nở hình trái tim, đồ đồng có mũi tên, lưỡi câu, lao, đồ gốm có các loại nồi miệng loe, vai gãy, đáy chỏm cầu, các loại bát bồng chân thấp và chân cao, bình hình con tiện, chén gốm, loại trang sức khuyên tai gốm hình đĩa. Đặc trưng đồ gốm Bình Châu I là trên thân đồ gốm luôn được tô đỏ để làm nổi bật các băng dải tô chì ở vành miệng, vai và chân đế. Tại di tích Bình Châu I còn tìm thấy mảnh nồi nấu đồng, là bằng chứng của nghề đúc đồng. Niên đại của Bình Châu I ở giai đoạn đồng thau phát triển, cách nay khoảng trên 2.500 năm.

BÌNH CHÂU II

Di tích Bình Châu II, thuộc thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (5). Đặc trưng di tích Bình Châu II phân bố ở vùng thấp ven sông, tầng văn hóa cư trú dày trên 2m, có kết cấu đất pha cát, chuyển biến từ sớm đến muộn. Trong tầng văn hóa có đan xen mộ đất, mộ vò. Di vật Bình Châu II phong phú về chủng loại. Nằm ở lớp sớm có các công cụ đá, như bôn hình răng trâu, rìu vai, cuốc hình lưỡi mèo, bàn mài và chày nghiền. Nằm ở lớp muộn có đồ đồng các loại, như rìu xòe cân, mũi nhọn đồng, đặc biệt có nhiều xỉ đồng, hạt đồng, nồi nấu đồng, muôi rót đồng… Qua các hiện vật này, có thể thấy ở tầng văn hóa lớp muộn của di tích Bình Châu II đã có dấu hiệu của nghề luyện kim đồng khá phát triển. Đồ xương có nhiều mũi nhọn, xương có dấu vết chế tác. Đồ gốm có các loại hình nồi, bát bồng, bình hình con tiện, nồi minh khí, dọi xe chỉ. Đặc trưng đồ gốm Bình Châu II có sự chuyển biến về mặt loại hình từ sớm đến muộn. Niên đại tương đối của lớp sớm Bình Châu II khoảng 3.000 năm ở giai đoạn sơ kỳ đồng thau, lớp muộn ở giai đoạn đồng thau phát triển, tương ứng với niên đại di tích Bình Châu I.

Các di tích Long Thạnh, Bình Châu II, Bình Châu I thuộc phạm trù của dòng chảy văn hóa Tiền Sa Huỳnh, không gian tồn tại và phát triển ở thời đại đồng thau. Các dòng chảy văn hóa Tiền Sa Huỳnh là nền tảng, tạo động lực quan trọng để tiếp tục phát triển lên thời đại sắt sơ kỳ của Văn hóa Sa Huỳnh.

2. CÁC DI TÍCH THỜI ĐẠI SẮT: VĂN HÓA SA HUỲNH

PHÚ KHƯƠNG

Di tích phân bố trên cồn cát Sa Huỳnh cạnh đầm An Khê, thuộc thôn Phú Khương, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ. Vị trí phía đông giáp biển, phía tây giáp đầm An Khê. Di tích Phú Khương được Vinê (M. Vinet) phát hiện năm 1909; La Barơ (La Barre) khai quật năm 1923. Kết quả khai quật được Pacmăngchiê (H. Parmentier) chỉnh lý và công bố (6). Di tích Phú Khương là khu nghĩa địa dày đặc các quan tài chum gốm, được chôn cạnh nhau trên cồn cát, một bên là biển và một bên là đầm nước ngọt. Các quan tài chum có hai dạng hình trứng và hình trụ, có kích thước lớn, cao gần 1m. Di vật Phú Khương có các loại bằng đồng thau, gồm có chuông, lục lạc, tượng và chậu. Di vật bằng sắt chủ yếu là công cụ sản xuất và vũ khí. Đồ trang sức có các hạt chuỗi mã não và thủy tinh, dạng hình tròn, hình trụ, hình thoi, hình đa diện, với các màu xanh, đỏ, tím, hồng. Khuyên tai hình vành khăn dẹt có khe hở, hình vuông dẹt có khe hở, khuyên tai bốn mấu nhọn và ba mấu nhọn. Di tích Phú Khương thuộc giai đoạn sơ kỳ sắt, niên đại tương đối vào khoảng trước Công nguyên một vài thế kỷ.

THẠNH ĐỨC

Di tích thuộc thôn Thạnh Đức, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ. Đây là khu nghĩa địa mộ chum Văn hóa Sa Huỳnh nằm trên cồn cát cổ, một bên giáp với biển Đông, một bên giáp với đầm nước Tân Diêm. Di tích được La Barơ khai quật năm 1923 với khoảng 120 mộ chum. Đến năm 1934, Côlani (M. Colani) khai quật được 55 chum. Đây là khu nghĩa địa lớn của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh. Các chum ở Thạnh Đức có dáng hình trụ, cao gần 1m, trên có nắp đậy hình nón cụt (7). Các chum chôn đứng theo từng cụm. Bên trong chum chứa nhiều đồ tuỳ táng, bao gồm: các loại lục lạc, vòng tay đồng sắt kết hợp giáo, dao, rựa, cuốc, thuổng… bằng sắt. Hạt chuỗi mã não (agate), đá ngọc nephrit và hạt chuỗi thủy tinh như khuyên tai ba mấu nhọn và bốn mấu nhọn, khuyên tai hình vành khăn, hạt chuỗi hình cầu, hình thoi, hình tròn. Trong chum chứa nhiều đồ gốm như nồi, bát bồng, bình... được trang trí tô chì và nhiều hoa văn đẹp. Niên đại tương đối của di tích khu mộ chum Thạnh Đức vào khoảng trước Công nguyên một vài thế kỷ.

GÒ QUÊ

Di tích Gò Quê ở thôn Sơn Trà, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, được khai quật năm 2005, tìm thấy 21 mộ chum và 10 mộ đất, trên 60 di vật tuỳ táng. Di tích Gò Quê là khu nghĩa địa của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh chôn trên cồn cát có độ cao 5 - 6m, nằm trong vùng vịnh Vũng Quýt, ở về phía nam cửa Sa Cần của sông Trà Bồng. Khu nghĩa địa này tồn tại hai tục chôn cất của cùng một chủ nhân, đó là tục chôn bằng quan tài chum gốm và tục chôn mộ đất. Các quan tài chum Gò Quê có kích thước lớn, cao khoảng 1m, chôn đứng theo từng cụm khoảng 4 - 5 chiếc cạnh nhau. Trong chum có nhiều đồ tuỳ táng, bao gồm: đồ đồng có giáo, rìu, dao găm, khuy áo; đồ sắt có kiếm, dao găm, quặng sắt; đồ đá quý và thủy tinh làm trang sức có khuyên tai tinh thể đá thạch anh (quarzite), hạt chuỗi mã não (agate), các khuyên tai đá ngọc nephrit gồm các loại ba mấu nhọn, bốn mấu nhọn, ống chuỗi làm vòng đeo. Đặc biệt bên trong chum có chứa nhiều đồ gốm như nồi, bình, bát. Ngoài mộ chum, ở Gò Quê còn có nhiều mộ đất chôn đồng thời với mộ chum, của cùng một chủ nhân. Đặc trưng mộ đất Gò Quê là các đồ tuỳ táng được đặt nghiêng, hoặc úp, bị đập vỡ hay ghè chân đế giống với phong cách táng tục của cư dân Bình Châu I, Bình Châu II thuộc giai đoạn Tiền Sa Huỳnh. Đồ tuỳ táng trong mộ đất có các loại: đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm, đặc biệt có thanh đao đồng sắt kết hợp. Di tích Gò Quê là khu nghĩa địa lớn của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh có những tục táng đặc biệt, như tục táng đồng hành mộ đất và mộ chum, hiện tượng rải gốm trong mộ, các đồ gốm tuỳ táng đều ghè vỡ, đồ gốm tuỳ táng đặt bên trong và cả bên ngoài chum, hiện tượng phân chia giàu nghèo, vai trò thủ lĩnh thông qua các di vật tuỳ táng. Trong mộ của chủ nhân Văn hóa Sa Huỳnh này có nhiều đồ đồng Đông Sơn như rìu, giáo, dao găm, hộ tâm phiến (tấm che ngực), khuy áo, đặc biệt thanh đao đồng sắt kết hợp, minh chứng cho sự kết hợp kỹ thuật Sa Huỳnh và Đông Sơn. Niên đại tuyệt đối C14 của di tích Gò Quê, mẫu 1 là 1980 ± 50 BP và mẫu 2 là 2040 ± 50 BP, cách ngày nay. Niên đại tương đối của di tích mộ táng Văn hóa Sa Huỳnh Gò Quê ở vào khoảng trước Công nguyên một vài thế kỷ.

XÓM ỐC

Di tích Xóm Ốc ở thôn Đông, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, nằm bên bờ suối Ốc, gần bờ biển phía nam đảo. Di tích do Đoàn Ngọc Khôi đào thám sát phát hiện năm 1996 (8), Viện Khảo cổ học phối hợp với tỉnh Quảng Ngãi khai quật năm 1997 (9). Di tích Xóm Ốc là nơi cư trú của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh, đồng thời trong tầng văn hóa có xen lẫn mộ táng. Tầng văn hóa cư trú của cư dân cổ dày trên 1,50m, có cấu tạo đất bazan pha cát ken dày vỏ các loài nhuyễn thể. Qua các tầng văn hóa Xóm Ốc được khai quật cho thấy, cư dân cổ ở đây cư trú ổn định lâu dài. Môi trường sống của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ở Xóm Ốc là biển đảo nên nguồn thực phẩm chủ yếu của họ là khai thác các loài thủy sản. Mộ táng Xóm Ốc có loại mộ đất chôn song táng, gồm hai người nam và nữ, di cốt còn nguyên. Ngoài ra có loại mộ nồi, vò chôn đứng, chủ yếu là chứa các di cốt trẻ em. Di vật Xóm Ốc có đồ đá như rìu, cuốc, bàn mài, đồ đồng như rìu, mũi tên, lưỡi câu, đồ sắt như dao, đồ đá quý và thủy tinh làm trang sức như khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi, đồ gốm có nồi vai gãy, bình hình con tiện, bát bồng. Đặc biệt, Xóm Ốc có bộ sưu tập di vật mang đặc trưng sắc thái biển tương đồng văn hóa với các đảo trong khu vực lòng chảo Thái Bình Dương, đó là các công cụ và trang sức chế tác từ vỏ tridacna (ốc tai tượng), nắp turbo (ốc mặt trăng), ốc hoa (ốc tiền)... Qua di tích và di vật Xóm Ốc có thể thấy nguồn gốc hình thành nên Văn hóa Sa Huỳnh trên đảo khởi đầu từ các dòng chảy văn hóa Tiền Sa Huỳnh ở đất liền như Long Thạnh, Bình Châu I, Bình Châu II hình thành nên. Trong quá trình phát triển, cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ở Xóm Ốc giao lưu mạnh mẽ trong khu vực hải đảo và lục địa để làm tăng sức sống nội sinh. Niên đại tuyệt đối C14 mẫu 1: 1910 ± 60 B.P, mẫu 2: 1900 ± 60 B.P. Niên đại tương đối lớp sớm của Xóm Ốc cách nay khoảng 2.500 năm.

SUỐI CHÌNH

Di tích Suối Chình nằm trên cồn cát cạnh biển, phía đông đảo Lý Sơn, thuộc xã An Hải. Di tích được Phạm Thị Ninh khai quật năm 2000 (10). Di tích Suối Chình có nguồn gốc phát triển từ giai đoạn muộn của Xóm Ốc. Di tích Suối Chình là nơi cư trú của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh, đồng thời trong tầng văn hóa có xen lẫn mộ táng. Tầng văn hóa Suối Chình có cấu tạo đất đỏ pha cát biển, gốm xen lẫn vỏ nhuyễn thể (do con người cư trú ăn bỏ lại). Trong tầng văn hóa có chứa mộ nồi chôn úp nhau theo chiều thẳng đứng, đồ tùy táng được đặt bên trong hoặc bên ngoài. Bên trong các mộ nồi đều có di cốt trẻ em. Đặc trưng di vật đồ đá gồm có rìu, mai, cuốc, bàn mài... đồ sắt có dao, kiếm, đồ trang sức bằng đá quý, thủy tinh như khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi, đặc biệt có đồ trang sức hạt chuỗi, vòng đeo, được chế tác theo cách khoan mài tinh vi từ lõi tridacna và các loại ốc, sò, đồ gốm có các loại nồi, bát. Niên đại Suối Chình ở vào khoảng đầu Công nguyên.

IV. DI TÍCH VĂN HÓA CHĂMPA

Trong vương quốc cổ Chămpa, Quảng Ngãi là vùng đất nằm giữa hai kinh đô lớn là Trà Kiệu (Sinhapura), Đồng Dương (Indrapura) thuộc tỉnh Quảng Nam và Chà Bàn (Vijaya) thuộc tỉnh Bình Định. Vùng đất Quảng Ngãi nằm trong đại châu Amaravati. Từ khoảng thế kỷ III sau Công nguyên, ở vùng phía nam cửa sông Trà Khúc đã hình thành nên tiểu quốc Mandala cổ. Những dấu tích văn hóa vật chất từ lòng đất được phát hiện đã cho thấy đây là trung tâm chính trị và giao thương với bên ngoài.

Từ trước đến nay đã có nhiều cuộc khai quật và nghiên cứu di sản Văn hóa Chămpa ở Quảng Ngãi. Di sản Văn hóa Chămpa ở Quảng Ngãi bao gồm các loại hình đền tháp, thành luỹ, mộ táng, giếng nước, bi ký... Thống kê bước đầu cho thấy trong tỉnh Quảng Ngãi có gần 40 địa điểm di tích Chămpa. Đặc trưng không gian phân bố của mỗi loại hình di tích có nét riêng. Hệ thống đền tháp thường phân bố dọc theo các sông lớn là sông Trà Khúc, sông Trà Bồng, sông Vệ, sông Trà Câu và nằm cạnh một số dòng sông nhỏ. Các đền tháp có niên đại sớm thường nằm ở vùng thấp, như tháp Chánh Lộ, tháp Lồi (thế kỷ XI), trong khi đó các tháp có niên đại muộn hơn thường nằm trên đỉnh đồi như tháp Khánh Vân (thế kỷ XII - XIII). Các đền tháp ở Quảng Ngãi đều bị đổ nát. Nổi tiếng nhất là tháp Chánh Lộ, được Pacmăngchiê (H. Parmentier) đã khai quật vào năm 1904. Những hiện vật phát hiện được tại Chánh Lộ mang một phong cách nghệ thuật riêng, nên được gọi là phong cách Chánh Lộ, hay phong cách Trà Kiệu muộn. Loại hình thành luỹ thường gắn với một trung tâm chính trị của Vương quốc Chămpa, như luỹ Cổ Luỹ gắn với một tiểu quốc có từ thế kỷ III - VII, có chức năng bảo vệ hệ thống đồn Bàn Cờ, tháp Hòn Yàng ở bên trong. Thành Châu Sa là toà thành đất quy mô với hai vòng thành nội và thành ngoại. Đây là trung tâm chính trị quan trọng của người Chămpa, tồn tại từ thế kỷ IX - XV và sau đó là lỵ sở của thừa tuyên Quảng Nam. Hệ thống mộ táng và giếng nước thường gắn với làng cổ của người Chămpa, ví như khu mộ Chămpa ở Gò Đua (huyện Bình Sơn) nằm về phía tây của làng cổ người Chămpa; các giếng nước hình vuông xếp đá (giếng bộng) của người Chămpa như giếng Thạnh Đức (huyện Đức Phổ), Xó La (huyện Lý Sơn)... gắn với làng Chămpa ở đó. Nhưng các giếng Chămpa quy mô thường nằm ven biển, cách mép nước biển độ 10m, có nhiều nước, rất trong và ngọt. Các giếng nước này phổ biến ở miền Trung, ngoài việc được cư dân bản địa sử dụng, còn cung cấp nước ngọt cho các thương thuyền trên con đường gốm sứ và tơ lụa trên biển đi từ Nam Trung Hoa xuống và vùng biển phía nam lên.

Dưới đây là một số di tích Văn hoá Chămpa tiêu biểu.

DI TÍCH CỔ LUỸ - PHÚ THỌ

Di tích được đào thám sát vào năm 1998 (11), đến năm 2004 khai quật. Đây là di tích Văn hoá Chămpa có niên đại từ thế kỷ III đến thế kỷ VII sau Công nguyên. Trong hố khai quật hiện rõ các chân móng cột nhà rất lớn có gia hạ bằng gạch vỡ và đá cuội. Tầng văn hóa sâu trên 2m có rất nhiều gốm cư trú. Hiện vật tìm thấy trong hố khai quật bao gồm các vật liệu kiến trúc như ngói lòng máng, gạch, chóp nóc... Đồ gia dụng gồm nồi, hũ kendi, chân đèn, bát... Các vật liệu kiến trúc dạng ngói lòng máng, đầu ngói ống trang trí mặt hề, chóp búp sen... của di tích Cổ Luỹ - Phú Thọ giống với vật liệu tương tự ở Trà Kiệu, Thành Hồ. Di tích Cổ Luỹ - Phú Thọ chứng minh cho một trung tâm chính trị của tiểu quốc cổ tiền Chămpa, có vị trí rất thuận lợi là nằm ở vùng ngã ba sông, gắn với cửa Đại để đi ra biển. Nhờ vậy tiểu quốc này có thể rất phát triển về kinh tế nhờ giao thương mạnh với bên ngoài, và minh chứng cho điều đó là ở đây còn tìm thấy gốm in ô vuông thời Đông Hán và mảnh cà ràng (bếp đất sét) của văn hóa Óc Eo...

Trong khu di tích có phế tháp Hòn Yàng. Nơi đây tìm thấy bệ thờ Vihsnu đản sinh Brahman, niên đại thế kỷ VIII. Trên thành Bàn Cờ cũng còn lại phế tích gạch. Cấm Bầm Buông có đá phát tiếng kêu như chuông trống khi gõ vào. Luỹ đất nằm ở phía đông đã bị phá nhiều đoạn.

THÀNH CHÂU SA

Di tích thành Châu Sa là di sản kiến trúc của Văn hóa Chămpa, người Việt sử dụng lại để làm lỵ sở Tam ty thời Lê Thánh Tông năm 1472. Thành Châu Sa là thành đắp đất có quy mô lớn. Khu vực thành bao gồm các xã Tịnh Châu, Tịnh An, Tịnh Thiện, Tịnh Khê thuộc huyện Sơn Tịnh. Thành Châu Sa gồm 2 vòng thành: thành nội và thành ngoại. Thành nội là khu trung tâm với hai "càng cua" bên ngoài, chạy theo hướng bắc - nam và đông - tây. Thành ngoại chạy theo hướng bắc - nam gồm 2 cạnh thành đông - tây - bắc. Thành Châu Sa có một hệ thống đường thủy nối liền hào thành với sông Trà Khúc rất thuận lợi cho thuyền bè đi lại. Niên đại xây dựng thành Châu Sa khoảng thế kỷ VIII - IX, khi mà vua Indravarman II lập kinh đô Indrapura với việc đánh dấu cho một triều đại mới mà quyền lực từ phương Nam vùng Panduranga chuyển về phương Bắc vùng Amaravati. Bờ thành Châu Sa cao trên 4m, mặt thành rộng trung bình 5m, đáy thành rộng trên 25m, hào thành có đường nước rộng khoảng 40m. Thành Châu Sa là toà thành đắp đất có quy mô lớn và còn nguyên vẹn nhất so với các thành Chămpa khác ở miền Trung Việt Nam.

KHU LÒ NUNG CÁC TIỂU PHẨM PHẬT GIÁO

Di tích do Đoàn Ngọc Khôi phát hiện năm 1993, khai quật năm 1998 (12). Di tích nằm trên núi Chồi thuộc thành ngoại thành Châu Sa (xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh). Đây là lò quây xếp đá ngoài trời, bên trong có đặt các tiểu phẩm Phật giáo bằng đất nung. Tiểu phẩm Phật giáo có dạng lá nhĩ, kích thước cao khoảng 7cm, bên trong có 6 hình tượng Phật đắp nổi. Các tiểu phẩm đất nung được sản xuất từ một khuôn in. Chúng được sử dụng như là một tín vật cho tín đồ Phật giáo Chămpa. Các tiểu phẩm Phật giáo ở núi Chồi có niên đại thế kỷ IX, tương tự như các tiểu phẩm được tìm thấy rất nhiều ở vùng đông bắc Thái Lan. Di tích núi Chồi đem lại nhận thức về dạng lò nung ngoài trời của Chămpa mà hiện nay hiếm gặp, đồng thời cung cấp thông tin quan trọng về Phật giáo Chămpa. Phật giáo Chămpa phát triển trong khoảng thời gian thế kỷ VII - IX, cực thịnh dưới triều đại vua Indravarman II với Phật viện Đồng Dương dựng ở vùng Amaravati vào khoảng cuối thế kỷ IX (857).

THÁP CHÁNH LỘ

Tháp Chánh Lộ nằm ở làng Chánh Lộ, tổng Nghĩa Điền, phủ Tư Nghĩa, nay thuộc khu vực Bệnh viện Đa khoa và Kho bạc Nhà nước tỉnh, Công an tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi). Tháp Chánh Lộ được Pacmăngchiê khai quật vào năm 1904 và Viện khảo cổ học khảo sát lại vào năm 1988. Những thông tin về tháp Chánh Lộ đều lấy từ kết quả khai quật và nghiên cứu của Pacmăngchiê (13). Tháp Chánh Lộ mặt quay về hướng đông, bao gồm quần thể tháp chính, tháp cổng, mandapa (nhà nguyện). Nghệ thuật trang trí và điêu khắc Chánh Lộ tạo nên phong cách nghệ thuật đặc trưng riêng trong dòng chảy nghệ thuật điêu khắc Chămpa, niên đại phong cách nghệ thuật Chánh Lộ ở khoảng thế kỷ XI.

V. DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VIỆT

CHÙA DIỆU GIÁC

Chùa Diệu Giác ở thôn Phú Lộc, xã Bình Trung, huyện Bình Sơn. Trước có tên gọi là chùa Viên Tông, được tạo lập vào năm Hoằng Định nguyên niên (1601), do Thiền sư Chiêu Công khai sơn.

Sách Đại Nam nhất thống chí quyển 2, phần Quảng Ngãi có chép: "Chùa Diệu Giác ở huyện Bình Sơn, chùa dựng trên gò cao, trước mặt trông ra hồ nhỏ. Hồi đầu bản triều, có sắc tứ cho tên chùa là Viên Tông, quy mô rộng rãi... năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), đổi tên thành chùa Diệu Giác, năm thứ năm người địa phương lại trùng tu, nhà cửa sạch sẽ rộng rãi, giới luật trang nghiêm, nhiều người đến lễ và xin thẻ". Năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754), Chúa Nguyễn thời bấy giờ là Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban "Sắc Tứ Viên Tông Tự" cho chùa. Chùa Diệu Giác là cổ tự danh tiếng của vùng đất Quảng Ngãi, có nhiều bậc cao tăng và tăng ni trụ trì, có ảnh hưởng lớn tới nhân dân trong vùng. Chùa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, loại di tích nghệ thuật Phật giáo.

CHÙA THIÊN ẤN

Chùa Thiên Ấn là danh lam cổ tự nổi tiếng của miền đất Ấn - Trà. Chùa nằm trên linh sơn là núi Thiên Ấn, mặt hướng về dòng sông Trà Khúc, vốn là linh giang của một miền đất. Chùa Thiên Ấn lúc đầu chỉ là thảo am nhỏ trên đỉnh núi do thiền sư Pháp Hóa, pháp danh Phật Bảo, tục danh Lê Duyệt, vốn là người Phúc Kiến (Trung Quốc) khai sơn tạo lập. Đến năm Chính Hòa thứ 15, tức năm Ất Hợi (1695), ngài dựng lập nên chùa Thiên Ấn quy mô hơn, quy tụ nhiều sư sãi và thu hút nhiều khách thập phương trong vùng. Năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề bảng vàng "Sắc Tứ Thiên Ấn Tự". Di vật này được đệ ngũ tổ Hoàng Phúc phục chế lại vào năm 1916. Đến nay (2005), chùa Thiên Ấn đã có 15 đời sư trụ trì, có 6 vị đứng hàng sư tổ. Hiện vật trong chùa quý nhất là chiếc đại đồng chung do làng Chú Tượng (Quảng Ngãi) đúc, tiếng rất thanh, ngân xa, được gọi là Chuông Thần. Trong chùa còn có Giếng Phật nhuộm đầy huyền thoại.

CHÙA ÔNG

Chùa Ông ở thị trấn Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, được tạo lập vào năm Minh Mạng thứ hai, tức năm Tân Tỵ (1821), do tứ bang Minh Hương người Hoa và quan dân trong vùng góp tiền xây dựng. Chùa Ông còn giữ được nguyên vẹn kiến trúc cổ xưa. Bên trong chùa bố trí gian thờ phụng theo kiểu "Tiền thánh, hậu Phật", phía trước thờ Quan Công và các tiền hiền, hậu hiền người Minh Hương, phía sau thờ Phật và Thiên Hậu, Kim Đẩu. Chùa Ông là ngôi chùa còn bảo lưu kiến trúc mỹ thuật cổ có giá trị. Trong chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ quý giá và khoảng vài chục sắc phong của các triều vua. Chùa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật.

CHÙA HANG

Chùa Hang ở xã An Hải, huyện Lý Sơn, vốn là hang đá được tạo thành trong quá trình xâm thực biển. Trong chùa còn dấu tích của một nơi thờ tự cũ của người Chăm. Người dân An Hải đã cải tạo hang thành chùa nên tên dân gian gọi là chùa Hang, tên chữ Hán là "Thiên Khổng Thạch Tự" (chùa đá trời xây). Bên trong hang đá bài trí các bàn thờ bằng đá sa thạch mịn, được đục đẽo công phu, giống như các giường đá, kỷ đá. Chùa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA ÔNG RAU

Chùa Ông Rau ở vùng chân núi Long Phụng, xã Đức Thắng, huyện Mộ Đức. Dân gian gọi là chùa Ông Rau bởi vị thiền sư tu tập ở đây chỉ ăn rau dại, uống nước suối và tham thiền. Vị thiền sư khai sơn nên chùa có lối tu hành mang dấu ấn của phái Mật Tông, "lai vô ảnh khứ vô hình", ăn uống hằng ngày chỉ bằng rau, dân gian gọi tên vị thiền sư ấy là Ông Rau, tên chùa cũng gọi như vậy. Hang đá lập chùa hiện nay vẫn còn.

ĐÌNH AN HẢI

Đình An Hải thuộc thôn Đông, xã An Hải, huyện Lý Sơn. Đình xây dựng vào năm Minh Mạng nguyên niên (1820). Đình An Hải còn gắn liền với quần thể nhà thờ tiền hiền thất tộc An Vĩnh, miếu Thủy Long, miếu Bùi Tá Hán, nghĩa tự. Bên trong đình làng An Hải thờ thành hoàng là Thiên Y A Na (Pô Inư Naga), Chúa Ngu Man Nương (tức nữ thần Uma) và tiền hiền, hậu hiền, tiền vãng, hậu vãng. Cách phối thờ như vậy chính là sự dung hoà các yếu tố của Văn hóa Chămpa trong lòng Văn hóa Việt để hình thành nên bản sắc văn hóa đặc trưng của đình làng ở huyện đảo Lý Sơn. Đình làng An Hải xưa có các nghi thức hiến tế và các lễ hội dồi bòng, đánh đu, đánh vật, leo cột lấy xâu, hát bộ. Đình đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, loại di tích kiến trúc nghệ thuật.

ĐÌNH LÂM SƠN

Đình tọa lạc ở thôn Phước Lâm, xã Hành Nhân, huyện Nghĩa Hành, được tạo lập dưới thời Gia Long (1802 - 1820). Đình do năm người họ Nguyễn và Lê góp công sức tạo lập. Trong đình th thành hoàng, tiền hiền, hậu hiền, tiền vãng, hậu vãng. Đình Lâm Sơn có cây đa khoảng 400 năm tuổi to hơn 10 người ôm.

ĐÌNH AN ĐỊNH

Đình tọa lạc ở thôn An Định, xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành. Đình An Định tạo lập đồng thời với đình Lâm Sơn, ở khoảng đầu thế kỷ XIX. Đình An Định bao gồm quần thể các công trình xây dựng, như cổng, trụ biểu, bình phong, đình chính, nhà hội, miếu thờ sơn thần, thổ thần, nghĩa tự. Đình làng An Định là di tích gắn với công cuộc khẩn hoang lập làng của người Việt. Đình còn bảo lưu các tác phẩm điêu khắc gỗ tinh tế.

VĂN MIẾU MỘ ĐỨC

Văn miếu Mộ Đức tọa lạc tại xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, có khuôn viên rộng rãi, nằm giữa cánh đồng, cảnh quan đẹp, được xây dựng dưới triều vua Tự Đức. Năm 1967, chánh điện bị pháo Mỹ bắn sập. Văn miếu Mộ Đức còn lưu giữ được một số văn bia, trong đó có hai văn bia quan trọng, đó là bia Mộ Đức văn từ bi ký và bia Bi chí khoa hoạn thuỳ vu bất hủ. Bia Mộ Đức văn từ bi ký và các tài liệu chữ Hán còn lưu cho biết: văn miếu Mộ Đức xây dựng năm Tự Đức thứ 16 (1863), do các quan viên trong huyện, trong tỉnh góp tiền tạo dựng.

MỘ VÀ ĐỀN THỜ BÙI TÁ HÁN

Hiện nay tọa lạc tại Rừng Lăng, phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi. Nguyên trước đền thờ ở núi Ông bên bờ nam sông Trà Khúc, do xây dựng Nhà máy Đường nên dời về nơi hiện tại vào năm 1962. Bên trong đền thờ có hai pho tượng gỗ, pho tượng Bùi Tá Hán tương truyền do một nhà sư ở Phú Yên tạc chân dung ông vào lúc sinh thời, pho tượng thứ hai là Xích Y hầu, bộ tướng của Bùi Tá Hán. Đền còn lưu giữ được 24 sắc phong từ triều Cảnh Thịnh đến Khải Định, trong đó 9 sắc phong của Bùi Tá Hán, 7 sắc phong Xích Y hầu, 8 sắc phong Bùi Tá Thế - con trai Bùi Tá Hán, danh tướng triều Lê. Mộ chí dựng bia năm 1865 ghi dòng chữ Hán: "Cố Lê Bắc quân đô đốc Trấn quận công chi mộ" (Mộ Bắc quân đô đốc Trấn quận công của triều cũ nhà Lê). Bùi Tá Hán (1496 - 1568) người Châu Hoan (Nghệ An), danh tướng dưới triều Lê Trung hưng. Năm 1540, vua Trang Tông phong cho Bùi Tá Hán là Bắc quân Đô đốc phủ chưởng phủ sự tước Trấn Quận công, vào chiêu an quân Mạc và trấn giữ vùng đất thừa tuyên Quảng Nam. Bùi Tá Hán được nhiều triều vua phong là Thượng đẳng thần. Đền thờ Bùi Tá Hán đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

MỘ VÀ ĐỀN THỜ TRẦN CẨM

Di tích ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức. Mộ tọa lạc ở Bàu Súng, to lớn bề thế, xây dựng bằng tam hợp chất, có bình phong, thành mộ và nấm mộ. Đền thờ nằm cạnh gần Quốc lộ 1A, xây dựng theo kiểu nhà rường. Trần Cẩm (1545 - 1640), được vua Lê phong tước Quảng Nham hầu, cử vào trấn giữ phủ Tư Nghĩa. Trần Cẩm là người có công mở mang khai phá miền đồng bằng trũng thấp của vùng Mộ Đức. Di tích mộ và nhà thờ Trần Cẩm đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

ĐỀN THỜ TRƯƠNG ĐỊNH

Đền thờ Trương Định được vua Tự Đức cho xây dựng ở xã Tư Cung và cấp thêm 5 mẫu ruộng hương hoả tế tự. Dấu tích ngôi đền còn lại nền nhà nằm ở làng Hòa Bân, xã Tịnh Thiện, huyện Sơn Tịnh. Ngày trước, đình làng Tư Cung có thêm một miếu nhỏ để thờ Trương Định vì ông là nhân thần có công giúp nước. Hiện nay (2005), huyện Sơn Tịnh đang xây dựng ngôi đền thờ Trương Định khá quy mô ở xã Tịnh Khê.

VI. DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG

1. DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG

HUYỆN ĐƯỜNG ĐỨC PHỔ

Địa điểm di tích phân bố ở thị trấn Đức Phổ, trong khuôn viên trụ sở Uỷ ban nhân dân huyện Đức Phổ, nơi nổ ra cuộc biểu tình lớn đầu tiên của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi. Vừa mới được thành lập, Tỉnh ủy Quảng Ngãi và Huyện ủy Đức Phổ đã phát động và lãnh đạo quần chúng nổi dậy đấu tranh chống đế quốc phong kiến, mở đầu ở Đức Phổ. Đó là cuộc biểu tình tuần hành của 5.000 quần chúng vào đêm 7.10 và ngày 8.10.1930, quần chúng đã chiếm huyện đường Đức Phổ. Huyện đường có một bờ tường gạch bao bọc, chính giữa là cổng ra vào, phía trái cổng có một bốt gác nhỏ để kiểm tra kiểm soát người ra vào, hai bên cổng có hai cây nhãn, trụ sở huyện đường nằm ở trung tâm. Hiện nay, giếng nước cũ và cây nhãn của huyện đường xưa kia vẫn còn. Trong khuôn viên di tích có đặt một phù điêu cờ đỏ búa liềm, phản ảnh cuộc đấu tranh biểu tình của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Di tích đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

TRỤ SỞ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN HÀNH CHÍNH NAM TRUNG BỘ

Địa điểm di tích nằm ở thôn Phú Bình, thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành. Tháng 12.1946, nơi đây được chọn để đặt các cơ quan đại diện của Trung ương chỉ đạo cuộc kháng chiến, cũng là nơi đặt trụ sở Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ. Nhà ông Nguyễn Tương (nay là nhà bà Võ Thị Tuyết) là nơi ở của cụ Huỳnh Thúc Kháng và nhà ông Nguyễn Nhượng (nay là nhà bà Võ Thị Nam) là nơi làm việc của cơ quan Mặt trận Liên Việt, do cụ Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo. Nhà ông Ngô Đồng (nay là nhà ông Ngô Xuân Dương) làm trụ sở Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ, là nơi làm việc của các đồng chí Phạm Văn Đồng và Nguyễn Duy Trinh. Kho bạc Tín phiếu của Liên khu V cũng đặt tại đây. Tất cả ba địa điểm trên đều nằm bên bờ bắc sông Phước Giang, thôn Phú Bình, thị trấn Chợ Chùa. Cụ Huỳnh Thúc Kháng tạ thế ngày 21.4.1947 tại nhà ông Nguyễn Tương. Hiện nay, ngôi nhà này trở thành nhà tưởng niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Di tích Trụ sở Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

ĐÌNH THỌ LỘC VÀ ĐÀI TIẾNG NÓI NAM BỘ

Đình Thọ Lộc thuộc thôn Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, cách thành phố Quảng Ngãi 9km về hướng tây bắc. Đình Thọ Lộc là nơi thành lập và đặt Đài Tiếng nói Nam Bộ vào năm 1946 để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Đài Tiếng nói Nam Bộ là đài phát thanh đầu tiên ở miền Nam, hoạt động cho đến năm 1954. Di tích này đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

QUẦN THỂ DI TÍCH KHỞI NGHĨA Ba Tơ

Địa điểm di tích nằm ở thị trấn miền cao Ba Tơ, cách thành phố Quảng Ngãi 60km về phía tây nam. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi, chiều ngày 11.3.1945 quần chúng biểu tình, đến đêm phát triển thành cuộc tuần hành phối hợp với lực lượng vũ trang dưới sự chỉ huy của ban khởi nghĩa. Lực lượng cách mạng đã chiếm Nha kiểm lý, làm chủ đồn Ba Tơ. Sáng ngày 12.3.1945, mít tinh mừng thắng lợi, ra mắt Uỷ ban nhân dân cách mạng huyện Ba Tơ và thành lập Đội Du kích Ba Tơ. Sau đó, lực lượng được chuyển lên khu căn cứ địa Cao Muôn để kháng Nhật. Khi Đội Du kích Ba Tơ lớn mạnh thì được chia thành hai đại đội, đại đội Phan Đình Phùng và đại đội Hoàng Hoa Thám, là những lực lượng nòng cốt để tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi. Khu trung tâm diễn ra cuộc khởi nghĩa đã được xây dựng nhà Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ từ năm 1985. Các địa điểm khác như khúc sông Liêng, dốc Ông Tài, suối Loa, hang Én, hang Voọt Rệp, Nha Kiểm lý, đồn Ba Tơ... được gìn giữ tôn tạo, phát huy tinh thần cách mạng, truyền thống yêu nước của nhân dân Quảng Ngãi. Quần thể di tích này đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

QUẦN THỂ DI TÍCH KHỞI NGHĨA TRÀ BỒNG

Địa điểm di tích nằm tại huyện Trà Bồng và huyện Tây Trà, các huyện vùng cao phía tây bắc tỉnh Quảng Ngãi; ghi dấu sự kiện lịch sử diễn ra vào ngày 28.8.1959, nhân dân các xã vùng cao Trà Bồng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên khởi nghĩa, phá xiềng xích kìm kẹp của chính quyền Ngô Đình Diệm giành thắng lợi, tạo ra vùng giải phóng rộng lớn ở miền Tây Quảng Ngãi. Hiện nay, di tích cuộc khởi nghĩa Trà Bồng gồm các điểm: Eo Chim, Đá Liếp, Trà Xuân, Gò Rô, Làng Ngãi... Cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi đánh dấu giai đoạn lịch sử cách mạng quan trọng từ đấu tranh chính trị chuyển sang đấu tranh vũ trang khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng trở thành bài học kinh nghiệm được nhân rộng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở toàn miền Nam. Di tích Khởi nghĩa Trà Bồng đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và được đầu tư xây dựng nhà bảo tàng, đặt bia bảng và tôn tạo các điểm di tích.

2. DI TÍCH CHIẾN THẮNG

DI TÍCH CHIẾN THẮNG XUÂN PHỔ

Địa điểm di tích nằm ở tại làng Xuân Phổ, nay thuộc xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa. Nơi đây, ngày 16.8.1945, đại đội Phan Đình Phùng của Đội Du kích Ba Tơ đã phục kích đánh quân Nhật càn quét. Ta tiêu diệt 7 lính Nhật, trong đó có một sĩ quan, thu một súng trường, ống nhòm và la bàn. Chiến thắng Xuân Phổ đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi. Tại di tích này đã có một bia bảng được xây dựng.

DI TÍCH CHIẾN THẮNG MỎ CÀY

Di tích nằm ở đoạn Quốc lộ 1 gấp khúc, quen gọi là Mỏ Cày, thuộc xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức. Nơi đây vào sáng ngày 17.8.1945 đại đội Hoàng Hoa Thám của Đội Du kích Ba Tơ đã phục kích chặn đánh một đoàn xe chở lính Nhật, phá hủy hai xe chở lính, tiêu diệt và làm bị thương 63 tên. Về sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng tại Mỏ Cày, ngày 15.4.1972, Tiểu đoàn 83 bộ đội địa phương tỉnh đã phục kích tiêu diệt một đại đội Bảo an và một đại đội địch bị đánh thiệt hại nặng, phá hủy hai xe bọc thép, thu hàng trăm súng. Tại đây một tượng đài đã được xây dựng.

DI TÍCH CHIẾN THẮNG BA GIA

Địa điểm di tích phân bố tại các xã Tịnh Bắc, Tịnh Sơn, Tịnh Bình ở phía tây huyện Sơn Tịnh, là di tích đánh dấu chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta, góp phần làm phá sản chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trận đánh Ba Gia diễn ra từ đêm 28.4 đến 31.5.1965, do Trung đoàn 1 Quân khu V phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt một chiến đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn (gồm 4 tiểu đoàn). Hơn một tháng sau, ngày 5.7.1965, Trung đoàn 1 Quân khu V tấn công tiêu diệt Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 51 quân đội Sài Gòn chốt giữ ở đồn Gò Cao. Các địa điểm di tích chiến thắng Ba Gia gồm: núi Khỉ, cầu Miễu Ngói, núi Chóp Nón, đồi Mả Tổ, mỏm Cổ Rùa. Hiện nay, di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và đã xây dựng tượng đài chiến thắng.

DI TÍCH CHIẾN THẮNG VẠN TƯỜNG

Địa điểm di tích thuộc hai xã Bình Hải, Bình Hòa ở phía đông huyện Bình Sơn.

Trận đánh Vạn Tường diễn ra vào ngày 18.8.1965 chủ yếu trên địa bàn các thôn Vạn Tường, An Cường thuộc xã Bình Hải, thôn Lộc Tự xã Bình Hòa. Trong trận Vạn Tường, quân giải phóng đã đập tan cuộc hành quân "Starlight" (Ánh sáng sao) của Mỹ, tiêu diệt 919 lính Mỹ và bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy nhiều xe tăng. Chiến thắng Vạn Tường đem lại niềm tin quân và dân ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ, mở đầu cho phong trào đánh Mỹ thắng Mỹ trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam. Quần thể di tích chiến thắng Vạn Tường bao gồm: Chiến hào thép Lộc Tự, Sở chỉ huy trung đoàn 1 (Quân khu V) xóm Hải Nam, Đỉnh đồi 61, xác máy bay địch bị ta bắn hạ ở Phước Thiện... Hiện nay, di tích chiến thắng Vạn Tường đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, một nhà trưng bày và các bia bảng đã được xây dựng.

DI TÍCH CHIẾN THẮNG ĐỒI QUANG THẠNH

Di tích nằm ở đồi Quang Thạnh, xã Tịnh Thọ, phía tây bắc huyện Sơn Tịnh và thành phố Quảng Ngãi. Tại đây, vào ngày 15.2.1967 bộ đội chủ lực Quân khu V tập kích một tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên, diệt 420 tên. Di tích này đã được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

DI TÍCH CHIẾN THẮNG ĐÌNH CƯƠNG

Di tích nằm ở phía nam huyện Nghĩa Hành. Đình Cương là một quả núi tương đối cao, nằm giữa 3 xã Hành Phước, Hành Thiện và Hành Đức. Trên đỉnh Đình Cương quân đội Sài Gòn xây dựng đồn bót và các chốt điểm nhằm khống chế vùng giải phóng của ta ở phía tây nam huyện Nghĩa Hành. Lữ đoàn 52 Quân khu V phối hợp với Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 20 Tỉnh đội Quảng Ngãi cùng dân quân du kích địa phương đánh chiếm đồn Đình Cương và các chốt điểm 68, 502, Phú Lâm Tây, Bàn Cờ, Đầu Tượng, Hòn Bà, tạo nên chiến thắng Đình Cương ngày 17.4.1974, mở rộng vùng giải phóng, tạo tiền đề tiến lên giải phóng Minh Long. Quần thể di tích chiến thắng Đình Cương gồm: đồn Đình Cương, triền Đá Én, cây đa Ông Tướng, Bàn Cờ, điểm cao 68, đồn Phú Lâm Tây. Di tích chiến thắng Đình Cương đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, tượng đài và các bia bảng đã được xây dựng.

3. DI TÍCH TỘI ÁC CHIẾN TRANH

DI TÍCH VỤ THẢM SÁT BÌNH HÒA

Di tích nằm ở phía đông huyện Bình Sơn, cách thị trấn Châu Ổ 10km và cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi 25km về hướng đông bắc. Vụ thảm sát bắt đầu lúc 4 giờ sáng ngày 03.12.1966, do tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên đóng tại đồi Châu Rê - Núi Dâu thực hiện. Chúng tàn sát 15 người ở nhà ông Trần và 4 người nhà ông Tráp. Đến ngày 05.12.1966, lính Nam Triều Tiên bắt dân ở xóm Tri Hòa, xóm Long Bình tập trung tại hố bom Truông Đình và bắn chết 36 người. Ngày 06.12.1966, lính Nam Triều Tiên tàn sát 7 người tại Lộc Miếu. Tiếp tục đến 10 giờ sáng cùng ngày, lính Nam Triều Tiên tập trung dân đến 3 địa điểm: Dốc Rừng, Chồi Giữa, Ruộng Giếng thuộc xóm An Phước - xóm Cầu. Đến 16 giờ chiều cùng ngày, chúng xả súng bắn giết. Tại Dốc Rừng có 59 người bị giết, tại đồng Chồi Giữa có 66 người bị giết, tại Ruộng Giếng có 131 người bị giết.

 Trong vụ thảm sát Bình Hoà có 430 người dân bị lính Nam Triều Tiên giết hại. Các nạn nhân là người già, phụ nữ và trẻ em. Hiện nay, di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, các địa điểm thảm sát đã đặt bia ghi dấu tội ác.

DI TÍCH VỤ THẢM SÁT ĐỊA ĐẠO ĐÁM TOÁI - BÌNH Châu

Di tích ở thôn Phú Quý, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn. Địa đạo Đám Toái được đào trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp để dân chúng ẩn tránh các cuộc càn quét của quân Pháp. Đầu năm 1965, địa đạo được tu bổ đào thêm để làm nơi sơ cứu thương binh ở chiến trường phía đông Bình Sơn. Địa đạo có tổng chiều dài 90m, chiều cao 1,6 - 1,9m, rộng 0,9m, uốn lượn hình chữ Z. Từng đoạn địa đạo đào sâu vào vách để tạo các "ga" và "ngách". "Ga" chiều cao 1,9m, rộng 1m, dài 3m có đặt giường tre, "ngách" nhỏ hơn dùng để ngồi nghỉ. Từng đoạn địa đạo có thiết kế lỗ thông hơi. Vách có hốc để đèn. Sáng ngày 9.9.1965, lính Mỹ từ Chu Lai đổ quân vào thôn Phú Quý, chúng lùng sục, phát hiện và đánh sập địa đạo, giết hại toàn bộ bác sĩ, y tá, hộ lý và thương bệnh binh ở dưới địa đạo. Năm 1997, địa đạo được khai quật, tìm thấy 66 hài cốt liệt sĩ. Di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, đã xây dựng phù điêu tưởng niệm.

DI TÍCH VỤ THẢM SÁT SƠN MỸ

Vụ thảm sát Sơn Mỹ (hay Mỹ Lai) diễn ra vào ngày 16.3.1968 do lính Mỹ thực hiện. Quân Mỹ đã tàn sát dã man 504 thường dân, trong đó ở thôn Tư Cung có 407 người, ở thôn Mỹ Hội có 97 người. Các điểm bị tàn sát nhiều nhất là tại Tháp Canh có 102 người, mương nước xóm Thuận Yên có 107 người. Trong số người bị thảm sát có 182 phụ nữ, 60 cụ già, 173 trẻ em, 24 gia đình bị giết sạch. Đây là vụ thảm sát dã man của lính Mỹ khiến cả thế giới sửng sốt, ghê sợ và phẫn nộ, là vụ thảm sát điển hình của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, Khu Chứng tích Sơn Mỹ được xây dựng, có tượng đài tưởng niệm, nhà trưng bày và các di tích ở ngoài trời. Di tích này đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt quan trọng, thu hút rất nhiều khách trong và ngoài nước đến thăm.

DI TÍCH VỤ THẢM SÁT PHÚ THỌ

Di tích ở tại Xóm Mới, thôn Phú Thọ, xã Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành. Trong hai ngày 2.2 và 3.2.1967, lính Mỹ dùng máy bay thả bom vào khu dân cư Xóm Mới làm chết 25 người dân và làm bị thương 4 người. Di tích vụ thảm sát Phú Thọ đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh.

DI TÍCH VỤ THẢM SÁT DIÊN NIÊN - PHƯỚC BÌNH

Di tích ở thôn Phước Bình và thôn Diên Niên, xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh. Lúc 10 giờ trưa ngày 9.10.1966, lính Nam Triều Tiên tập trung dân chúng tại sân trường Phước Bình rồi dùng súng tiểu liên bắn xối xả vào đám đông, có 168 phụ nữ và trẻ em bị giết hại. Qua ngày 13.10.1966, lính Nam Triều Tiên lại tập trung dân chúng đến tại đình Diên Niên, chúng tàn sát hàng loạt 112 phụ nữ và trẻ em. Tổng cộng trong hai ngày 9.10 và 13.10.1966, lính Nam Triều Tiên đã tàn sát 280 phụ nữ và trẻ em ở hai thôn Diên Niên, Phước Bình. Di tích này đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.

DI TÍCH VỤ THẢM SÁT KHÁNH GIANG - TRƯỜNG LỆ

Di tích ở thôn Trường Khánh (tức Khánh Giang - Trường Lệ), xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, cách trung tâm tỉnh lỵ 40km về hướng tây nam. Vào ngày 18.4.1969, lính Mỹ thuộc tiểu đoàn Tiger Force đã tàn sát 63 phụ nữ và trẻ em, có 9 em bé sống sót. Di tích này gồm ba địa điểm vốn là nơi lính Mỹ tập trung dân để giết hại, là gò Đập Đá, vườn nhà ông Xu, mé vườn nhà ông Thủy. Di tích vụ thảm sát Khánh Giang -Trường Lệ đã được xây dựng tượng đài tưởng niệm và bia ghi tội ác. Di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

4. NHÀ LƯU NIỆM DANH NHÂN

NHÀ LƯU NIỆM NGUYỄN NGHIÊM

Tọa lạc ở thôn Tân Phong, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, là nơi lưu dấu ấn về cuộc đời và hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Nghiêm - Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi (14). Nhà lưu niệm được xây dựng trên nền nhà cũ, bên trong ngôi nhà trưng bày những tài liệu hình ảnh, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Nghiêm. Nhà lưu niệm xây dựng năm 1986 và tôn tạo nâng cấp vào năm 1997.

NHÀ LƯU NIỆM PHẠM VĂN ĐỒNG

Tọa lạc ở thôn 2, xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, nằm gần Quốc lộ 1A, bên dòng sông và đồng ruộng xanh tươi, là nơi trưng bày hình ảnh, hiện vật về cuộc đời và sự nghiệp nhà lãnh tụ Phạm Văn Đồng ngay tại quê hương. Trước kia, ở đây có ngôi nhà cũ đưc xy dựng vào những năm cuối thế kỷ XIX, là nhà lá mái (nhà đắp) có 3 gian 2 chái. Năm 1972, nhà bị trúng pháo đổ nát. Năm 1978, chính quyền địa phương xây dựng lại ngôi nhà trên khu vườn cũ trước đây của gia đình để làm lưu niệm. Nhà lưu niệm Phạm Văn Đồng vách gạch, mái lợp ngói, nội thất chia làm 3 gian. Gian giữa bên trái thờ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, gian thờ bên phải thờ song thân là ông Phạm Văn Nga và bà Nguyễn Thị Thuần cùng các anh chị em ruột. Hiện nay, tại đây một khu lưu niệm rộng rãi, quy mô đang được đầu tư xây dựng. Di tích đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

NHÀ LƯU NIỆM TRƯƠNG QUANG GIAO

Tọa lạc ở xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, lưu giữ hình ảnh, hiện vật về đồng chí Trương Quang Giao, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Liên khu ủy V, Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng (15). Nhà lưu niệm Trương Quang Giao được Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Tịnh xây dựng vào năm 1999. Nhà có diện tích nội thất 78m2, bên trong được bài trí tủ và ảnh thờ đồng chí Trương Quang Giao.

NHÀ LƯU NIỆM NGUYỄN CHÁNH

Tọa lạc ở xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, trưng bày hình ảnh, hiện vật về đồng chí Nguyễn Chánh (16), xây dựng trên nền nhà cũ của gia đình đồng chí Nguyễn Chánh. Trong những năm 1930 - 1931, ngôi nhà cũ là nơi hội họp, nuôi giấu cán bộ lãnh đạo của Xứ ủy Trung Kỳ. Trong chiến tranh, nhà cũ bị cháy. Năm 1976, con cháu xây dựng lại ngôi nhà đơn sơ. Năm 1999, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Tịnh xây dựng nhà lưu niệm Nguyễn Chánh, bên trong trưng bày các hiện vật và ảnh liên quan đến cuộc đời hoạt động của tướng Nguyễn Chánh, trước sân có bia và tượng chân dung của ông.

NHÀ LƯU NIỆM TRẦN TOẠI

Tọa lạc ở xã Ba Động, huyện Ba Tơ, trưng bày hình ảnh, hiện vật về Trần Toại (17). Đây là nơi sinh sống của gia đình cụ Trần Toại khi gia đình từ Mộ Đức chuyển lên lập trại nuôi tằm ở thôn Trường An. Ngôi nhà là nơi hoạt động bí mật của Hội Hiệp Cổ - một tổ chức quyên góp tiền cho hoạt động cách mạng. Những năm 1930 - 1931, chi bộ Đảng Ba Tơ thường xuyên họp ở đây. Sau khi bị tù ở Buôn Ma Thuột, thực dân Pháp đưa cụ Trần Toại về quản thúc tại gia. Cụ Trần Toại thiết lập đường dây liên lạc với các đồng chí ở Căng an trí Ba Tơ, tiến đến các bước chuẩn bị khởi nghĩa Ba Tơ. Ngôi nhà cũ trải qua thời gian, chiến tranh đã đổ nát nhưng được tôn tạo phục dựng lại như ngôi nhà cũ trước đây.

NHÀ LƯU NIỆM NGUYỄN CÔNG PHƯƠNG

Tọa lạc ở thôn Hòa Vinh, xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành, trưng bày hình ảnh, hiện vật về nhà cách mạng Nguyễn Công Phương - chí sĩ yêu nước, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (17'). Ngôi nhà cũ của cụ Nguyễn Công Phương đã bị cháy, Uỷ ban nhân dân huyện Nghĩa Hành đầu tư xây dựng nhà trưng bày lưu niệm trên nền nhà cũ của gia đình. Bên trong trưng bày hình ảnh, tư liệu về thân thế, gia đình và sự nghiệp cách mạng của cụ Nguyễn Công Phương.

VII. THẮNG CẢNH

 1. "CẨM THÀNH THẬP NHỊ CẢNH"

Quảng Ngãi nổi tiếng là nơi có nhiều cảnh đẹp. Tương truyền từ thời thi sĩ Đạm Am Nguyễn Cư Trinh làm Tuần vũ Quảng Ngãi (1750), ông đã vịnh "thập cảnh" Quảng Ngãi. Các Nho sĩ địa phương vịnh hai cảnh đẹp khác, hình thành nên 12 cảnh và gọi chung là "Cẩm Thành thập nhị cảnh". Sau đây xin lần lượt giới thiệu 12 cảnh đẹp ấy của tỉnh Quảng Ngãi.

THIÊN ẤN NIÊM HÀ

Núi Thiên Ấn nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, phía đông huyện lỵ Sơn Tịnh và phía bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi, trên địa phận xã Tịnh An, huyện Sơn Tịnh. Núi cao 106m, bốn mặt núi có hình thang cân, nhìn từ xa trông như một ấn trời đóng trên dòng sông Trà nên cổ nhân gọi là Thiên Ấn niêm hà (ấn trời đóng trên sông). Người dân Quảng Ngãi xem núi là linh sơn của vùng đất này. Núi có nhiều cỏ tranh và cây cổ thụ. Trên núi đất bằng phẳng, có chùa Thiên Ấn là danh lam với quần thể tháp mộ các thiền sư cao tăng mang dáng uy nghi, trầm mặc. Phía tây nam đỉnh núi là nơi yên nghỉ của nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng. Thiên Ấn niêm hà tượng trưng cho sĩ khí Quảng Ngãi.

THIÊN BÚT PHÊ VÂN

Núi Thiên Bút nằm ở địa phận phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, cao 60m, hình chóp nón, trên núi có nhiều cây, trông xa tựa như ngọn bút lông chỉ lên trời. Về phía đông núi có hòn Nghiên tựa như nghiên mực. Vào buổi chiều tà có dải mây thấp thoáng in bóng đàn nhạn bay qua đỉnh núi, người xưa thường bảo ấy là lúc "Thiên Bút phê vân" (bút trời viết lên mây). Núi tượng trưng cho văn khí của Quảng Ngãi. Hiện nay trên đỉnh núi còn dấu tích một đền tháp Chăm cổ.

CỔ LUỸ CÔ THÔN

Cổ Lũy cô thôn nằm ở địa phận xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa. Bên trong có núi Phú Thọ (còn có tên là núi Đá Đen hay Thạch Sơn), cao 60m, rộng chừng 8ha, trên núi còn dấu vết đồn lũy, thành quách Chămpa. Núi có chùa Hang với huyền tích con cọp thần. Đứng trên đỉnh núi có thể phóng tầm mắt bao quát trông về dòng sông Trà hùng vĩ, cửa Đại nên thơ, rừng dừa xanh Cổ Luỹ, đảo Lý Sơn thấp thoáng trong khói sóng biển xanh, phía tây là đồng bằng Quảng Ngãi xanh tít tắp. Thôn Cổ Lũy như cắt khỏi đất liền. Tương truyền, Nguyễn Cư Trinh khi đứng trên núi trông về xóm Mồ Côi của những người dân chài đơn độc bên cửa Đại, đã gọi là Cổ Luỹ cô thôn (thôn Cổ Lũy cô quạnh).

LONG ĐẦU HÝ THỦY

Núi tọa lạc ở thị trấn huyện lỵ Sơn Tịnh. Tương truyền khí mạch của dãy núi Long Đầu khởi phát từ núi Thình Thình (đông nam huyện Bình Sơn) rồi chạy về phía nam dừng lại bên bờ sông Trà Khúc mà giỡn nước, nên cổ nhân gọi là Long Đầu hý thủy (đầu rồng giỡn nước). Tại đây có vực rất sâu, gắn với truyền thuyết vua Nam Chiếu bên bờ sông Trà. Núi Bàu Lác là đỉnh cao của dãy Long Đầu, trên đó một trống đồng Héger loại I đã được phát hiện. Phía tây là núi Sứa, nơi các nhà khảo cổ học tìm thấy mộ chum Văn hóa Sa Huỳnh.

LIÊN TRÌ DỤC NGUYỆT

Hồ tọa lạc ở thôn Liên Chiểu, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ. Nơi đây có hồ sen rộng, soi bóng núi Xương Rồng ở phía tây, vào những đêm trăng thanh nên thơ huyền ảo, đi thuyền trên hồ thấy bóng trăng thấp thoáng dưới sen, chìm trong đáy nước nên cổ nhân gọi là Liên Trì dục nguyệt (trăng tắm ao sen). Phía bắc hồ có di tích ngôi đền Quan Thánh, có tạc 4 pho tượng cao hơn 3m, diễn tả sự tích vào đêm trăng hồn Quan Công bay xuống núi đàm đạo cùng Phổ Tĩnh thiền sư và hóa duyên theo Phật (18).

HÀ NHAI VÃN ĐỘ

Bến sông tọa lạc ở xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh. Ngày trước nơi đây trên bến dưới thuyền tấp nập, những người dân vùng bờ bắc sông Trà Khúc thường qua lại để buôn bán, lao động sản xuất. Vào những buổi chiều tà khi ánh dương đỏ trên rặng Thạch Bích phía tây, soi bóng những con thuyền lờ lững qua sông, làm cho lòng người buồn man mác, nên người ta đặt là Hà Nhai vãn độ (đò chiều Hà Nhai) (19).

THẠCH BÍCH TÀ DƯƠNG

Một cảnh đẹp hùng vĩ nên thơ nằm về phía đông nam huyện Sơn Hà, giáp huyện Minh Long. Thạch Bích (Đá Vách) là ngọn núi cao nổi tiếng của Quảng Ngãi, thế núi quanh co đứng cao chót vót, cây cối rậm rạp, vách đá dựng ngược, sắc đá màu ngọc lúc ráng chiều nên được gọi là Thạch Bích tà dương (bóng chiều Thạch Bích). Cảnh vật nơi đây thay đổi từng thời khắc trong ngày, đặc biệt là mỗi buổi chiều tà, khi vạn vật bắt đầu chìm vào bóng đêm thì trên đỉnh Thạch Bích vẫn còn sáng bừng ánh hoàng hôn, tạo nên một vẻ đẹp vừa oai hùng vừa thơ mộng.

AN HẢI SA BÀN

Vùng An Hải phía bắc cửa Sa Kỳ có núi thấp chạy sát mép biển bỗng dưng uốn cong tạo eo lõm vào đất liền. Vùng đất eo lõm này toàn là cát trắng phau. Mùa gió nồm đông thổi vào tạo nên lốc xoáy vun cát lên, đứng trên núi nhìn xuống trông giống hình dáng cái mâm cát khổng lồ rất đẹp, nên gọi là An Hải sa bàn (mâm cát An Hải).                          

THẠCH CƠ ĐIẾU TẨU

Tọa lạc ở mũi đất phía nam cửa biển Sa Kỳ, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 16km về hướng đông bắc. Đó là một dãy đá thiên nhiên thẳng hàng, ở giữa có một tảng đá in hình hai dấu chân người, bên cạnh là một hang đá lộ thiên, mỗi khi sóng biển dội vào hang đá nước phun lên rất đẹp, trông như lò nấu rượu. Trên một tảng đá có in hnh một vết lõm trông giống như dấu bàn chân, gọi là bàn chân ông khổng lồ. Ngoài mép nước một hòn đá đen nổi lên ở cửa biển trông như người ngồi câu giữa dòng nước, gọi là Thạch cơ điếu tẩu (ông câu trên ghềnh đá).

LA HÀ THẠCH TRẬN

Thuộc thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa. Nơi đây có nhiều tảng đá nằm dưới gò đồi. Tương truyền xưa kia trong vùng còn hoang vắng, gió thổi qua đây gầm rất mạnh, tưởng như có cả một đoàn quân mai phục, nên gọi là La Hà thạch trận (trận đá La Hà). La Hà gồm 3 cụm núi đá liên hoàn: núi La Hà, núi Đá Chẻ, núi Hùm. Do việc khai thác đá chưa được kiểm soát, nên ngày nay thắng cảnh này đã gần như bị phá hủy thành phế tích.

VÂN PHONG TÚC VŨ

Vân Phong là tên một dãy núi cao nằm ở phía nam huyện Trà Bồng và nam huyện Tây Trà, còn gọi là núi Cà Đam. Đỉnh núi cao vút lên giữa tầng trời được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi trùng điệp, trông ngọn núi rất tươi sáng. Nhìn về phía chóp núi lúc nào cũng thấy mây bay dờn dợn bao phủ, trông khí sắc giống như trời vào buổi tinh mơ hay sau khi mưa tạnh nên được gọi là Vân Phong túc vũ (mưa trong núi Vân Phong).

VU SƠN LỘC TRƯỜNG

Vu Sơn là ngọn núi cao nằm về phía tây của huyện Bình Sơn. Nhìn từ xa, ngọn núi như điểm phát mạch cho các dãy núi thấp hơn chạy về đồng bằng. Trên vùng triền núi phía tây có rừng cây rậm rạp tươi tốt, là nơi hươu nai về tụ tập rất đông nên gọi là Vu Sơn lộc trường (bãi nai ở núi Vu).

2. CÁC THẮNG CẢNH KHÁC

BÃI BIỂN SA HUỲNH

Nằm ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc địa phận các xã Phổ Thạnh, Phổ Châu, huyện Đức Phổ, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 60km về hướng nam. Sa Huỳnh không chỉ là nơi chứa đựng các di tích khảo cổ học mà còn nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng. Dọc theo bờ biển Sa Huỳnh là dãy Trường Sơn chạy áp sát bờ biển, có nơi đâm thẳng ra biển tạo nên những ghềnh đá rất đẹp. Bãi biển có núi đá nằm cạnh biển, trên núi nay vẫn còn nhiều khỉ.

Bờ biển Sa Huỳnh sạch sẽ, thoáng đãng, là nơi dừng chân lý tưởng cho du khách đến tham quan và khám phá vẻ đẹp của vùng đất này.

BÃI BIỂN MỸ KHÊ

Du khách đặt chân đến Quảng Ngãi đều nghe đến tên một bãi biển đẹp nằm cách cầu Trà Khúc 15km về hướng đông trên Quốc lộ 24B, với tên gọi bãi biển Mỹ Khê, thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Bãi biển nổi tiếng đẹp và sạch với hình cong lưỡi liềm, nước biển xanh ngát, bãi cát vàng phau, bên cạnh là rừng phi lao rì rào quanh năm. Khu vực bãi biển Mỹ Khê hiện đang được xây dựng thành khu du lịch sinh thái biển.

CỬA BIỂN SA CẦN

Sa Cần là cửa biển nơi con sông Trà Bồng đổ ra biển Đông, nằm ở phía đông bắc huyện Bình Sơn, cách thị trấn Châu Ổ 17km, giữa hai xã Bình Đông và Bình Thạnh. Cửa Sa Cần còn gọi là Thái Cần, Thể Cần, Sơn Trà, rộng khoảng 200m, có độ sâu khoảng 4 - 6m nước. Ở đây, có hai núi đá lớn nhô cao trên mặt nước, có màu xám đen, thường gọi là Hòn Ông, Hòn Bà. Hòn Ông nằm về phía biển, bên ngoài nước sâu, rộng thoáng. Hòn Bà nằm về phía trong, cách cửa biển khoảng 500m, tạo cho cảnh quan thêm thơ mộng.

BÃI BIỂN KHE HAI

Nằm ở phía tây bắc cửa Sa Cần trên địa phận xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn. Đây là bãi biển đẹp và sạch sẽ. Nước biển khá nông, là bãi biển có tiềm năng khai thác du lịch.

THÁC TRẮNG

Thác nằm ở xã Thanh An, huyện Minh Long. Từ độ cao 40m, một dòng nước bạc tuôn trào như suối tóc của một nàng tiên buông xõa theo ghềnh đá gọi là Thác Trắng. Thác đã tạo nên hai hồ nước thiên nhiên dưới chân, mỗi hồ rộng 100m2 nước xanh biếc. Đến với Thác Trắng, du khách sẽ được đắm mình trong vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ, được nghe chim hót, vượn kêu trong rừng, được thỏa thích vùng vẫy dưới hồ nước trong xanh.

THÁC CÀ ĐÚ

Ở xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, nước từ trên cao chảy xuống trông rất nên thơ. Ở đây từ năm 1988, một nhà máy thủy điện đã được xây dựng, là nơi có phong cảnh đẹp, không khí mát lành, thu hút rất nhiều khách đến tham quan, tắm mát về mùa hè.

Ngoài hai thác trên, trong tỉnh Quảng Ngãi còn có nhiều suối, thác rất đẹp như suối Nước Trinh (huyện Ba Tơ), suối Huy Măng (huyện Sơn Tây), suối Trà Cân, thác Xenbay (huyện Trà Bồng), thác Lụa (huyện Sơn Tây), thác Vực Bà (huyện Bình Sơn), suối Mơ ( Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa)…

QUẦN THỂ THẮNG CẢNH TRÊN ĐẢO LÝ SƠN

Trên đảo Lý Sơn có nhiều thắng cảnh đẹp còn nguyên sơ, phân bố ven bờ biển đảo Lớn và đảo Bé. Đó là các thắng cảnh hang Tò Vò, hang Kẻ Cướp, hang Câu, hang Cò, chùa Hang…

Hang Tò Vò nằm ở phía bắc đảo Lớn, thuộc xã An Vĩnh. Đây là khối đá có nguồn gốc núi lửa, do cơ duyên thiên tạo ở giai đoạn biển tiến, nước biển thâm nhập đã tạo nên vòm.

Hang Kẻ Cướp nằm ở xã An Bình (đảo Bé). Nguồn gốc tên hang liên quan đến lịch sử hình thành đảo Lý Sơn, là nơi ẩn nấp của nhóm hải tặc tung hoành trên biển thời xa xưa. Hang rất hiểm trở, muốn vào được hang thì người ta phải lặn xuống nước mới vào được.

Hang Cò nằm ở bờ biển phía nam đảo Lớn, thuộc xã An Hải. Tên gọi hang Cò bắt nguồn từ loài chim nhàn có thân hình màu trắng giống chim cò thường hay đậu nơi đây. Hang Cò cũng là khối đá tự nhiên có nguồn gốc núi lửa thành tạo nên.

Hang Câu nằm ở thôn Đông, xã An Hải, dưới chân núi Thới Lới. Nơi đây sóng biển quanh năm vỗ vào ghềnh đá được tạo thành từ nham thạch, cao hàng trăm mét, trông rất nên thơ và hùng vĩ. Có lẽ đây là nơi người Lý Sơn hay câu cá, hoặc cũng có thể là nơi có nhiều rau câu, nên gọi là hang Câu.

Ngoài ra, trên đảo Lý Sơn còn một số thắng cảnh khác như núi Giếng Tiền, núi Thới Lới, hòn Bàn Than, hòn Mù Cu…



(1)  Lê Trung Khá, Nguyễn Vạn Thuận (1978): Di tích thời đại đồ đá cũ Gò Trá (báo cáo điền dã 1978 lưu tại Bảo tàng Quảng Ngãi).
(2)  Đoàn Ngọc Khôi: Đào thám sát di tích Trà Phong, Những phát hiện Khảo cổ học. 2002, tr. 121 - 124.
(3)  Chử Văn Tần, Đào Linh Côn: Khai quật di tích Long Thạnh (Đức Phổ - Nghĩa Bình). Những phát hiện ở Miền Nam 1978, tr. 196 - 225.
(4)  Đào Linh Côn: Khai quật địa điểm khảo cổ học Bình Châu (Bình Sơn, Nghĩa Bình), Những phát hiện Khảo cổ học 1978, tr. 226 - 245.
(5)  Đoàn Ngọc Khôi, Chử Văn Tần, Trịnh Sinh: Thám sát phúc tra di tích Xóm Ốc, Bình Châu. Những phát hiện Khảo cổ học 2001, tr. 201 - 203.
(6), (7)  H. Parmentier, Notes d' Archaeologique Indochinoise, VII. Desposts de jarres à Sa Huynh (Quang Ngai - Annam)", BEFEO, Vol. XXIV, pp. 325 - 343.
(8)  Đoàn Ngọc Khôi: Đào thám sát di tích văn hoá Sa Huỳnh ở Xóm Ốc (Lý Sơn - Quảng Ngãi), Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1996, tr. 211 - 214.
(9)  Phạm Thị Ninh, Đoàn Ngọc Khôi: Xóm Ốc, di tích văn hoá Sa Huỳnh ở đảo Lý Sơn - Quảng Ngãi, Tạp chí Khảo cổ học số 2, năm 1999, tr. 14 - 39.
(10)  Phạm Thị Ninh, Hà Nguyên Điểm, Trịnh Hoàng Hiệp: Báo cáo khai quật di chỉ suối Chình trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) năm 2000, tài liệu lưu tại Thư viện Viện Khảo cổ học.
(11)  Đoàn Ngọc Khôi: Đào thám sát di tích Chămpa ở núi Phú Thọ - Cổ Luỹ (Quảng Ngãi). Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1999, tr. 234 - 240.
(12)  Đoàn Ngọc Khôi: Đào thám sát lò nung Chămpa ở núi Chồi - thành Châu Sa. Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1998, tr. 234 - 240.
(13)  H. Parmentier: Inventaire descriltif des monuments Çams de L’ Annam, Paris 1909, planche LV.
(14), (15), (16), (17), (17')  Xem tiểu sử ở Chương XI: Các nhân vật lịch sử tiêu biểu.
(18)  Theo các tài liệu xưa, ở Quảng Ngãi có nhiều điểm ao sen gọi là Liên Trì dục nguyệt. Liên Trì dục nguyệt ở làng Ba La (nay thuộc xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi), có thể là địa điểm mà thi sĩ Nguyễn Cư Trinh đề vịnh năm 1750. Ở làng Bồ Đề (Đức Nhuận, Mộ Đức), cũng có ao sen và thường được gọi theo mỹ danh trên.
(19)  Có người gọi là Hà Khê vãn độ, chỉ bến Hà Khê ở vạn Thu Xà (Xem Phan Việt Tuyền: Văn học miền Nam, sđd).