Trở về

Trải qua các thời kỳ lịch sử, cộng đồng các dân tộc Quảng Ngãi luôn lưu giữ, trao truyền di sản văn hóa truyền thống của các tộc người, trong đó có các hình thức phong tục, tập quán, tín ngưỡng, và được điều chỉnh theo từng thời kỳ, từng giai đoạn. Mỗi tộc người có những hình thức phong tục tập quán riêng, trong đó chứa đựng những giá trị truyền thống của tộc người, đồng thời cũng có ít nhiều tiêu cực, hạn chế, kìm hãm sự phát triển xã hội. Trong các hình thức tôn giáo cũng vậy.

Khi nói đến tín ngưỡng, lễ hội (1) không thể không đề cập đến các hình thức phong tục tập quán, tuy nhiên để góp phần tìm hiểu riêng từng loại hình, tạm thời xin được tách một số hình thức phong tục, tập quán, tín ngưỡng có trong lễ hội để trình bày trong chương này. Dưới đây chỉ là những cố gắng để trình bày một cách khái quát nhất, dù mỗi nơi có khác biệt chút ít, và chỉ chọn lựa những loại hình, những thành tố tiêu biểu. Mặt khác, cũng do các hình thức phong tục, tập quán, tín ngưỡng có sự gắn kết nhau, nên trong chương này chúng tôi trình bày thành 2 tiểu mục: 1) Phong tục, tập quán, tín ngưỡng; 2) Tôn giáo.

I. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG   

1. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT

1.1. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG TRONG VÒNG ĐỜI NGƯỜI

Cũng như cộng đồng người Việt ở các vùng miền khác nhau trong nước, từ lâu người Việt ở Quảng Ngãi còn giữ khá đầy đủ các hình thức liên quan đến chu kỳ một vòng đời người, trong đó có ba mốc quan trọng là sinh đẻ, cưới xin và tang ma.

Sinh đẻ

Ngày xưa, người đàn bà có chồng mà không con thì bị xem như có lỗi với gia đình, dòng họ, nên phải lo chữa bệnh, phải thực hiện các nghi thức cầu tự ở đình, chùa, miếu... Nếu không sinh đẻ được, thì người vợ phải đứng ra cưới vợ bé cho chồng để có con nối dõi.

Khi mang thai đứa bé, bà mẹ phải thực hiện thai giáo, phải kiêng cữ nhiều điều, không được làm nặng nhọc, không ăn uống những thức ăn có hại, không được nói lời thô tục, phải "giữ mồm giữ miệng", không được "đạp phải lỗ chân trâu", phải ăn trứng gà, uống nước dừa để sinh con có da dẻ hồng hào. Sau khi sinh, nhau đứa trẻ phải chôn cẩn thận ở góc nhà, góc vườn, không để ngấm nước (người ta tin rằng nếu để nhau ngấm nước đứa trẻ sau này sẽ bị ghẻ lở, mụn nhọt). Trước nhà thường treo một nhánh dứa và cục than để làng xóm biết, người ngoài gia đình không được vào nhà khi nhà đó đang có sản phụ trong thời gian ở cữ. Sản phụ phải nằm ở buồng kín trong suốt thời gian ở cữ và còn kéo dài đến khi đứa trẻ đầy tháng, không đụng chạm vào nước lạnh, phải nằm than lửa, phải xoa nghệ khắp người, ăn các loại thức ăn mặn, như cá bống kho tiêu, mắm cái kho muối tiêu, không được ăn các thứ thức ăn loãng, như cháo, canh..; thức uống là nước vỏ dền, hoặc là vằng/dằng (nên mới có câu: "Mẹ sinh mang nặng đẻ đau/Ăn cay uống đắng biết bao ân tình"). Ngày nay, sản phụ cũng đã ăn uống có nhiều chất dinh dưỡng hơn, nhiều người không còn nằm lửa than khi ở cữ mà chỉ cần uống thuốc Bắc; tục treo dứa và than cũng ít nơi còn; khi sinh con cũng hiếm có người nào sinh tại nhà mà đến các cơ sở sản khoa.

Cữ con trai là 7 ngày, cữ con gái là 9 ngày. Vào ngày đầy cữ, gia đình phải lo cúng đầy cữ, còn gọi là cúng mụ (12 bà mụ). Nhiều gia đình, sau khi sinh con còn cúng gia tiên, cúng thổ công, cúng ở đình làng (nếu là con trai). Vào ngày đầy tháng, gia đình cũng làm lễ cúng gia tiên, thổ công, mời bạn bè, hai bên cha mẹ đến ăn mừng; những người đến thăm đều tặng quà cho bà mẹ và đứa trẻ. Vào ngày giáp năm làm lễ thôi nôi. Lễ thôi nôi thường làm nghi thức "thí nhi" (thử trẻ) và đặt tên cho trẻ (có nơi lễ đặt tên được thực hiện cùng lúc với lễ ra cữ, hoặc lễ đầy năm). Tên con không được trùng với tên của ông bà và những người thân thích hai bên nội, ngoại, tên phải theo sở nguyện của cha mẹ, ông bà. Nếu cha mẹ hiếm muộn con cái mà thấy con sinh ra hay ốm đau thì làm lễ bán khoán, gửi tên tuổi con cho thần, phật, đến 12, 13 tuổi thì làm lễ chuộc về. Khi cho con đi đâu xa phải quẹt nhọ nồi trên trán để tránh điều không hay. Khi con hay khóc đêm, ngủ thường giật mình, thì lấy dao, rựa đặt ở đầu giường. Khi đứa trẻ nấc cụt thì lấy lá trầu dán vào trán. Khi hay đái dầm thì lấy con nhện đốt tán bột cho em bé uống, lấy tôm tít luộc cho em bé ăn (ở vùng biển)...

Hôn nhân

Ngày trước, việc cưới hỏi phải theo đúng tập tục được quy định trong hương ước của làng. Nhiều bản hương ước còn lại cho biết, con gái phải 15 tuổi trở lên mới được lấy chồng, con trai phải 18 tuổi trở lên mới được lấy vợ, từ lúc đi làm lễ hỏi đến khi cưới không được quá 6 tháng (chiếu theo Hoàng Việt hộ luật, quyển thứ 1, điều 68) (2). Các bản hương ước cũng định rõ, nhà gái không được yêu sách nhà trai trong sính lễ; các thứ "hành trang" như xe ngựa, xiểng, đưa đón dâu... cũng tùy vào sự thỏa thuận của hai bên, và phải báo cho Hương bộ biết, phải khai giá thú và nạp lệ cho làng. Nếu cưới con gái làng khác thì phải tuân theo quy định về hôn lễ của làng nhà gái.

Trong hôn nhân, ngày trước người ta hay tìm chỗ "môn đăng, hộ đối". Cũng có trường hợp việc hôn nhân được đính ước khi con còn nằm trong bụng mẹ, nhưng trường hợp này không nhiều. Vợ chồng thường hơn kém nhau chừng vài ba tuổi. Ngày nay, việc quyết định lấy nhau chủ yếu phụ thuộc vào tình yêu của trai, gái, hiếm khi còn chuyện cha mẹ ép gả con cái. Trước khi tiến hành việc hôn nhân, gia đình nhà trai thường thử "bắn tin" để xem gia đình nhà gái có chịu gả con không, rồi thử "chạm ngõ" (xem mặt), xem tuổi (xem có hợp tuổi không). Trước đây, để tiến hành chuyện hôn nhân phải qua các nghi lễ: lễ nạp thái, lễ vấn danh, lễ nạp cát, lễ nạp tệ, lễ thỉnh kỳ lễ thân nghinh (các nghi thức này nay cũng đã giảm nhiều). Khi gia đình nhà gái đồng ý thì tiến hành làm ngay lễ sơ vấn (dạm hỏi). Lễ sơ vấn phải có người làm "mai dong" (thường là người phụ nữ có uy tín trong làng). Ngày nay lễ sơ vấn (hay vấn danh) cũng đã lược bỏ, việc nhờ mối lái cũng ít dần, mà thường là tiến hành một lễ thức trước lễ cưới, đó là lễ hỏi. Lễ hỏi (hay nạp tệ, đính hôn) là lễ thức chính thức công nhận con dâu, con rể. Họ nhà trai mang lễ vật đến họ nhà gái (trầu cau, rượu, chè, bánh trái, bông tai, nhẫn cưới...) để làm lễ hỏi vợ cho con, cháu, và đôi bên cùng chọn "ngày lành tháng tốt" để tổ chức lễ cưới. Thời gian tổ chức lễ cưới tùy thuộc vào hai gia đình và còn tùy thuộc vào "ngày giờ tốt". Vào ngày cưới, họ nhà trai thường là 6 - 8 cặp, mặc các bộ lễ phục (ngày xưa nam mặc áo dài, quần trắng, khăn đóng, nữ mặc áo dài, quần đen hoặc màu), tay cầm dù, đeo nhiều loại trang sức; ngày nay nam thường quần áo véttông, nữ mặc quần áo dài, mang theo sính lễ đến nhà gái. Giờ xuất hành, giờ nhập gia (nhà gái) phải chọn đúng giờ tốt. Ngày trước, để đón họ nhà trai, hoặc rước dâu về còn có đốt pháo, nay có nơi dùng bong bóng châm cho nổ để thay pháo. Lễ vật được bày biện lên bàn thờ tổ tiên có sự chứng kiến của họ hàng hai bên, rồi hai họ làm lễ trước bàn thờ nhà gái, kính cáo tổ tiên, trao nhẫn cưới, chụp ảnh, quay phim kỷ niệm... Đại diện nhà gái nói lời gửi gắm con gái, đại diện nhà trai đáp từ, hai bên nhận dâu, nhận rể, rồi bước vào tiệc cưới. Đúng giờ tốt làm lễ đưa dâu. Bên nhà gái cũng có 6 - 8 cặp nam nữ đưa dâu đến nhà trai. Tại đây họ cũng làm lễ tại bàn thờ gia tiên nhà trai, kính cáo tổ tiên biết là trong gia đình từ lúc này trở đi đã có thành viên mới. Nhà gái thường làm lễ "nhóm họ" vào ngày trước khi làm lễ đưa dâu, nhà trai chiêu đãi họ hàng sau khi rước dâu về. Ở một số làng quê hiện nay, gia đình có cưới không phải đi mời nhiều, họ hàng tự đến giúp lo việc nấu nướng, trang trí, và ăn cưới, chúc mừng, còn lại, phổ biến hơn, là phải đi mời bà con, bạn bè thân thiết bằng miệng, hoặc phải có thiệp mời ăn cưới. Thiệp cưới được in bằng giấy thơm, gồm một bộ: tờ báo hỉ và thiệp mời. Ở thành phố, thị trấn, tiệc cưới thường được tổ chức ở các nhà hàng, khách sạn. Có đám cưới phô trương mời đến hàng ngàn khách, thậm chí mời cả những người quen chỉ ở mức sơ giao.

Tang ma

Xưa kia, người già thường chuẩn bị cho mình quan tài, đồ liệm, lúa gạo, sinh phần, chia gia tài cho con cháu để chủ động phòng hờ việc từ trần của mình khỏi đột ngột cho con cháu. Trước đây, khi một người chết, gia đình và họ hàng phải thực hiện đầy đủ các nghi lễ theo "Thọ Mai gia lễ" và theo những điều quy định trong hương ước. Mặc dầu cũng đã giản lược, nhưng trong tang lễ hiện nay thường vẫn phải thực hiện các bước theo phong tục cổ truyền. Tìm sinh khí, tức khiêng người chết đặt xuống đất với hy vọng nhờ sinh khí dưới đất mà người chết sẽ hồi sinh; chiêu hô, tức hô to để gọi người chết 3 lần (nay nghi thức này ít nơi còn); lập tang chủ và chủ phụ (thường con cả là tang chủ); nhờ người làm hộ lễ, tức nhờ người chỉ dẫn tang gia trong việc làm lễ tang, xem ngày giờ nhập quan, động quan...; mộc dục, tức là nghi thức tắm gội cho người chết; phạn hàm, tức lấy gạo nếp, tiền bỏ vào miệng người chết rồi phủ mặt lại; nhập quan là đặt người chết vào quan tài sau khi việc khâm liệm hoàn tất (trước đây còn làm lễ phạt mộc, tức chém vào áo quan 3 nhát để trừ tà ma); lễ thành phục là lễ bắt đầu và chính thức trong tang lễ, con cháu phải mặc áo tang quỳ lạy trước linh cữu (nhiều đám tang rước thầy tăng tham gia lễ này, nhất là trong tang lễ các gia đình theo đạo Phật). Sau lễ thành phục mới đến lễ viếng. Có nhiều lễ tang linh cữu được quàn tại nhà riêng hoặc nhà tang lễ đến 4 - 5 ngày (vì không được ngày tốt để chôn mà theo quy định hiện nay thì chỉ không quá 48 giờ!).

Khi đã đúng ngày giờ làm lễ phát dẫn, tức lễ đưa đám, người ta làm lễ động quan. Sau khi quan tài dịch chuyển người ta đập bể một cái trả bằng đất với quan niệm xua quỷ trừ tà còn lẩn quất trong nhà (nay một số nơi đã bỏ lễ tục này). Họ hàng, thân quyến, bằng hữu thân thiết đều đi đưa tang, gọi là tống tang. Khi đưa linh cữu ra huyệt mộ, thường là phải khiêng, có khi hàng chục cây số. Ngày nay, nhờ thuận tiện đường giao thông và các phương tiện vận chuyển như xe tang nên thường đi bằng xe đưa tang. Ngày trước trong lễ tống tang, con trai trưởng phải chống gậy trúc (tang cha), hay gậy vông (tang mẹ). Nếu đi tới là tang cha, nếu đi lui là tang mẹ (cha đưa, mẹ đón). Ngày nay, ít thấy nơi nào còn chống gậy trúc hay gậy vông. Huyệt mộ thường được chọn sẵn trong nghĩa địa của làng. Nhiều họ còn có khu nghĩa địa riêng của họ. Nghi thức đưa quan tài xuống huyệt gọi là lễ hạ rộng. Sau khi hoàn tất việc chỉnh hướng quan tài, những người trong gia đình sẽ bỏ vào huyệt mộ nắm đất đầu tiên, sau đó đến họ hàng, bằng hữu, rồi mọi người ra về, trừ những người lo việc đắp mộ và một vài người trong gia đình (3).

Lễ mai táng được thực hiện xong là đến lễ ngu tế (4), gồm có sơ ngu (ngày thứ 1), tái ngu (ngày thứ 2), tam ngu (ngày thứ 3). Mục đích làm lễ tế ngu là làm cho hồn phách người chết được yên ổn phía bên kia thế giới. Sau 3 ngày làm lễ mở cửa mả, 49 ngày làm lễ chung thất. Nhiều gia đình còn làm chay trong lễ chung thất, cầu mong cho linh hồn người chết được siêu thoát. 100 ngày làm lễ tốt khốc (thôi khóc). Một năm sau, làm lễ tiểu tường, là lễ giỗ đầu đúng vào ngày người chết năm trước (theo âm lịch). Trong ngày giỗ đầu, con cháu có thể bỏ bớt các loại xô gai trong tang phục, đặc biệt là con, cháu gái. Hai năm sau làm lễ đại tường, giỗ hết, giỗ đoạn tang. Ba năm sau làm lễ trừ phục, con trai, vợ hoặc chồng người chết làm lễ mãn tang (tuy gọi là 3 năm, nhưng thực chất chỉ 24 tháng là mãn tang/mãn khó). Bắt đầu sau lễ thức này, hàng năm vào trước 1 ngày người chết (ba năm trước) người ta làm giỗ (tức là giỗ vào ngày người chết còn sống trước đó). Đây là điểm khác biệt so với nhiều địa phương khác.

1.2. MỘT SỐ HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG KHÁC

Thờ cúng tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của người Việt nói chung, người Việt ở Quảng Ngãi nói riêng. Đến nay dường như hiếm có gia đình nào của người Việt ở Quảng Ngãi lại không có bàn thờ tổ tiên trong nhà, trừ những gia đình theo đạo Công giáo. Vào ngày sóc vọng, đi xa, cưới hỏi, mừng thọ, đỗ đạt, nhất là vào ngày giỗ, tết, gia đình thường làm lễ tế tổ tiên. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa chứa đựng nhiều giá trị: giá trị nhân văn, giá trị giáo dục đạo đức... Tín ngưỡng này cũng chứa đựng nhiều lớp văn hóa: tín ngưỡng "hồn linh" (với quan niệm người đã chết rồi nhưng linh hồn vẫn còn đâu đó); sự tỏ lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; tín ngưỡng cầu mưa, cầu mùa..., nhưng hạt nhân hợp lý nhất của tín ngưỡng này chính là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của người Việt.

Trong nhà, bàn thờ bao giờ cũng được đặt nơi trang trọng nhất của ngôi nhà. Nếu gia đình nào đặt bàn thờ không đúng nơi trang trọng trong gia đình thì thường bị chê trách, bởi như vậy là không tỏ lòng tôn trọng ông bà, cha mẹ. Những gia đình khá giả thì tủ thờ được làm bằng gỗ quý, cẩn xà cừ, khảm các hoa văn họa tiết rồng, phụng, mai, lan, cúc, trúc... Hai bên bàn thờ còn có treo liễn đối bằng gỗ, khắc chữ Hán, nói về công ơn ông bà, cha mẹ; phía trên bàn thờ là đại tự, cũng bằng chữ Hán, thường có các chữ: Đức lưu quang, Đức lưu phương, Thế đức lưu truyền... Trên bàn thờ đặt lư hương (người Quảng Ngãi thường chỉ có 1 lư hương, khác với phía Bắc có nhiều lư hương), bộ đồ đèn, lư trầm, bình phong, bình hoa, bài vị, ảnh người đã khuất... Một số gia đình còn có gia phả bằng chữ Hán đặt trên bàn thờ (ngày nay còn có gia phả chữ Quốc ngữ đánh bằng máy vi tính).

Hàng năm vào dịp kỵ nhật, giỗ chạp, con cháu, bà con dòng họ tề tựu tại nhà thờ chính, nơi có người con trai trưởng phụng tự. Sau khi bày biện các mâm cỗ trên bàn (đặt dưới bàn thờ), con cháu đứng tập trung hai bên để nghe người con trai trưởng (hoặc một người đàn ông lớn tuổi trong tộc họ đọc văn tế, thỉnh mời các các bậc tiền nhân đã quá cố, những người vì nhiều lẽ khác nhau phải rời xa trần thế về dự lễ tế cáo của gia đình và dặn dò con cháu phải tri ân công đức tổ tiên. Mỗi người đều phải quỳ lạy trước bàn thờ tiên tổ. Người được mời ăn cỗ cũng mang theo rượu, bánh, trái cây đến để cúng tế. Đây cũng là dịp để củng cố mối quan hệ giữa những người cùng quan hệ huyết thống, họ hàng và xóm giềng với nhau.

Những dòng họ lớn đều có từ đường, là ngôi nhà tế tự chung của cả tộc họ. Hàng năm, các thành viên trong dòng họ có nghĩa vụ đóng góp để xây dựng, sửa chữa từ đường, lo việc tế tự. Trước năm 1975, mỗi tộc họ đều có ruộng hương hỏa. Việc thu lợi từ ruộng hương hỏa dùng vào các dịp tế xuân, tế thu, hoặc tu bổ từ đường.

Trước năm 1945, gần như làng nào của người Việt ở Quảng Ngãi cũng có đình làng. Đây là "ngôi nhà chung" của nhiều tộc họ trong làng, cũng là nơi dùng để tế tự các bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ trong làng. Việc cúng tế ở làng ngày trước hết sức nghiêm ngặt, được quy định rõ trong các hương ước của làng, về ngày tế, về tọa thứ, về y phục, về vật phẩm... Ngày nay, nhiều đình làng đã bị phá hủy, hoặc hoàn toàn hư hại (5).

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ thức hết sức độc đáo, chỉ có ở huyện đảo Lý Sơn, và vẫn còn lưu truyền trong các tộc họ có người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa, tìm kiếm hải vật, sản vật, tuần phòng và bảo vệ biển Đông, ngay từ thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này. Hàng năm, các tộc họ có người đi lính Hoàng Sa làm lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào ngày 19 - 20.2 Âm lịch - là thời điểm những người đi lính Hoàng Sa thuở trước chuẩn bị lên thuyền ra biển. Ngoài các thành viên trong gia đình, tộc họ, trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa còn có thầy pháp. Lễ vật hiến tế cũng gần giống như lễ hiến tế ông bà tổ tiên, có khác biệt chút ít ở các linh vị, thuyền lễ - là chiếc thuyền làm bằng giấy màu, đế là bè chuối cây, có 4 hình nộm bằng rơm (hình người đi lính Hoàng Sa), củi, gạo, vàng mã... (tựa như thuyền lễ trong lễ tống ôn). Sau khi làm lễ tại nhà thờ tộc họ, mọi người đưa thuyền lễ thả xuống biển, với sự cầu mong những người đi lính Hoàng Sa sẽ tránh được những rủi ro, bất trắc trên biển (là một hình thức cúng thế mạng, tế sống ngày trước), bởi những người đi lính Hoàng Sa thường là một đi không trở lại. Ngày nay, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa chỉ thuần túy là "tế", không có nghĩa "khao" (quân), nhưng tên gọi lễ tế này vẫn là: Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (và cả Trường Sa).

Âm Linh tự ở làng An Vĩnh (Lý Sơn) vốn là một nơi thờ cúng âm hồn, những người không may bỏ mình trên sông, trên biển... như nhiều nghĩa tự khác trong tỉnh, còn phối thờ các chiến sĩ trận vong, các chiến sĩ Hoàng Sa, Trường Sa thuở trước. Tại đây còn lưu một bài văn tế tế lính Hoàng Sa bằng văn nôm cách đây hàng thế kỷ.

 Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ thức văn hóa tín ngưỡng giàu tính nhân văn, có ý nghĩa chính trị, tỏ lòng biết ơn những người con giữ vững lãnh thổ đảo của Tổ quốc. Đây là một mỹ tục cần gìn giữ. Tuy nhiên, cũng cần phải loại trừ bớt những yếu tố phù phép, mê tín kiểu đạo giáo có trong lễ thức này và giáo dục ý thức về chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc.

Thờ cúng Cá Ông

Thờ cúng Cá Ông là một hình thức thờ cúng cá voi và các thủy thần trên biển, do ngư dân các làng, vạn ven biển hàng năm lo việc tế tự vào xuân thu nhị kỳ. Để tri ân Cá Ông cứu mạng, các ngư dân tôn vinh Ông thành thần, các triều đại nhà Nguyễn thường ban các sắc phong thần với nhiều tước vị cho Ông và chuẩn cho nhân dân các làng ven biển phụng thờ. Ngoài việc cúng tế, hàng năm tại lăng Ông còn tổ chức hát bả trạo, múa gươm, diễn các trò diễn dân gian như đua thuyền, lắc thúng, vv..(6)

Thờ cúng nữ thần

Ở Quảng Ngãi hiện nay còn hàng trăm điểm thờ cúng các nữ thần, như: Thiên Y A Na, Ngũ Hành, Thủy Long, Tứ Vị Thánh Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ, U Linh Xạ Nữ vương, Bà Chúa Yàng, Bà Chúa Ngọc, Linh Sơn Thánh Mẫu, Tây Vương Mẫu… nhiều nhất là thờ Thiên Y A Na (ở nhiều nơi, phổ biến là ở ven biển) và Ngũ Hành (thường thờ ở những nơi có làng nghề, buôn bán). Ở Lý Sơn còn có thờ Bà Roi, tên chữ là Phạm Tiên Điều. Nhiều dinh thờ nữ thần còn lưu giữ gần như nguyên vẹn được các cấu kiện kiến trúc, các hoa văn họa tiết được chạm khắc công phu từ hàng vài trăm năm trước, như dinh Thiên Y A Na ở xóm Trung Yên (huyện Lý Sơn) (7), điện Trường Bà (huyện Trà Bồng), dinh Bà ở thôn Yên Phú (xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa,) (6')... Việc tế tự các nữ thần ở các nơi đều theo nghi thức cũ (được quy định trong hương ước), các vật phẩm hiến tế tùy theo mùa và tùy theo điều kiện. Tiêu biểu cho những điểm thờ tự này là dinh Thiên Y A Na ở xóm Trung Yên, dinh Bà Roi (huyện Lý Sơn), dinh Bà Yên Phú (huyện Tư Nghĩa), dinh Thiên Y và Thủy Long ở bên cạnh cửa biển Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ), dinh Thiên Y và dinh Ngũ Hành ở Thanh An và Yên Phú (xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa), miếu Bà Kỳ Tân (huyện Mộ Đức)... Một số dinh, miếu thờ nữ thần còn giữ các thần sắc do các triều vua nhà Nguyễn ban tặng.

Thờ âm hồn

Ở Quảng Ngãi hiện còn hàng trăm nghĩa tự, hầu như mỗi làng xóm đều có một nghĩa t. Đây là nơi thờ những người chết bất đắc kỳ tử, chết sông, chết biển, chết đường, chết chợ... không người hương khói. Nghĩa tự thường có kiến trúc lộ thiên, gồm có ban chánh, hai ban tả ban và hữu ban, ban hội đồng, ban thờ Tiêu Diện (vị thần cai quản âm hồn). Một số nghĩa tự như nghĩa tự Thạch Bi, nghĩa tự An Vĩnh sau này còn lợp mái, xây tường để tiện cúng tế. Cạnh nghĩa tự có trồng một cây gạo, cây đa (thần cây đa, ma cây gạo). Hàng năm vào dịp tháng Hai âm lịch, dịp Thanh minh các làng tổ chức lễ tế âm hồn. Tùy theo điều kiện của làng mà có thể cúng hương hoa trà quả hay tế heo, bò... Hiện nay, nhiều gia đình vẫn còn giữ tục thờ cúng âm hồn vào các ngày sóc, vọng, lễ tết. Khi cúng người ta lập dàn thờ trước sân, trước hè. Có nhà còn dựng sẵn trang thờ âm hồn trước sân.

2. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI HRÊ

2.1. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG TRONG VÒNG ĐỜI NGƯỜI

Người Hrê có nhiều hình thức mang nặng tính nghi lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời người, trong đó chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống có đan xen những hủ tục. Dưới đây là những hình thức tiêu biểu.

Sinh đẻ

Người phụ nữ Hrê luôn kiêng cữ nhiều điều trong lúc mang thai, và được cộng đồng chú trọng ưu ái hơn những phụ nữ khác, như được chia nhiều phần thức ăn trong ngày lễ hội… Khi sinh có bà mụ, là một người có kinh nghiệm trong việc sinh nở, và những người thân cận giúp sức tại nhà sàn (ngày nay nhiều người đã đến trạm xá, bệnh viện). Việc sinh đẻ diễn ra ngay gần bếp lửa của nhà sàn. Để nhờ thần linh giúp sức cho thai phụ và thai nhi, người chủ gia đình làm gà, xôi cúng thần. Khi đứa trẻ sinh ra, bà mụ sẽ cắt rốn đứa trẻ bằng chính con dao xếp thường dùng được hơ nóng qua bếp lửa. Nhau của đứa trẻ sẽ được gói vào mo cau, rồi đem bỏ vào cà-rầng (rừng ma), hoặc dưới gốc cây to trong rừng. Trong thời gian ở cữ, người mẹ kiêng ăn cá niêng, ớt, trứng, thịt gà trắng; uống thuốc từ củ ma-gang. Trước nhà sàn người Hrê lấy nhánh lá gai (hla vrec) cắm báo hiệu kiêng cữ để mọi người trong làng biết không được vào nhà, vì sợ lây bệnh hoặc làm cho đứa trẻ bị kinh động. Sau khoảng một tuần, người mẹ có thể địu con lên rừng, lên rẫy. Đứa bé tròn một tháng tuổi thì được cắt tóc sạch sẽ. Khi tròn ba tháng thì làm lễ đặt tên. Tên của đứa trẻ không được trùng với tên của ông bà, cha mẹ, những người thân thuộc trong họ hàng. Người Hrê cũng chú ý tên nựng, tên yêu đối với con cháu, như Y Iêng, Y Nga, Y Nuq... cho con gái; Oong, Éo… cho con trai. Trong lễ đặt tên phải cúng gà trắng cho các nữ thần Y Côh, Y Cah - là những vị thần nặn ra đứa trẻ trong bụng.

Trước đây, do khâu vệ sinh trong sinh nở không kỹ lưỡng, việc chăm sóc chưa chu đáo và việc cho con ra ngoài nắng gió quá sớm... nên tỷ lệ trẻ bị chết yểu khá cao. Ngày nay, nhờ việc tuyên truyền về sức khỏe sinh sản nên việc sinh đẻ của người Hrê đã có nhiều tiến bộ so với trước.

Hôn nhân

Ngày trước, người đàn ông Hrê có thể lấy một hay nhiều vợ, nay tập tục ấy đã giảm. Mô hình một vợ một chồng đã phổ biến ở khắp các plây của người Hrê. Con trai con gái đến khoảng 15, 16 tuổi là có thể tính đến chuyện hôn nhân. Việc chọn lựa chủ yếu dựa trên tình cảm giữa trai và gái. Chuyện cha mẹ ép buộc trong hôn nhân đã lùi vào dĩ vãng. Những người trong quan hệ huyết thống gần, chưa quá 3 đời theo họ mẹ, chưa quá 4 đời theo họ cha, thì không được lấy nhau. Khi hai người con trai và con gái đồng ý ưng nhau, sẽ có bà mối hoặc ông mối, đến nhà cô gái thưa chuyện. Nếu gia đình nhà gái đồng ý thì hai gia đình sẽ tiến hành các nghi lễ trong hôn nhân.

Trong nghi thức cưới, người Hrê coi trọng làm lễ ăn thề và chúc tụng. Thầy cúng sẽ bắt một con gà trống đen, dùng chân gà cào vào mình vào đầu cô dâu chú rể, sau đó cắt tiết gà nhỏ lên đầu hai người. Trong lúc làm nghi thức này, thầy cúng luôn khấn cầu thần linh cho hai người luôn được khỏe mạnh, thương yêu nhau suốt đời, sinh đẻ nhiều, làm được nhiều lúa gạo; mọi người trong gia đình chúc tụng cô dâu và chú rể. Sau khi con gà luộc chín, thầy cúng sẽ đưa cho mỗi người một cái đùi gà, một nắm cơm, một miếng trầu. Chàng rể và cô dâu sẽ đổi đùi gà và nắm cơm cho nhau, rồi ăn hết cơm và đùi gà, sau đó ăn trầu. Có nơi cô dâu và chú rể không ăn cơm mà bỏ vào chén cất kỹ. Nếu sau này mà không ở với nhau được nữa thì họ sẽ lấy chén cơm ấy trao lại cho nhau, coi như là đã "gỡ lời thề". Cũng có nơi thầy cúng còn đưa cho mỗi người một chén rượu, sau đó hai người sẽ ngậm rượu phun vào nhau.

Sau lễ ăn thề và chúc tụng là lễ rước dâu, hoặc rước rể. Người Hrê không đặt nặng việc con dâu phải ở nhà chồng, mà tùy điều kiện và sở thích của con dâu và con rể, muốn ở phía cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ đều được. Lễ rước dâu hoặc rước rể không có đông họ hàng, chỉ có chú rể và cô dâu cùng vài bạn bè đi theo. Sau đó là lễ ăn mừng. Lễ ăn mừng cưới không nhất thiết phải ngay sau lễ ăn thề. Tùy điều kiện gia đình mà có thể tổ chức vào vài ngày hoặc vài tháng sau. Khi đến ăn mừng cô dâu chú rể, họ hàng, làng xóm có thể mang theo gạo, rượu, trầu... để góp cùng gia đình, không có lệ đi đám bằng tiền. Trong lễ ăn mừng này, gia đình có thể làm heo, gà, dê... tùy theo điều kiện kinh tế của từng gia đình.

Ngày nay, nhiều plây của người Hrê cũng đã tổ chức ăn mừng lễ cưới như người Việt; có cả thuê bàn ghế ở các thị trấn, thị xã, có âm thanh bằng loa, chơi nhạc bằng đàn điện tử, có đi đám cưới bằng phong bì... Tuy nhiên, dù là có làm cưới theo lối "hiện đại", thì lễ ăn thề và chúc tụng nhiều nơi vẫn còn thực hiện theo nếp cũ.

Tang ma

Dưới mỗi ngôi nhà sàn của người Hrê thường có một quan tài bằng gỗ, là một khúc cây to, được đẽo rỗng trong ruột, có nắp đậy, hình thuyền. Đó là khâu chuẩn bị quan trọng của gia đình dành cho người già khi biết người già sắp về với tổ tiên.

Người chết sẽ được đặt trên nhà sàn. Nếu là người chủ gia đình sẽ được đặt tại cột thiêng. Mọi người đến viếng đều mang theo rượu, gạo để giúp cho gia đình và chia cho người chết. Bên cạnh người chết là một vò rượu, một rá cơm, một đĩa thịt heo. Người đến viếng lấy rượu, cơm, thịt bỏ vào miệng người chết một chút làm phép, sau đó tự uống. Coi như ăn uống một lần cuối cùng với người chết. Tập tục này nay cũng đã giảm nhiều. Trong lễ tang của người Hrê còn có tục chia của (ha nua). Để chia của, người Hrê phải làm một con trâu, một con heo, một con gà. Con trâu dùng để chia của không phân biệt to nhỏ, béo hay gầy, mà tùy thuộc vào quẻ bói giò gà của thầy cúng. Nếu bói trúng quẻ là người chết đòi ăn con trâu đang mang thai thì cũng phải đâm con trâu đó để chia cho người chết. Đây là một tập tục còn lạc hậu. Lễ đâm trâu chia của có rất nhiều điểm khác biệt so với đâm trâu hiến tế thần linh trong lễ hội ăn trâu (ká kapơ).

Người chết sẽ được đưa ra cửa mang, hoặc moóc, tùy vào địa vị của họ trong gia đình (8). Đầu người chết sẽ được đưa ra trước, và cứ thế khiêng ra mộ. Bà con, họ hàng, làng xóm đi theo đưa tang. Phụ nữ thì luôn hát những bài hát khóc kể về tài, đức, công lao... của người vừa chết. Người chết sẽ được chôn trong cà rầng (rừng ma). Khi hạ quan tài mọi người khóc lóc thảm thiết. Trước khi chôn, người ta mở nắp quan tài để mọi người nhìn mặt lần cuối cùng và bỏ vào trong quan tài một vài nắm cơm, cho người chết "uống" thêm vài ly rượu cộng cảm. Người ta sẽ làm ngay nhà mồ khi vừa chôn xong người chết. Nhà mồ có kiểu dáng giống như một ngôi nhà thu nhỏ, có biểu tượng sừng trâu trên mái, có khắc nhiều hoa văn họa tiết (9). Trên đầu nhà mồ người Hrê cắm sừng trâu, các xâu thịt tượng trưng cho các bộ phận con trâu được treo chung quanh; chiêng, ché, chén bát, nồi, rìu, rựa, cuốc... được đặt chung quanh hoặc bên trong nhà mồ, là những thứ của chia cho người chết. Bốn phía nhà mồ người ta còn trồng các loại cây, như dứa, chuối, chè... Người Hrê còn đem gà con chia của cho người chết. Một vài con được vặt cổ chôn dưới đất, một vài con thả chạy quanh mộ. Khi chôn cất, làm nhà mồ và chia của xong, những người đưa đám quay trở về. Từ thời điểm đó trở đi phụ nữ tuyệt đối không được khóc lóc nữa. Nhà có người chết từ đó trở đi cũng phải kiêng cữ nhiều điều, như không được sang nhà người khác vào dịp lễ tết, không chơi chiêng trong một năm... Thịt trâu trong lễ đâm trâu chia của sẽ được chế biến làm thức ăn cho họ hàng, và chia phần cho thầy cúng, những người họ hàng thân thích đến giúp làm lễ tang và chia buồn.

Nếu là trẻ sơ sinh chưa kịp bú mẹ mà chết thì người nhà sẽ bỏ xác trẻ vào mo cau và đem treo lên cây cao (hình thức không táng), không có lễ chia của. Đây là loại "ma" mà người Hrê cũng như các tộc người miền núi ở Quảng Ngãi nói chung rất sợ hãi. Hiện nay, tục táng thức này dường như đã được bỏ hẳn.

2.2. MỘT SỐ HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG KHÁC

Ngoài các hình thức lễ tết, lễ ăn trâu (sẽ trình bày trong Chương XXIV: Lễ hội) và các lễ thức chung quanh vòng đời người nói trên, người Hrê còn có các hình thức tín ngưỡng khác sẽ được đề cập dưới đây:

Cúng gọi hồn

Tiếng Hrê nghi lễ cúng này là dăk ma-hua măng-lơn, tức gọi hồn dưới địa ngục. Trong gia đình có người đau ốm nặng mà thấy khó khỏi thì người Hrê làm nghi lễ gọi hồn, vì cho rằng ma quỷ ở dưới măng-lơng (địa ngục, âm phủ) đã gọi hồn người ốm phải về "dưới đó". Thời gian tổ chức lễ cúng tùy theo sự chọn lựa của thầy cúng. Nếu một người trong nhà ốm nặng thì cúng một con gà (nam gà trống, nữ gà mái); nếu cả nhà đều ốm thì phải cúng bằng heo. Có hai hình thức cúng gọi hồn: 1) Nếu do hoảng sợ mà đau thì cúng krê, tức cúng sợ, là lễ cúng mời Voăk Krê, và Dăk Krê (Ông Sợ, Bà Sợ) về giúp đỡ, giúp người đau lấy lại hồn vía; 2) Nếu đau ốm nặng nghi là bị gọi về âm phủ thì phải khấn tế các thần linh ở dưới âm phủ là các vị thần nam nữ Măng-lơng, thần Bếp (Hmu-Păng-Đheng). Nghi thức này phức tạp hơn cúng krê, phải lấy dây buộc hồn lại. Trong lễ ăn trâu của người Hrê cũng dùng nghi thức này.

Cúng nước mạch

Tiếng Hrê nghi lễ này là điếc mang, là cúng ở chỗ nguồn nước suối hàng ngày trong nhà đến đó lấy về để uống, để nấu ăn. Vào dịp tết năm mới, lễ ăn giống lúa thừa, lễ hội ăn trâu đều có cúng nước mạch. Trước khi thực hiện lễ cúng, những người trong gia đình phải đến dọn dẹp chỗ nguồn nước sạch sẽ, làm các đàn cúng, cây nêu (nhỏ). Khi khấn cúng nước mạch, thầy cúng phải mời gọi các thần Va Da, thần Kan Kiếk về tham dự, ăn những thứ lễ vật mà gia đình dâng cúng, như thịt gà, xôi, bánh, đặc biệt là phải có các lễ vật: một nắm gạo, một bát nước, một miếng trầu (và cau).

Nếu làng cúng nước mạch, thì già làng là người đứng ra lo tổ chức cho các thành viên trong làng thực hiện nghi lễ này, như dọn dẹp chỗ nguồn nước của làng, lo mọi thứ lễ vật, mời thầy cúng đến làm lễ cúng.

Cúng lúa mới

Tiếng Hrê cúng lúa mới là kăq-qmao meo. Các dân tộc ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung, dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi nói riêng đều cho rằng, lúa có hồn (mơ hua), nên vào mùa thu hoạch lúa các gia đình đều làm lễ cúng lúa mới. Để chuẩn bị cho gia đình cúng lúa mới, ngoài việc nấu ủ rượu cần bằng gạo lúa cũ, bà chủ gia đình phải ra ngoài ruộng (nếu là ruộng nước), hoặc ra ngoài rẫy (nếu là lúa rẫy) cắt phép những bông lúa chín đem về nhà vò bằng chân, rang khô rồi giã gạo, sau đó đem nấu bằng niêu đất.

Khi cúng lúa mới thầy cúng phải khấn mời Yang Xơri (thần Lúa). Vì Yang Xơri là nữ thần nên khi cúng phải cúng bằng một con gà mái, kiêng cúng gà trống. Cúng thần Lúa là một nghi lễ được tổ chức bên chòi lúa hoặc bên bếp lửa nhà sàn. Thầy cúng vắt 3 nắm cơm mới đã nấu chín, rồi cắt gan gà bỏ lên trên từng nắm cơm, rót rượu cúng. Khi mọi thành viên trong gia đình tập trung đông đủ, thầy cúng bắt đầu khấn tế và mời thần Lúa về dự lễ cúng. Cúng xong thầy cúng chia đều cho các thành viên trong gia đình ăn phép.

Ngoài các lễ vật chính để cúng như trên, người Hrê còn làm heo, gà để chiêu đãi họ hàng. Khi rượu ngà say, các loại hình sinh hoạt văn nghệ truyền thống được tiếp nối, như hát ca lêu, ca choi, chơi các loại nhạc cụ... Nhưng các hình thức diễn xướng này thường chỉ bó hẹp trong không gian nhà sàn, nên lễ cúng lúa mới chưa trở thành một lễ hội - tức một sinh hoạt văn hóa chung, là "thời điểm mạnh" của cộng đồng plây.

Cúng tổ tiên

Cũng như các dân tộc khác ở Quảng Ngãi, người Hrê cũng thờ cúng tổ tiên (tajeo phăk), nhưng không đậm nét như người Việt. Người Hrê không có bàn thờ thờ tổ tiên riêng trong nhà. Khi trong nhà gặp phải rủi ro, hoạn nạn, hoặc ông bà báo mộng là muốn được ăn cúng, thì gia đình phải lo cúng tế. Để cúng ông bà, người Hrê phải lo mọi thứ lễ vật, rồi xin ý kiến pơdâu (thầy cúng) định cho ngày giờ cúng.

Vì không có bàn thờ, nên trước khi cúng, người Hrê phải làm đàn cúng ngoài sân, phía trước ngôi nhà. Đàn cúng ngoài sân cũng giống với các đàn cúng dùng để cúng ở máng nước, ở ngã ba đường, ở đường vào rừng..., nhưng thường có quy mô lớn hơn. Đàn cúng có 3 tầng: tầng cao nhất là tầng hlook, nơi thần Núi (Purai) đáp xuống dự lễ; tầng thứ hai là tầng dành cho các vị cận thần của thần Núi; tầng thứ ba là tầng dành cho tổ tiên, ông bà.

Lễ vật hiến tế trong nghi lễ cúng ông bà là một con heo cái còn tơ. Máu của con heo sẽ được bôi trên đàn cúng. Các bộ phận trong lòng con heo, đầu đuôi thủ vĩ (mỗi thứ một ít) sẽ được bày biện trên 3 tầng của đàn cúng. Trước đàn cúng thầy cúng cùng các thành viên trong gia đình sẽ thực hiện nghi lễ cúng tổ tiên.

3. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI COR

3.1. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG TRONG VÒNG ĐỜI NGƯỜI

Sinh đẻ

Xưa kia, do đời sống còn nhiều khó khăn, thiên tai dịch bệnh thường xuyên xảy ra nên người Cor ở Quảng Ngãi rất chú trọng đến việc sinh con đẻ cái, bởi đó sẽ là nguồn nhân lực trong gia đình và cả cộng đồng. Vì thế khi mang thai, người mẹ luôn được gia đình và cộng đồng ưu ái, như được chia nhiều phần thức ăn trong lễ hội, không phải làm những việc nặng nhọc, đồng thời phải kiêng cữ nhiều điều, như không được để nhìn thấy rắn, rết, rùa, khỉ... vì người ta tin rằng khi nhìn thấy những con vật đó đứa con được sinh ra sẽ xấu xí như vậy, và mặt khác, người mẹ sẽ hoảng sợ, mà khi đã hoảng sợ thì sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Khi có thai, người phụ nữ cũng không được ăn thịt bò, vì ăn thịt bò thì con sinh ra sẽ có yếm như cổ bò! Người chồng cũng không được đan lồng gà, không được lắp cán rìu..., vì như thế đứa con sinh ra cái đầu sẽ to như lồng gà, lỗ mũi sẽ to như lỗ cán rìu!... Nói chung là cả vợ lẫn chồng đều phải kiêng cữ.

Cũng như người Hrê, người phụ nữ Cor khi sinh con thường sinh ở gần bếp lửa nhà sàn, có bà mụ giúp sức (một hay có thể hai, ba người). Bà mụ thường là người lớn tuổi, có kinh nghiệm sinh đẻ sẽ giúp cho thai phụ trong tuần đầu tiên ngay từ khi chuẩn bị sinh. Khi sinh con, người phụ nữ phải bám vào cái dây được thả xuống từ trần nhà, hai chân quỳ xuống. Sau ba ngày sinh nở, gia đình tổ chức lễ cúng bà mụ. Các lễ vật cúng tế cho bà mụ gồm: một con gà mái tơ màu đen, cơm, rượu. Khi hết cữ (7 ngày), sản phụ có thể đi làm bình thường, có thể địu cả đứa con mới đẻ theo. Buổi đi làm đầu tiên sẽ có các bà mụ, cha đứa trẻ và một đứa con gái nhỏ giúp đỡ. Cũng từ đó trở đi, mọi kiêng cữ của thai phụ chấm dứt (10).

Người Cor đặt tên con không trùng với tên cha mẹ, ông bà và những người trong dòng họ. Nếu là con trai đầu thì gọi yêu là ây ca, con gái đầu gọi là mư ây, con trai thứ là mơ oh, con gái thứ là mư ơh.

Hôn nhân

Trong xã hội truyền thống của người Cor ở Quảng Ngãi, khi con trai con gái đến tuổi dựng vợ gả chồng (trai từ 18 tuổi, gái 15 - 16 tuổi), thì cha mẹ tính chuyện hôn nhân cho con trai, con gái mình. Gia đình nhà trai sẽ xem các cô gái trong làng, nếu thấy cô gái nào vừa ý thì sẽ hỏi ý kiến con trai mình. Nếu thấy con trai đồng ý thì họ sẽ dò xem cô gái đó và gia đình nhà gái có đồng ý không. Khi thấy gia đình cô gái và cô gái đó có vẻ ưng thuận thì gia đình nhà trai sẽ nhờ một ông mối (cho habốt kachi) tìm đến nóc có gia đình nhà gái sinh sống để bắt chuyện với một người lớn tuổi có uy tín trong nóc đó. Người lớn tuổi ở nóc có nhà cô gái ở sẽ là người mối thứ hai. Nhờ hai ông mối này mà cuộc hôn nhân có thể dễ dàng tiến hành sau đó. Mọi thứ lễ vật hay diễn trình của lễ cưới đều qua trung gian hai ông mối này.

Lễ cưới của người Cor thường được tổ chức trong ba ngày. Vào ngày cưới thứ nhất (hoi li kdi klao), họ nhà trai sẽ có một đoàn khoảng 20 - 30 người, gồm những người họ hàng thân tộc (cha mẹ không được đi rước dâu) và ông mối, cùng chú rể đến nhà cô gái với đầy đủ lễ vật như vòng đồng, vòng bạc, cườm, bánh trái... Chú rể đóng khố, mặc áo choàng, đeo vòng cườm, vai mang gươm. Nhà gái đón tiếp nhà trai trước ngõ. Bố mẹ nhà gái mời nhà trai ăn trầu hút thuốc, thăm hỏi sức khỏe và mời vào nhà. Tại đây hai họ sẽ làm lễ ăn thề. Lễ vật dùng trong lễ ăn thề là một con gà, một rá cơm, một cơi trầu. Ông mối nhà gái là người điều hành nghi lễ này. Ông khấn mời thần linh và tổ tiên chứng kiến cô dâu chú rể làm lễ ăn thề, và nói những lời chúc mừng. Cô dâu bốc một nhúm cơm bỏ lên đầu chú rể 3 lần và chú rể cũng lấy nhúm cơm bỏ lên đầu cô dâu 3 lần. Sau đó họ cùng bốc cơm ăn 3 lần (dâu ăn trước, rể ăn sau). Tối hôm đó họ nhà trai sẽ được chiêu đãi và ngủ lại tại nhà gái.

Vào sáng hôm sau, hai họ tiến hành lễ rước dâu. Cô dâu sẽ mặc quần áo theo lễ phục truyền thống, trang điểm vòng đồng, vòng bạc, cườm cổ, cườm tay... Nhà gái cũng cử một đoàn đưa dâu, có cả ông mối nhà gái. Tại nhà trai, ông mối nhà trai sẽ điều hành nghi lễ cúng tổ tiên và các vị thần linh chứng kiến lễ cưới của đôi vợ chồng trẻ. Nhà trai chuẩn bị rượu thịt mời họ nhà gái ăn uống. Ăn uống xong, gia đình nhà trai tiễn họ nhà gái và cô dâu về. Sau khi họ nhà gái đã về, chàng rể cởi lễ phục ngày cưới, chỉ mặc bộ khố áo bình thường, lấy gùi bỏ lễ vật đến nhà gái để đón vợ về. Lễ vật là gạo, bánh, thịt (một số thịt chuột, đùi heo, bánh nếp được gói bằng lá đoak...). Cùng đi với chú rể có ông mối nhà trai và một số họ hàng như lần trước. Nhà gái sẽ dùng số lễ vật của nhà trai để cúng ông bà, các vị thần linh. Tối hôm đó (ngày thứ 2), họ nhà trai lại được chiêu đãi, và lại ngủ tại nhà gái thêm một đêm nữa. Sáng hôm sau, họ nhà trai xin phép gia đình nhà gái đón cô dâu về. Kể từ giây phút cô dâu về nhà chồng (lần thứ 2), cô dâu trở thành thành viên chính thức của nhà trai. Công việc đầu tiên của cặp vợ chồng mới là phải ra sông, suối để bắt cá phép.

Toàn bộ nghi thức cưới hỏi đến đó coi như đã hoàn tất. Tuy nhiên sau lễ cưới, họ nhà trai, cô dâu, chú rể cũng còn phải làm lễ phản diện (hớp bô dék). Khoảng một năm sau ngày cưới, họ nhà trai lại mang lễ vật đến nhà gái để thăm hỏi. Một năm sau nữa, họ nhà gái cũng mang lễ vật đến nhà trai đáp lễ. Với người Cor, nếu không thực hiện 2 lễ thức này thì hai bên sui gia sẽ không gắn bó mật thiết với nhau. Nếu hai bên nhà trai nhà gái không thực hiện 2 nghi thức này thì khi gia đình bên nào có gặp đau ốm, tang ma, cưới hỏi..., hoặc tổ chức lễ ăn trâu, hai bên cũng không qua lại thăm viếng, trừ con rể, con dâu của họ.

Tang ma

Cũng như người Hrê, đối với những người già yếu, bao giờ gia đình người Cor cũng chuẩn bị sẵn cỗ quan tài. Quan tài thường làm bằng gỗ giổi hoặc gỗ xoan đào, là một khúc gỗ nguyên khối, khoét rỗng bên trong, có nắp đậy.

Người chết sẽ được tắm rửa sạch sẽ, mặc vào người những bộ y phục truyền thống đẹp nhất và được đặt nơi cây cột thiêng trong nhà sàn (nếu là nhà trệt thì đặt ở giữa nhà). Họ hàng, xóm giềng đến viếng thì mang rượu, trầu, cau đến làm lễ và chia buồn với gia đình. Xác người chết sẽ được đặt tại nhà 2 - 3 ngày để họ hàng xóm giềng đến viếng và chia buồn.

Trước khi đưa người chết đi chôn, người ta cũng bó xác người chết bằng dây vải màu trắng (hoặc đen) ở 3 phần của cơ thể. Các ngón tay ngón chân cũng được bó bằng vải trắng. Sau khi bó xác xong, người ta mang đặt xác vào quan tài, rồi đưa đi chôn. Phía chân của người chết sẽ được đưa ra trước. Khi khiêng người chết đi, con cháu sẽ thực hiện nghi lễ chui qua dưới hòm người chết một lần.

Người chết sẽ được chôn tại sa lưng (rừng ma). Chôn người chết xong, người Cor cũng làm nhà mồ. Nhưng nhà mồ của người Cor chỉ là một hàng rào bằng tre nứa đơn giản, phía trên lợp tranh, bên trong nhà mồ đặt những thứ của chia cho người chết. Phần của cải dành cho người chết sẽ bị phá hỏng (vì như thế mới mang được về cõi âm). Ngày nay, người Cor còn xây nhiều kiểu mộ giống như các kiểu mộ của người Việt ở Quảng Ngãi, nhất là ở những vùng gần khu vực người Việt cư trú.

Sau khi chôn cất xong người chết, mọi mối dây liên hệ với người chết coi như chấm dứt. Cũng như người Hrê, người Ca Dong, người Cor không làm tuần, không cúng giỗ người đã khuất hàng năm như người Việt. Tuy nhiên, cũng có một số nóc, sau khi chôn cất người chết xong, 7 ngày sau gia đình làm một lễ cúng 1 con heo đực chưa thiến (nhưng chưa "nhảy đực"), rồi cử người ra suối, ruộng, bắt cua, ốc, cá... đem về nhà cúng, khấn vái tên người chết lần cuối cùng. Sau lễ thức này, coi như quan hệ giữa người chết và người sống hoàn toàn chấm hết.

Người Cor cũng phân biệt các hình thức chết khác nhau. Nếu là già chết, hoặc đau ốm chết thì làm lễ tang như trên đã miêu tả, nhưng nếu chết vì hổ vồ, sét đánh hoặc xui rủi vì nhiều lý do khác ngoài đường, ngoài rừng, ngoài sông suối thì người chết chỉ được bó vỏ cây, mặc quần áo rồi đem chôn, không có quan tài.

3.2. CÁC NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG KHÁC

Lễ cúng ông bà

Người Cor không có bàn thờ tổ tiên trong nhà, giống như người Hrê và người Ca Dong. Nhưng khi gia đình có việc gì xui xẻo, hoặc trong nhà đau ốm thường xuyên thì nhiều gia đình tổ chức cúng cầu mong đến ông bà che chở. Có khi vào dịp năm mới, vào lúc làm lễ ngả rạ... người Cor cũng làm lễ cúng ông bà. Mọi lễ thức cúng ông bà (đớp ma kơ ul)cũng giống như các lễ thức cúng ở nguồn nước, cúng ở ngã ba đường. Họ cũng lập đàn cúng và dựng cây nêu nhỏ trước sân, đặt các lễ vật lên các tầng trên đàn cúng. Thầy cúng vào nhà lấy rổ cúng đem ra chỗ đàn cúng đốt hương khấn tế (người Cor không có bàn thờ trong nhà nhưng có một rổ cúng, trong đó bỏ những vật thiêng như nhang, ít tro bếp đặt trên xà nhà; họ cho rằng ông bà ngự trị trên đó).

Lễ cúng ông bà thường có một con heo, 3 con gà (cho ông 1 con, bà 1 con, các thành viên khác đã mất 1 con), cùng rượu, trầu, cau... Thầy cúng dùng lục lạc cúng mời gọi linh hồn ông bà về dự lễ và phù hộ cho gia đình; ông bà và những người đã khuất cần phải "ăn cho no", không được về quấy rầy con cháu.

Lễ ngả rạ

Lễ ngả rạ (saaniq) là lễ thức cúng lúa rẫy vào mùa thu hoạch, thường diễn ra vào tháng 9, tháng 10 âm lịch. Để làm lễ ngả rạ, gia đình phải chuẩn bị các loại lễ vật như gạo, nếp, heo, gà, rượu cần...

Sau 3 lần khấn vái hồn lúa, thầy cúng lấy lục lạc và cườm rung trước đàn cúng gọi hồn lúa về. Xong nghi lễ này, thầy cúng cùng gia đình làm lễ rước hồn lúa về chòi. Để đưa hồn lúa lên chòi, người Cor dùng sợi chỉ trắng thắt đúng 9 bậc từ đất lên cửa chòi. Khi hồn lúa "đã lên chòi", mọi người vào nhà ăn phép các thứ thức ăn đã cúng cho hồn lúa.

Tại nhà, thầy cúng và các thành viên trong gia đình còn làm lễ cúng các thần linh bên bếp lửa bằng các thứ lễ vật đã chuẩn bị, như bánh, nếp..., và đặc biệt là cơm lúa mới. Thầy cúng và chủ gia đình sẽ khấn mời các thần linh về ăn cúng, và cầu mong thần linh luôn phù hộ cho gia đình được khỏe mạnh, hạnh phúc, tránh được bệnh tật, mùa màng được tươi tốt. Sau khi khấn vái, các thành viên trong gia đình sẽ được bỏ trên đầu một ít hạt cơm lúa mới.

Mọi nghi lễ hoàn tất, thầy cúng, các thành viên trong gia đình cùng bà con xóm giềng (được mời) sẽ thưởng thức cơm lúa mới, ăn những thức ăn gia đình đã nấu nướng, uống rượu cần, hoặc rượu đoak.

Khi rượu đã ngà say, họ hát xà ru, a giới, a lát... chơi các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình.

Lễ ngả rạ thực chất cũng giống như lễ ăn lúa mới của các dân tộc ở miền núi trong tỉnh.

Lễ gọi hồn

Người Cor cho rằng, người đàn ông có 18 phol và 18 phươk; đàn bà có 19 phol và 19 phươk. Khi trong gia đình đau ốm thì phải mời thầy cúng đến để cúng gọi hồn. Bởi khi con người đau ốm mà lâu khỏi, thì có khi bị các ma bắt, hoặc có khi bị quỷ dữ ám hại, bắt hồn đi đâu đó. Vì thế, muốn cho người hết đau ốm phải gọi hồn về.

Lễ vật cúng gọi hồn chỉ đơn giản là một con gà, rượu, trầu, cau... Thầy cúng sẽ dùng lục lạc rung bên đàn cúng và cây nêu (nhỏ) được dựng trước sân để gọi hồn.

4. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI CADONG

4.1. PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG TRONG VÒNG ĐỜI NGƯỜI

Sinh đẻ

Bao giờ người phụ nữ Ca Dong mang thai cũng được cộng đồng coi trọng, đặc biệt khi mang thai từ tháng thứ ba trở đi. Khi làng săn bắt được thú rừng, hoặc có hội đâm trâu, người phụ nữ mang thai bao giờ cũng được chia phần riêng để mang về, phần được chia nhiều hơn phần của những người khác. Ngoài việc người phụ nữ phải kiêng kỵ, như các dân tộc Cor, Hrê, thì những người trong làng xóm cũng phải kiêng: không ai được đi ngang qua mặt người phụ nữ mang thai, nhất là không được đụng chạm vào bụng họ. Nếu có ai lỡ chạm vào bụng phụ nữ mang thai thì phải cúng tế cẩn thận, gọi là cúng pa dố.

Không giống như người Việt, khi sinh con so người phụ nữ thường về nhà cha mẹ đẻ để sinh, còn phụ nữ Ca Dong, lẫn phụ nữ Hrê, Cor, có thể sinh con ngay tại nhà cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ chồng. Điều này tùy thuộc vào điều kiện sinh đẻ, hoặc ý nguyện của gia đình, dầu đó là con so. Việc đỡ đẻ nhờ một người phụ nữ có uy tín, có kinh nghiệm trong làng, cũng có khi hai, hoặc ba người giúp đỡ đẻ. Đứa trẻ sẽ được tắm rửa ngay bằng nước suối khi vừa mới sinh ra ở gần bếp lửa của nhà sàn. Trong bảy ngày ở cữ, người mẹ không được di chuyển, kể cả trong nhà.

Lễ đặt tên cho đứa trẻ được thực hiện sau khi trẻ vừa rụng cuống rốn. Gia đình mời một người đàn bà có uy tín nhất trong làng đến để đặt tên cho trẻ, nhưng thường là mời thầy cúng. Nếu là con trai, để gọi yêu, người trong nhà sẽ gọi là xăng hoặc đăm ở trước tên chính; nếu là con gái sẽ gọi là y trước tên gọi chính, để cho các nữ thần trên mặt trăng là Y Kăk Y Ko - là những nữ thần có chức năng tạo sinh ra con người chứng thực. Lễ đặt tên thường diễn ra vào gần nửa đêm. Khi cúng, thầy cúng phải mặc váy, đeo vòng cườm (hóa trang như phụ nữ) để các nữ thần "khỏi e thẹn". Khi đứa trẻ là con trai, thầy cúng lấy một cái nỏ nhỏ, do người bố làm đặt vào tay đứa trẻ, rồi cầm tay đứa trẻ ngắm bắn xuyên qua lá cây. Những chiếc vòng bằng chỉ rực rỡ sắc màu, do người mẹ sắm, sẽ được đeo vào tay đứa trẻ, khi đứa trẻ là con gái... Lễ cúng đặt tên gồm gà mái đen, trầu, cau, thuốc lá... Nếu vì lỡ đặt tên trùng với tên người khác trong họ hàng, đặc biệt là tên người lớn tuổi, thì phải cúng thay tên. Việc thực hiện cúng thay tên cũng do thầy cúng thực hiện, nhưng lễ vật phải có heo, gà... Sau lễ thức này, sản phụ có thể đi lại và làm lụng.

Hôn nhân

Trước đây, chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái đều do cha mẹ quyết định. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Nhưng tập tục này nay đã bãi bỏ. Khi đến tuổi trưởng thành, con trai, con gái Ca Dong tự do tìm hiểu. Khi đã thấy hợp lòng nhau họ trình thưa cha mẹ. Khi hai gia đình thống nhất, họ chỉ làm các lễ thức đơn giản: đầu tiên chú hoặc bác của nhà trai cùng người làm mối (không phân biệt nam nữ) đến nhà gái để thăm, không mang theo gì. Khi nào người con gái trả lời: umi (không biết), thì mới mang trầu cau làm lễ vật. Nếu gia đình nhà gái cũng đồng ý với con, thì hai bên sẽ thực hiện lễ trao vòng.

Lễ trao vòng là lễ thức đơn giản của hai gia đình, diễn ra sau lễ đi thăm. Một người lớn tuổi trong gia đình sẽ đứng ra khấn thần mặt trăng, mặt trời tác thành cho đôi trẻ, sau đó lấy tiết gà làm lễ bót wếch (nhỏ máu gà trên đầu đôi trẻ). Con gà sẽ được làm thịt, hai đùi gà sẽ được chia cho nam và nữ đang quỳ trước mặt mâm lễ, rồi họ trao đùi gà cho nhau và ăn hết đùi gà. Ăn xong đùi gà, họ trao vòng cho nhau. Trao vòng xong, họ cùng ăn trầu, cùng ăn 2 miếng cơm, cùng uống rượu phép với gia đình.

Sau khi đôi trai gái tâm đầu ý hợp nhiều lẽ, gia đình sẽ tổ chức lễ ăn mừng đôi vợ chồng trẻ. Lễ thức này tuỳ theo gia cảnh mà có thể giết heo, hay trâu bò để chiêu đãi họ hàng. Người Ca Dong không có tục mừng cưới bằng quà, hay tiền (nay có nơi cũng đã khác). Mọi chi phí trong lễ cưới đều do chủ nhà lo liệu. Sau khi cưới xong, cô dâu chú rể có quyền ở nhà cha mẹ vợ hay cha mẹ chồng tuỳ thích.

Tang ma

Cũng như người Hrê, người Cor, người Ca Dong ở Quảng Ngãi phân biệt các loại tang ma, tùy theo chết già hay trẻ, hoặc chết trong nhà hay ngoài đường (bất đắc kỳ tử).

Nếu là trẻ sơ sinh chết, lúc chưa kịp đặt tên, chưa đứt rốn (gọi là nấp) thì được táng theo phương thức không táng, tức xác đứa trẻ được buộc bằng mo cau treo trên cây đa, cây si, hay những cây lớn (loang kâng). Đối với trẻ sơ sinh chết thì người Ca Dong không kiêng cữ gì, vì họ quan niệm rằng, đứa trẻ chưa có tên chưa thực sự thành con người. Tục không táng trong cộng đồng các dân tộc miền núi Quảng Ngãi đã giảm khá nhiều.

Người chết không phải bệnh tật ốm đau mà do vì nhiều lẽ khác nhau (gọi chung là pa jing), như chết đuối ở sông, suối, bị cây ngã đè, tự tử…, thì không được đưa xác vào nhà. Mọi nghi lễ đều thực hiện ở đầu làng, rồi đưa xác bỏ vào hốc cây hay hang sâu nào đó trong ha lâng hoặc cà rầng (rừng ma). Sau khi táng, người ta phải làm nhiều lễ thức trừ tà, như giăng dây đầu ngõ để hồn ma khỏi về quấy phá, hoặc dùng kiếm bôi củ nghệ và nhọ nồi để xua đuổi. Người thân trong gia đình có người chết bất đắc kỳ tử phải nghỉ làm việc ngoài rừng, ngoài rẫy 6 ngày, không được tham gia bất cứ cuộc vui nào của cộng đồng.

Cũng như người Hrê và người Cor, trong quan niệm của người Ca Dong, nếu người già yếu hoặc ốm đau chết là chết lành, người ta lo tang ma cho những trường hợp chết vì già yếu hay bệnh tật hết sức chu đáo. Cả làng đều tập trung cho tang lễ. Người chết được đặt trong quan tài là một khúc cây to đẽo hình thuyền. Ai đến viếng đều mời cơm, rượu cho người chết. Khi có người chết trong làng là cả làng đến đóng góp gạo, củi, muối, rượu để lo tang ma. Mỗi người một việc giúp đỡ gia đình có người chết. Phụ nữ còn hát khóc theo một làn điệu cố định, từ lúc người bị chết vừa tắt thở cho đến khi quan tài khiêng ra khỏi làng. Trước đây, sau khi đặt người chết vì già yếu, bệnh tật vào quan tài, người Ca Dong cũng chỉ đem quan tài bỏ vào hang sâu trong cà rầng, rồi chia của cải, nhưng nay người ta đã đào huyệt mộ. Kể từ lúc chôn cất xong, mọi quan hệ đối với người chết coi như chấm dứt, không được khóc lóc nữa, và sau này cũng không cúng giỗ trừ trường hợp được báo mộng, hay gia đình có người thường xuyên đau ốm. Vài ba ngày sau khi chôn, những người trong gia đình chỉ đến thăm một lần nữa rồi bỏ mả luôn, không làm lễ bỏ mả như một số dân tộc ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.

Nếu người chết còn trẻ mà người chồng, hoặc vợ còn sống thì người vợ hay chồng ấy có quyền lấy chồng khác, hay vợ khác, sau lễ tang khoảng một tháng hay một năm, tùy theo ý muốn. Cũng như các dân tộc miền núi láng giềng, người Ca Dong không có tục để tang chồng, vợ. Có nơi, qua ngày thứ 6, tính từ ngày an táng, người còn sống dường như được tự do lấy chồng (hoặc vợ) mới.

4.2. CÁC NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG KHÁC

Tiêu biểu cho các hình thức tín ngưỡng - phong tục gắn với gia đình và cộng đồng, người Ca Dong ở Quảng Ngãi có các hình thức tín ngưỡng theo vòng đời cây lúa (rẫy).

Lễ cúng lúa rẫy

Lễ cúng lúa rẫy (lăm a chem) là một hình thức phát rẫy phép để chuẩn bị cho mùa rẫy mới. Sau khi ăn Tết đầu năm (Ố ka rế), gia đình mang theo rựa, dao vào rừng chọn một khu đất nhỏ, rồi chặt ống nứa đánh dấu khu rẫy dự định sẽ khai phá trong năm mới. Đánh dấu tượng trưng xong người ta về nhà coi giò gà để biết có phát được rẫy ấy không. Nếu được người ta sẽ tiến hành phát rẫy.

Lễ trồng lúa phép

Lễ trồng lúa phép (pađăm) là lễ thức trồng lúa phép trên rẫy. Trước khi làm lễ pađăm, người Ca Dong làm một cặp gà để cúng thần Yă kôh (Nữ thần bảo vệ nguồn nước) ngay máng nước đầu ngõ. Tiết gà sẽ cho chảy vào nguồn nước để mọi người trong làng uống chung, và cũng để mỗi người hứng lấy đem về tưới vào thùng lúa giống. Trồng lúa phép chỉ là việc thực thi nghi lễ trồng mỗi người một bụi tại một khoảnh đất nhỏ. Những bụi lúa đó không ai được gặt hái. Sau khi làm lễ pađăm vài ngày, người Ca Dong mới chính thức tỉa lúa lên cả khu rẫy đã phát sẵn. Người đàn ông sẽ là người chọc lỗ, người đàn bà gieo hạt, theo kiểu ngược chiều kim đồng hồ (có lẽ là một hình thức của tín ngưỡng phồn thực).

Lễ ăn lúa giống thừa

Lễ ăn lúa giống thừa (ká đoong) là lễ thức cúng thần để mang tất cả những hạt lúa mà người ta gieo còn thừa về nhà giã thành gạo ăn. Trước khi ăn lúa giống thừa, người ta lập một đàn cúng ngoài ngõ rồi cúng heo, gà cho các bậc thần linh. Lễ ăn hạt giống thừa có thể diễn ra đến 3 ngày. Ai muốn ăn cơm nhà nào cũng được. Ăn hết lúa thừa người ta mới bắt đầu làm sang việc khác.

Lễ cúng thần Lúa

Lễ cúng thần Lúa (Yang Sơri) là cúng rước thần Lúa về chòi. Khi lúa chín, người ta hái những bông lúa pađăm (trồng phép trên rẫy) đem về chòi. Trước khi mang lúa pađăm về người đàn bà chủ gia đình khấn vái thần Sơri, rước thần Sơri về chòi (thường thì khi đi rước thần Lúa chỉ có người đàn bà chủ gia đình cùng các cô con gái). Tới chòi, người ta sẽ đặt những bông lúa pađăm vào vị trí thiêng nhất. Đó là trước cửa chòi - nơi thần Lúa sẽ "đi vào". Người ta lại nối một sợi dây rừng dài từ rẫy đến chòi lúa để thần Lúa "biết đường" mà về chòi. Để thần Lúa qua suối thì người ta giăng chỉ trắng ở những con suối, từ bờ bên này sang bờ bên kia, cho thần Lúa "biết đường" lội qua suối.

Cúng ăn lúa mới

Cúng ăn lúa mới là nghi thức mừng lúa mới. Sau khi lúa đã thu hoạch xong, người ta làm những hạt lúa đầu tiên để cúng thần linh và tổ tiên. Cúng xong ai nấy mới bắt đầu được ăn những hạt gạo đầu tiên của mùa thu hoạch. Ăn cơm trong nồi phải chừa lại một ít. Ăn cơm nóng cũng không được thổi. Cơm cục dành cho đàn ông. Cơm rời dành cho phụ nữ.

Ngoài ra, người Ca Dong còn nhiều nghi thức cúng tế khác, như: cúng Vơ rai, là cúng khi cả làng có heo, gà bị ôn dịch nhiều; cúng Côi đẹc mang, là cúng nước, cúng nguồn nước sạch; cúng Hit Yiêng, là cúng lúc mỏi mệt; cúng Mô păng, là cúng ông Táo; cúng Ta reo yok mơ hua, là cúng gọi hồn; cúng Yok Prây, là cúng cầu khỏe mạnh; cúng Ta reo đoi oda, là cúng tiền vãn, hậu vãn; cúng Đơm chem, là cúng âm hồn; cúng Voọc mang, là cúng ông bà tổ tiên (người Ca Dong cũng như một số tộc người ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên không có bàn thờ cúng ông bà riêng trong nhà, chỉ khi nào ông bà báo mộng, hoặc đau ốm mới cúng ông bà nhằm cầu mong phù hộ); cúng Yok mơ hua Angok, là cúng thần núi; cúng Hwan bay, là cúng chiêng,… Các lễ cúng này các dân tộc Hrê, Cor, đều có.

Nói chung, các dân tộc miền núi Quảng Ngãi đều theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, xem mọi vật đều có hồn. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, tình trạng kinh tế - xã hội còn ở trình độ phát triển thấp, không thể giải thích được các nguyên nhân gây nên những ốm đau, bệnh tật, tai họa... giáng xuống cho con người, người ta giải thích theo lối siêu hình và thực hiện nhiều lễ thức tín ngưỡng. Có nhiều lễ thức nặng về mê tín, lạc hậu, như đau ốm chỉ cúng gọi hồn, chết yểu phải treo xác trên cây, chia của bằng trâu (có cả trâu đang có thai, hay trâu con)... Việc cúng tế diễn ra thường xuyên, hao tốn khá nhiều của cải, công sức và thời gian. Từ 1945 đến nay, đồng bào theo cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới nên đã xóa bỏ dần những hủ tục đó.

II. TÔN GIÁO

1. PHẬT GIÁO

Phật giáo là tôn giáo tồn tại lâu đời ở Việt Nam. Trong số cc dân di cư vào khai khẩn ở vùng đất Quảng Ngãi từ thế kỷ XV, XVI có không ít người là đệ tử hay tín đồ Phật giáo. Trong điều kiện vùng đất mới khai phá, hẳn các tín đồ đạo Phật chưa có cơ sở thờ tự, mà chỉ dựng những am nhỏ hay tu tại gia trước khi các chùa được xây dựng đàng hoàng. Cổ nhất và có tiếng nhất trong tỉnh Quảng Ngãi là các chùa Diệu Giác, Thiên Ấn.

Chùa Diệu Giác: Nằm ở huyện Bình Sơn, được xây dựng từ đầu thế kỷ XVII, sau bị chiến tranh tàn phá phải xây dựng lại, nguyên có tên là chùa Viên Tông, được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ "Viên Tông tự" dưới niên hiệu Cảnh Hưng, đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vì phạm húy, đổi tên là Diệu Giác.

Chùa Thiên Ấn: Nằm ở huyện Sơn Tịnh, do Pháp Hóa hòa thượng, người tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) lập năm 1695. Năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1716) đời vua Lê Dụ Tông, chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu, một người rất mộ đạo Phật, ban cho sắc tứ "Thiên Ấn tự". Pháp Hóa hòa thượng trụ trì ở chùa này trong 60 năm thì viên tịch. Từ đó, tổ đình Thiên Ấn được các nhà sư quê ở Quảng Ngãi trụ trì và tiếp tục truyền đạo pháp, trong đó có các sư tổ, như hòa thượng Khánh Vân quê ở Mộ Đức, hòa thượng Bảo Ân quê Tư Nghĩa, hòa thượng Diệu Quang quê Sơn Tịnh...

Bên cạnh đó, còn có chùa Phổ Tế (huyện Tư Nghĩa), chùa Long Hưng (huyện Bình Sơn) cũng vào hạng chùa lập sớm, cũng có các sắc tứ của các chúa Nguyễn.

Cũng có các chùa không xây dựng mà dựa vào các hang đá tự nhiên để lập cơ sở thờ tự, như chùa Hang ở Phú Thọ (phía đông huyện Tư Nghĩa), chùa Hang thường gọi là chùa Ông Rau (ở huyện Mộ Đức), chùa Hang hay Thiên Khổng thạch tự (ở huyện đảo Lý Sơn)…

Các chùa thường gắn với nơi non xanh nước biếc, cảnh trí hoang sơ tĩnh mịch, gắn với các thắng cảnh trong tỉnh Quảng Ngãi, đúng như người đời thường gắn tên chùa có tiếng với cảnh đẹp gọi là "danh lam thắng cảnh" (11). Các chùa thường được biết đến còn có chùa Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh Vân, Thình Thình, Quang Lộc, Phước Quang, Long Sơn, An Long, Hội Phước…

Giáo lý của Phật giáo răn con người điều thiện, làm lành lánh dữ, bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, chủ trương diệt dục... gần gũi với tín ngưỡng, văn hóa truyền thống của người Việt. Đạo Phật ở Việt Nam có những giao hòa với Khổng giáo và Lão giáo, đồng thời cũng không hoàn toàn "thoát tục". Khi đất nước lâm nguy hay khi đạo pháp bị xúc phạm, các tăng ni, đạo hữu cũng có thể nhập thế, tham gia vào công cuộc cứu nước, chống kẻ xâm lăng, bảo vệ đạo pháp. Cũng có trường hợp người ta tham gia phía bên này hay phía bên kia khi có các tập đoàn phong kiến tranh chấp nhau. Chẳng hạn nhà sư Bùi Đăng Tường, tức Long Kỳ đại sư, tu ở chùa Phổ Phúc huyện Bình Sơn, khi Tây Sơn khởi nghĩa, đã theo chúa Nguyễn chống lại Tây Sơn, được phong làm Quốc sư vệ khâm sai, sau tử trận ở Quảng Nam (12). Tuy nhiên, đó chỉ là trường hợp hiếm hoi. Bình thường thì tăng ni chỉ chuyên lo chùa chiền, đạo pháp. Đạo hữu thì chăm chú việc đạo, đồng thời làm tròn nghĩa vụ của người dân một nước, chuyên chú điều thiện, giúp kẻ hoạn nạn, cứu vớt chúng sinh, quyên góp để cứu trợ đồng bào trong thiên tai, bão lụt.

Thời Pháp thuộc, các tăng ni phật tử Quảng Ngãi cũng chịu chung số phận nô lệ như người dân trong nước. Do vậy, trước năm 1945, theo kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, giới đệ tử Phật giáo đã thành lập Hội Phật giáo Cứu quốc. Giới phật tử ở Quảng Ngãi thành lập Chi hội Phật giáo Cứu quốc. Lực lượng này đã góp phần cùng nhân dân Quảng Ngãi giành chính quyền thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám 1945.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (1946), Phật giáo Việt Nam phân thành các phái tăng già và cư sĩ. Trong bối cảnh đó, từ ngày 6 đến ngày 9.5.1951, có 51 đại biểu đại diện 6 nhóm Phật giáo cả nước đã tổ chức đại hội tại chùa Từ Đàm (Huế) để thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Đây là đại hội Phật giáo đầu tiên thống nhất ba miền. Lúc này, các tỉnh trong Liên khu V, từ Quảng Nam đến Phú Yên là hậu phương của cuộc kháng chiến chống Pháp. Phật giáo Liên khu V cũng đã thành lập tổ chức "Phật giáo liên lạc Khu V" ở Quảng Ngãi.

Cuối năm 1951, tại thôn Đông Dương, xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, giới phật tử yêu nước Quảng Ngãi đã mở đại hội bầu ban trị sự Chi hội Phật giáo liên lạc Quảng Ngãi. Trụ sở của Ban trị sự được đặt tại chùa Hội Phước. Chi hội hoạt động đến 30.8.1954 thì sáp nhập vào Tổng hội Tăng già Trung Việt. Cùng thời gian này, lực lượng cư sĩ Phật giáo Quảng Ngãi vận động thành lập Hội Phật học.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đàn áp khốc liệt Phật giáo, như hạ cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật đản năm 1963, ra lệnh cho quân đội, cảnh sát tàn sát giáo đồ, hủy bỏ Hiến chương Phật giáo… Do đó, tín đồ Phật giáo miền Nam chuyển sang giai đoạn đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo, chống đàn áp Phật giáo; phát động phong trào yêu nước chống đế quốc xâm lược và tay sai để giữ gìn đạo pháp và khẳng định vai trò của giới phật tử trước vận mệnh dân tộc bằng các hình thức biểu tình, tuyệt thực, tự thiêu...

Tại Quảng Ngãi, phong trào đấu tranh của các bậc cao tăng, tín đồ phật tử diễn ra liên tục. Từ tháng 5 đến tháng 11.1963 đã có các cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn, chống bắt lính trong giới phật tử. Mặc dầu phong trào bị đàn áp khốc liệt, Hòa thượng Giải Hậu bị chính quyền Sài Gòn bắt giam, Hòa thượng Thích Huyền Đạt bị lưu đày ở Plâyku, nhưng đồng bào phật tử không nao núng. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra trước Tòa hành chính tỉnh, đòi chính quyền Sài Gòn thả các chư tăng, đòi tự do tín ngưỡng, tự do dân chủ.

Những năm 1966 - 1967, phong trào đấu tranh của Phật giáo Quảng Ngãi tiếp tục dâng cao và bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đàn áp khốc liệt. Lúc 5 giờ ngày 31.10.1967, Đại đức Thích Hạnh Đức tự thiêu tại chùa Tỉnh Hội để phản đối. Đám tang tử vì đạo của Thích Hạnh Đức trở thành cuộc biểu dương lớn nhất của tín đồ phật tử, kéo dài từ chùa Tỉnh Hội đến tận chùa Thiên Ấn. Càng bị chính quyền Sài Gòn đàn áp, số người chống đối càng đông (theo thống kê của Địa phương chí Quảng Ngãi, đến năm 1968, tín đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi đã có 196.200 người) (13). Ngày 8.3.1969, khoảng 5.000 phật tử đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn phải thả nhà sư Thích Thiện Minh, đòi vãn hồi hòa bình, phản đối giết hại đồng bào ở Ba Làng An. Trong ngày Phật đản năm 1969, có gần 20.000 phật tử ở Quảng Ngãi đã xuống đường biểu tình cầu nguyện hòa bình, chống bắt lính. Từ năm 1970 đến 1973, các học sinh phật tử ở các trường như Bồ Đề, Trần Quốc Tuấn, Nữ Trung Học... và đồng bào phật tử liên tục xuống đường, biểu tình đòi Mỹ rút quân, kêu gọi tẩy chay bầu cử tổng thống Thiệu. Sau Hiệp định Pari được ký kết, lực lượng hòa giải dân tộc của Phật giáo Quảng Ngãi là một tổ chức liên minh nằm trong lực lượng các nhân sĩ trí thức, giáo chức. Cũng cần nhớ rằng trong chiến tranh đã có nhiều chùa chiền trong tỉnh Quảng Ngãi bị bom đạn tàn phá, về sau một số đã được xây dựng lại.

Từ năm 1975, đất nước độc lập, thống nhất đã tạo thuận lợi cho Phật giáo thống nhất các hệ phái. Năm 1981, các hệ phái Phật giáo trong cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất làm một và lấy tên là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam". Đại hội đã thông qua hiến chương, chương trình hành động và bầu ra các cơ quan lãnh đạo.

Hiện nay, các tín đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hăng hái thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và tham gia các phong trào quần chúng, theo phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".

2. THIÊN CHÚA GIÁO (CÔNG GIÁO)

Đạo Thiên Chúa hay Công giáo từ phương Tây truyền vào Việt Nam vào khoảng thời gian đất nước ta bị chia cắt thành Đàng Ngoài - Đàng Trong vào thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Cũng vào thời gian này, Thiên Chúa giáo đã du nhập tới Quảng Ngãi.

Năm 1626, giáo phận Thiên Chúa giáo Quảng Nam - Quảng Ngãi do linh mục Fecnanđet (Fernandez) điều hành. Đến tháng 7.1641, lần thứ hai giáo sĩ Đơ Rôt (A. De Rhodes) trở lại truyền giáo ở Đàng Trong. Trong dịp này, ông đến thăm các họ đạo ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn và đã rửa tội cho 1.305 người. Chính Đơ Rôt đã từng xác nhận: Tôi bắt đầu từ tỉnh Quảng Ngãi tới một xã là Trà My, tất cả giáo dân đều ra đón tôi (14). Như vậy, Thiên Chúa giáo có thể đã được truyền bá vào Quảng Ngãi từ giữa thế kỷ XVII, do các cha dòng Tên từ Hội An đến.

Dưới thời giám mục Moptơ (Lambert de La Mofte) - giám mục tiền khởi đại diện Tổng tòa trông coi giáo phận Đàng Trong - đã lập tu viện dòng Mến Thánh giá ở An Chỉ (1671), nay thuộc xã Hành Phước (huyện Nghĩa Hành). Từ đó, đạo Thiên Chúa bắt đầu phát triển ở Quảng Ngãi; các họ đạo và nhà thờ được xây dựng như các nhà thờ Châu Me, Kỳ Thọ, Cù Và, Chà Là... Các nhà thờ cổ nhất ở Quảng Ngãi đóng ở Trung Sơn (huyện Bình Sơn), Bàu Gốc, Phú Vang (huyện Mộ Đức)…

Theo báo cáo của đức giám mục Băngnơta (Bennetat) thì năm 1748 toàn tỉnh Quảng Ngãi có 2.000 giáo hữu và được chia thành 20 họ đạo.

Giáo lý Công giáo hướng về Đức Chúa toàn năng và răn người ta hướng thiện, tránh những điều sai trái, tầm thường. Nhưng trong quá trình du nhập vào Việt Nam, không ít cố đạo và giáo dân đã bị thực dân, đế quốc lợi dụng vào mục đích chính trị của chúng. Do vậy mà quá trình phát triển của Công giáo cũng thăng trầm theo lịch sử, khiến đạo không khỏi có một số tổn thất về tinh thần và nhân mạng, làm những người theo đạo chân chính phải đau lòng. Thời các vương triều từ Gia Long đến Tự Đức đã có nhiều sắc chỉ bài bác, cấm đoán việc truyền đạo Thiên Chúa. Các x đạo ở Quảng Ngãi cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Đời vua Đồng Khánh (1886 - 1888), ở tỉnh Quảng Ngãi có 40 làng xã được coi là những địa phương theo đạo Thiên Chúa, trong đó huyện Bình Sơn (gồm cả Sơn Tịnh) có 22 làng, huyện Chương Nghĩa (Tư Nghĩa, Nghĩa Hành) có 9 làng, huyện Mộ Đức (gồm cả Đức Phổ) có 9 làng (15). Cuối thế kỷ XIX, giáo dân ở Quảng Ngãi có khoảng 7.000 người (16).

Từ thập niên hai mươi đến thập niên sáu mươi của thế kỷ XX, Thiên Chúa giáo ở Quảng Ngãi phát triển khá mạnh. Đến thời Ngô Đình Diệm, chính quyền Sài Gòn lại tìm cách mua chuộc, lợi dụng Công giáo, như tăng uy thế chính trị, thế lực kinh tế và cơ sở vật chất. Số lượng tín đồ Công giáo cũng tăng dần. Theo Địa phương chí tỉnh Quảng Ngãi (17), đến năm 1968, toàn tỉnh có 36.387 tín đồ Công giáo.

Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, ở thị xã Quảng Ngãi, các nhà thờ lớn như nhà thờ Trần Hưng Đạo, nhà thờ Phú Hòa ở huyện Sơn Tịnh và rất nhiều nhà thờ khác trong tỉnh Quảng Ngãi vẫn được tôn trọng, được hành đạo bình thường. Tuy nhiên, do vấn đề lịch sử để lại (chính sách chia rẽ lương, giáo của thực dân Pháp…), nên giáo dân ở Quảng Ngãi có một số người chưa hòa nhập vào chế độ mới, ở một số vùng lại có người nhạt đạo.

Năm 1980, các giám mục cả nước đã tổ chức hội nghị để thống nhất đường lối của Giáo hội. Giáo dân Công giáo Quảng Ngãi sống hòa hợp với cộng đồng với phương châm "sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào", tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Đến năm 1995, tại Quảng Ngãi có 5.446 tín đồ, 6 linh mục, 13 nơi thờ tự, 41 họ đạo. Những năm gần đây, số lượng tín đồ có chiều hướng tăng. Nhìn chung, đồng bào Công giáo đang tích cực cải thiện đời sống, phấn khởi trước công cuộc đổi mới và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Các hoạt động xã hội nhân đạo, phong trào an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội được giáo dân hưởng ứng theo tinh thần "tốt đời, đẹp đạo", "kính Chúa, yêu nước". Những dịp lễ lớn như Giáng sinh, Phục sinh thực sự là những ngày hội lớn của cộng đồng.

3. ĐẠO TIN LÀNH

Tin Lành thực chất là một giáo phái tách ra từ Thiên Chúa giáo ở Châu Âu vào cuối thời Trung đại, du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX bởi tổ chức Liên hiệp Phúc âm và Truyền giáo CMA (Christian and Missionary Alliance). Năm 1911, hội thánh Tin Lành đầu tiên được thành lập tại Đà Nẵng.

Từ buổi ban đầu du nhập vào Quảng Ngãi (tháng 4.1928) đến năm 1954, đạo Tin Lành ở đây chủ yếu là hệ phái Hội thánh Tin Lành Việt Nam, xây dựng được 3 cơ sở Hội thánh (tỉnh lỵ, Mộ Đức, Đức Phổ) và phát triển khoảng 100 tín đồ, hoạt động theo nguyên tắc điều lệ Hội. Đạo Tin Lành chủ trương trung dung, chỉ tham gia một số hoạt động từ thiện, nhân đạo, tạo lập cơ sở để truyền đạo lâu dài. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các nhà thờ bị chiến tranh tàn phá, các Hội thánh thiếu mục sư nên việc truyền đạo cũng bị thu hẹp, khủng hoảng.

Sau năm 1954, Mỹ và chính quyền Sài Gòn lợi dụng đạo Tin Lành vào mục đích chính trị. Đạo Tin Lành mở rộng địa bàn truyền giáo, phát triển tín đồ và xây dựng mới các cơ sở hành lễ. Đầu những năm bảy mươi thế kỉ XX, Tổng hội Tin Lành cũng đã điều phối nhiều mục sư, kể cả giáo sĩ người nước ngoài tham gia trực tiếp chỉ đạo phát triển đạo Tin Lành ở Quảng Ngãi. Giai đoạn này xu hướng tham chính của một bộ phận trong đạo Tin Lành bộc lộ rõ rệt, một số tín đồ, mục sư, truyền đạo tham gia quân đội Sài Gòn, chống lại cách mạng. Tuy vậy, tín đồ Tin Lành hầu hết là người lao động; họ vào đạo vì nhiều nguyên nhân khác nhau: đức tin, sự thu hút qua các hoạt động xã hội, động cơ kinh tế, nhưng trước sự tàn bạo, tham nhũng, mị dân của chính quyền Sài Gòn, có nhiều gia đình tín hữu đã tham gia cách mạng.

Hiện nay, các hệ phái Tin Lành đã gia tăng, mở rộng việc truyền đạo và khôi phục đạo. Các hệ phái Tin Lành đang hành đạo tại Quảng Ngãi bao gồm: 1) Hệ phái Cơ Đốc Truyền giáo: Hệ phái này chủ trương tôn giáo hóa đạo Tin Lành vùng đồng bào dân tộc ít người ở các huyện miền núi Quảng Ngãi nói riêng và cả Tây Nguyên nói chung. Đến năm 2005, Cơ Đốc Truyền giáo có khoảng 2.000 tín đồ, 1 mục sư quản nhiệm và 5 truyền đạo; 2) Cơ Đốc Phục lâm, có mặt ở Quảng Ngãi đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Luận điểm của phái này là theo Chúa để Chúa giúp cho làm ăn giàu có, đối tượng để truyền đạo chủ yếu cũng là người dân tộc thiểu số ở miền núi. Năm 2005, tín hữu có khoảng 350 người, hình thức tu tại gia, không có mục sư, chức sắc; 3) Báptít: Trước năm 1975 có khoảng 100 tín đồ, chủ yếu ở trung tâm tỉnh lỵ. Phái này không có nhà thờ, chỉ thuê nhà dân làm nơi nhóm lễ nên sau giải phóng gần như tan rã. Từ năm 1990 tới nay mới từng bước phục hồi và chia thành 2 nhóm hoạt động độc lập: nhóm Báptít Nam Phương và nhóm Báptít Tư gia. Tổng số tín hữu hiện nay khoảng 150 người (2005), không có cơ sở hành lễ; 4) Cơ Đốc Liên hữu: Hệ phái này mới du nhập vào hai huyện Ba Tơ, Sơn Hà đầu những năm 1990. Động cơ tuyên truyền hành đạo cũng là kinh tế nên nhiều tín hữu bên Cơ Đốc Truyền giáo chuyển sang theo phái này. Năm 2005, hệ phái Cơ Đốc Liên hữu có khoảng 2.600 người; 5) Hội thánh Tin Lành Việt Nam: Hệ phái này hoạt động từ những năm đầu có đạo Tin Lành (1928). Đây là hệ phái lớn nhất nên có nhiều cơ sở tôn giáo, nhiều tín đồ và hoạt động truyền giáo chủ yếu ở các huyện đồng bằng.

4. ĐẠO CAO ĐÀI

Đạo Cao Đài là đạo khởi phát ở Nam Bộ Việt Nam từ năm 1926 dưới thời Pháp thuộc, thể hiện sự dung hợp của nhiều tôn giáo khác nhau.

Mặc dù bị chi phối bởi đạo dụ số 10 năm 1928 của chính quyền Bảo Đại, trong đó quy định không được truyền vào Trung Kỳ ("Cao Đài thư tịch bất đắc truyền bá Trung Kỳ"), song đạo này vẫn vào Quảng Ngãi rất sớm (khoảng từ 1926 - 1934). Tầng lớp hương chức ở làng xã, những người trung nông, địa chủ, giới học thức... là đối tượng được đạo Cao Đài chú trọng để phát triển tín đồ, nên ngay từ buổi đầu, đạo Cao Đài đã thuận lợi trong việc mở rộng ảnh hưởng và truyền bá tín lý. Bên cạnh đó, yếu tố tôn giáo dung hòa Phật, Tiên, Thánh ít nhiều cũng đã hằn sâu trong đời sống tâm linh của dân chúng và hình thức "cơ Bút" đáp ứng được niềm hy vọng tìm kiếm sự linh ứng của dân chúng. Và đặc biệt, những sinh hoạt đặc trưng của đạo Cao Đài qua lễ nghi, đám tiệc, ma chay, tương trợ lúc hoạn nạn... diễn ra vừa gần gũi, vừa mới mẻ, nên số người gia nhập đạo mỗi ngày một nhiều. Cơ sở đạo giáo được mở rộng, các thánh thất lần lượt được xây dựng, như thánh thất Hoài An (Mộ Đức, 1935), thánh thất Phổ Thạnh, Viễn Thúy (Đức Phổ, 1936 - 1937), thánh thất Sông Vệ (Tư Nghĩa, 1937) và các thánh thất khác ở Nghĩa Lập, Bồ Đề, Trung Hòa (Mộ Đức), Nghĩa Hưng (Nghĩa Hành)... lần lượt ra đời.

Quá trình phát triển đạo Cao Đài cũng phân rẽ thành nhiều hệ phái với thái độ chính trị khác nhau.

Sau năm 1975, văn phòng Tỉnh đạo và các thánh thất vẫn hoạt động bình thường.

Đến năm 2005, đạo Cao Đài ở Quảng Ngãi có 36 thánh thất với hơn 6.000 tín đồ được chia thành các hệ phái sau đây: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Cầu Kho, Cao Đài Truyền giáo, Cao Đài Thống nhất. Trong đó, một số Hội Thánh đã được xây dựng lại và có tư cách pháp nhân như: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Truyền giáo.

Ngoài 4 tôn giáo kể trên, ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay cũng có khoảng 140 người theo đạo Bah’ai, 50 người theo đạo Hòa Hảo.

5. VẤN ĐỀ NHO GIÁO

Trong vấn đề tôn giáo ở Quảng Ngãi, một điều rất đáng lưu ý là tư tưởng Khổng giáo hay Nho giáo. Nho giáo vừa là một học thuyết chính trị, vừa mang tính chất tôn giáo, xuất phát từ Trung Hoa cổ đại du nhập vào Việt Nam hàng ngàn năm trước. Học thuyết chính trị Nho giáo về cơ bản nay không còn áp dụng. Nho giáo cũng không có tổ chức như các đạo kể trên. Tuy vậy trong quá khứ và trong hiện tại, ảnh hưởng của Nho giáo vẫn tồn tại đậm nhạt khác nhau trong nhân dân Quảng Ngãi.

Thời nhà Nguyễn, Nho giáo được coi là "độc tôn", theo chủ trương của nhà nước phong kiến, ở Quảng Ngãi có một số miếu thờ Nho giáo như sau:

Văn Miếu hàng tỉnh

Nằm trên địa phận xã Phú Nhơn (nay thuộc thị trấn huyện lỵ Sơn Tịnh), dựng năm Gia Long thứ 16 (1817), thờ Khổng Tử; bên phải miếu lại có miếu Khải Thánh (thờ thân phụ Khổng Tử), dựng năm Minh Mạng thứ 20 (1840). Tiền xây văn miếu do triều đình chu cấp theo quy định. Trải qua chiến tranh, hiện vật, kiến trúc hầu như không còn gì.

Văn Miếu huyện Chương Nghĩa

Xây dựng năm Tự Đức thứ 8 (1855), do văn thân hàng huyện quyên tiền cất dựng, nay vẫn còn ở khu vực phường Nghĩa Chánh (thành phố Quảng Ngãi), có cổng và xây thành chung quanh, bên trong có nhà bia. Cổng và bia đều ghi bốn chữ Hán "Văn kỳ tại tư", trích từ sách Luận ngữ.

Văn Miếu huyện Mộ Đức

Xây dựng ở xã Văn Bân (nay là xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức) năm Tự Đức thứ 12 (1859), do Phó bảng Nguyễn Bá Nghi và văn thân trong huyện quyên tiền cất dựng. Năm 1967, bị pháo Mỹ đánh sập nay vẫn còn cổng, bờ thành đá ong, bình phong và các bia.

Văn Từ tổng Ca Đức

Xây dựng tại Văn Trường (nay thuộc huyện Đức Phổ) vào năm Tự Đức thứ 10 (1857), do văn thân trong huyện quyên tiền cất dựng.

Văn Từ hai tổng huyện Bình Sơn

Do văn thân hai tổng huyện Bình Sơn quyên tiền cất dựng, không rõ năm, hiện còn tại xã Bình Nguyên.

Như vậy, cơ sở phụng tự của Nho giáo cũng không ít. Tùy theo cấp độ (tỉnh, huyện, tổng) và kiểu kiến trúc (lộ thiên, hay có mái che) mà người ta gọi là văn thánh, văn miếu, văn từ, văn chỉ, nhưng nói chung đều thờ Khổng Tử và Thất thập nhị hiền. Các cơ sở thờ tự có người lo nhang đèn hằng ngày, thường có hai lệ tế trong năm khá trang trọng. Sau khi Pháp đô hộ nước ta, Nho giáo suy tàn, các cơ sở thờ tự vẫn tiếp tục duy trì. Điều quan trọng hơn là ở Quảng Ngãi tuy Nho giáo không hẳn là một đạo, nhưng nó đã thấm sâu vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng, phong tục và cách ứng xử của người Việt trên mảnh đất này.

*
*          *

Nhìn chung, phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo tồn tại như một sự tất yếu trong cư dân Quảng Ngãi. Ở người Việt miền xuôi thì tôn giáo đã hiện diện từ khá lâu, bên cạnh các tín ngưỡng dân gian vẫn tồn tại, còn ở các tộc người miền núi từ 1945 trở về trước cơ bản là tín ngưỡng dân gian của dân tộc, các tôn giáo chỉ mới du nhập sau này. Ngày nay, Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, các tôn giáo đều được đối xử bình đẳng, tôn trọng và đoàn kết với nhau. Các tôn giáo ở Quảng Ngãi đều có đại diện là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, tập trung vào mục tiêu "tốt đời, đẹp đạo".


(1)  Xem Chương XXIV: Lễ hội
(2)  Xem Hương ước Quảng Ngãi, Vũ Ngọc Khánh - Lê Hồng Khánh sưu tầm, giới thiệu, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ngãi, 1996.
(3)  Trong lễ tang của người Việt ở ngoài Bắc hơi khác một chút, thường là mộ đã đắp xong, mọi người thắp một nén hương lên mộ rồi mới về.
(4)  Ngu có nghĩa là yên.
(5), (7)  Xem Chương XXVIII: Kiến trúc.
(6), (6')  Xem thêm Chương XXIV: Lễ hội.
(8)  Xem Chương XXI: Ăn - Mặc - Ở.
(9)  Xem Chương XXVII: Nghệ thuật, trong phần "Nghệ thuật dân gian".
(10)  Theo Chu Thái Sơn (chủ biên), Phạm Văn Lợi: Người Cor, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
(11)  Xem thêm Chương XXV: Di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử - văn hoá, danh thắng.
(12)  Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, phần viết về Quảng Ngãi, sđd, mục Tăng.
(13)  Địa phương chí Quảng Ngãi, năm 1968 (tài liệu do chính quyền Sài Gòn biên soạn, lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thành phố Hồ Chí Minh).
(14)  Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi cung cấp.
(15)  Đồng Khánh địa dư chí, bản chữ Hán, lưu tại Thư viện Viện Hán Nôm.
(16)  Số liệu do Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi cung cấp.
(17)  Địa phương chí Quảng Ngãi, sđd.