Trở về

Ngư nghiệp là một ngành kinh tế - kỹ thuật mà tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai - mặt nước, đối tượng sản xuất là quần thể sinh vật có khả năng sinh trưởng dựa vào môi trường nước, sản phẩm của ngư nghiệp là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho con người. Do đặc điểm điều kiện tự nhiên và xã hội, từ giữa thế kỷ XX trở về trước, kinh tế ngư nghiệp Quảng Ngãi phát triển chậm và chiếm vị trí không đáng kể so với kinh tế nông - lâm nghiệp. Trong khoảng vài chục năm gần đây, kinh tế ngư nghiệp Quảng Ngãi có tốc độ phát triển khá nhanh. Giá trị sản xuất thủy sản hiện nay chiếm khoảng 35% giá trị sản xuất của nhóm kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp nói chung và đang trở thành ngành kinh tế có thế mạnh, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương(1).

I. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC VÙNG NƯỚC

1. VÙNG BIỂN

Địa hình thềm lục địa vùng biển Quảng Ngãi có độ dốc lớn, có nơi cách bờ chưa tới 3 hải lý(2) đã có độ sâu 50m, cách bờ trung bình 20 hải lý đã có độ sâu trên 100m, cách bờ 30 hải lý đã có độ sâu trên 200m. Nền đáy biển từ 50m nước trở vào chủ yếu là cát bùn, trên 50m trở ra chủ yếu là cát pha vỏ sò. Địa hình đáy biển gần bờ có các bãi rạn nhỏ, vùng khơi có những rãnh sâu, gò rạn.

Đặc điểm của khí tượng, thủy văn vùng biển Quảng Ngãi là chịu ảnh hưởng chung của chế độ khí tượng, thủy văn vùng biển khu vực từ Quảng Nam tới Khánh Hòa(3). Chế độ gió mùa Đông Bắc xảy ra từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, do ảnh hưởng của địa hình nên gió mùa Đông Bắc bị lệch hướng trở thành Bắc và Tây Bắc. Từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 6, hướng gió thịnh hành từ Đông đến Đông Nam. Giai đoạn từ cuối tháng 6 đến tháng 9, gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh, hướng gió thịnh hành Tây hoặc Tây Nam. Tốc độ gió trung bình từ 2,5 - 4m/s, mạnh nhất có thể đạt tới 24 - 26m/s. Thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa, hướng gió chuyển dịch cùng với cường độ giảm dần.

Bão và áp thấp nhiệt đới có tần suất đổ bộ vào bờ biển vùng Nam Trung Bộ cao nhất vào tháng 10 và 11. Tốc độ và hướng di chuyển của bão thường rất phức tạp, tùy thuộc vào từng cơn bão. Bão thường gây ra gió mạnh, tốc độ trung bình 30 - 40m/s, đổi hướng liên tục nên có sức tàn phá rất lớn. Trong vùng bão thường có lượng mưa lớn trên 100mm/ngày, có những cơn bão lượng mưa lên đến 300 - 400mm/ngày hoặc hơn.

Chế độ sóng biển phụ thuộc chủ yếu vào chế độ gió. Mùa gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau hướng sóng thịnh hành là hướng Bắc, có khi Đông Bắc, độ cao sóng trung bình 0,75 - 1m, độ cao sóng lớn nhất 3,5 - 4m. Sóng lừng trong mùa này tần suất xuất hiện khá lớn, chủ yếu theo hai hướng Đông Bắc và Đông. Mùa gió Tây Nam, hướng sóng thịnh hành là hướng Tây Nam, độ cao sóng trung bình 0,75 - 1m. Sóng lừng xuất hiện ở ngoài khơi chủ yếu theo hướng Tây Nam.

Dòng hải lưu vùng biển Quảng Ngãi mang tính chất biển khơi, chịu sự chi phối của hải lưu từ biển Đông đưa vào, dòng chảy do ảnh hưởng của nước cửa sông đổ ra không đáng kể. Mùa gió Tây Nam dòng chảy đi xuống phía nam chảy song song với đường bờ. Tốc độ dòng chảy tầng mặt tương đối lớn, trung bình từ 30 - 40cm/s, cực đại tới 75cm/s. Mùa gió Đông Bắc hướng dòng chảy tương tự như mùa gió Tây Nam, nhưng có nét khác là dòng chảy từ phía bắc đi xuống ép sát gần bờ hơn với tốc độ lớn hơn, trung bình khoảng 70cm/s, cực đại lên tới 150cm/s. Những dòng hải lưu này hàng năm đưa những đàn cá nổi đại dương áp sát gần bờ, thuận lợi cho nghề đánh bắt hải sản.

Nước biển Quảng Ngãi mang đặc trưng của vùng nước biển sâu, màu mặt nước xanh thẳm, độ trong suốt lớn, biển thoáng, hoàn lưu nước trao đổi trực tiếp với biển Đông. Nhiệt độ nước biển biến động lớn nhất xảy ra ở lớp nước mặt và giảm dần đến độ sâu 200m. Nhiệt độ tầng nước mặt đạt giá trị cao nhất vào tháng 5, trung bình 28oC - 29,8oC, thấp nhất vào tháng 1, trung bình 22oC - 24,7oC.

Độ mặn nước biển khá cao, có sự thay đổi theo mùa, nhưng biên độ dao động độ mặn giữa mùa khô và mùa mưa không lớn và độ mặn đều lớn hơn 32‰. Mùa gió Tây Nam, độ mặn tầng mặt ven bờ trung bình 32 - 33‰, ngoài khơi là 33,5 - 34,5‰; mùa gió Đông Bắc, nước biển có độ mặn cao khoảng 33,8 - 34‰.

2. VÙNG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

Địa hình bờ biển Quảng Ngãi ít quanh co khúc khuỷu, phía bắc chỉ có vũng Dung Quất tương đối kín gió, phần còn lại về phía nam chủ yếu là bãi ngang, không có những vũng vịnh kín gió cho nên không thuận lợi cho việc neo trú tàu thuyền và nuôi trồng thủy sản biển.

Dọc theo bờ biển có 6 cửa biển: Sa Cần, Sa Kỳ, cửa Đại, cửa Lở, Mỹ Á và Sa Huỳnh. Trong đó, 4 cửa biển lớn là Sa Cần, Sa Kỳ, cửa Đại và Sa Huỳnh tàu thuyền đánh cá ra vào tương đối thuận lợi, còn 2 cửa biển nhỏ là cửa Lở và Mỹ Á hàng năm vào mùa khô thường bị cát bồi lấp.

Ven biển bãi ngang địa hình chủ yếu là những dải cồn cát và rừng phi lao, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi. Nhưng gần đây, vùng đất cát ven biển đang được đầu tư cải tạo thành những vùng nuôi trồng thủy sản, dựa trên quy trình kỹ thuật nuôi tôm sử dụng vật liệu chống thấm trên đất cát.

Vùng biển Quảng Ngãi có một đảo lớn là Lý Sơn (cù lao Ré) và một đảo nhỏ là đảo Bé. Ven bờ quanh đảo có nhiều rạn đá, san hô bao bọc đã hình thành hệ sinh thái biển khá đặc sắc và nguồn lợi thủy sản phong phú, có thể khai thác, bảo tồn nhiều loài đặc sản biển có giá trị.

3. VÙNG TRIỀU

Vùng triều là vùng nước ven sông gần các cửa biển thường xuyên bị nước mặn xâm nhập do ảnh hưởng của thủy triều. Diện tích vùng bãi triều tự nhiên ở Quảng Ngãi có thể đưa vào nuôi trồng thủy sản khoảng dưới 1.000ha nhưng có đặc điểm địa hình bị chia cắt manh mún, không có những vùng triều tập trung quy mô lớn. Do đặc điểm biên độ chênh lệch thủy triều trung bình không lớn, chỉ khoảng 1,2m, nên sự phân chia các vùng hạ triều, trung triều và cao triều không rõ rệt. Trước kia, vùng triều chủ yếu là rừng ngập mặn, gồm các loại cây dừa nước, mắm, bần, đước, là môi trường tự nhiên thuận lợi cho các loài thủy sinh vật sinh trưởng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây do mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ (nuôi tôm), nên diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm đáng kể.

Vùng ven bờ biển Quảng Ngãi có duy nhất vùng đầm nước mặn Sa Huỳnh thông ra biển qua cửa Sa Huỳnh, được khai thác để làm muối, ở đây không có nhiều điều kiện thuận lợi để nuôi trồng thủy sản nước mặn quy mô lớn.

4. VÙNG NƯỚC SÔNG SUỐI, HỒ AO NƯỚC NGỌT

Do đặc điểm địa hình, hệ thống sông suối trên địa bàn Quảng Ngãi thường ngắn và dốc, tốc độ dòng chảy lớn, nên khi xảy ra mưa lũ thường có sức tàn phá mạnh, nhưng mùa khô mực nước thường cạn kiệt. Hệ thống ao hồ nước ngọt tự nhiên ở Quảng Ngãi thưa thớt, quy mô diện tích nhỏ, chỉ có 2 đầm tự nhiên tương đối lớn là đầm An Khê và đầm Lâm Bình (huyện Đức Phổ). Hệ thống các công trình hồ chứa nước nhân tạo phần lớn phân bố ở vùng trung du và miền núi, có một số hồ chứa thủy lợi lớn như Thạch Nham, Liệt Sơn, Núi Ngang, Tôn Dung. Nhìn chung diện tích lưu vực sông suối, hồ ao nước ngọt nhỏ, lượng sinh vật phù du trong phần lớn thủy vực nghèo nàn, hàng năm lại thường xuyên bị ngập lụt, nên việc tổ chức nuôi thủy sản với quy mô lớn trên các hồ chứa đòi hỏi phải có sự tính toán, đầu tư xây dựng công trình bảo vệ chống thất thoát cá trong mùa mưa lũ.


(1) Quảng Ngãi có 5 huyện ven biển và 1 huyện đảo (Lý Sơn) với dân số chiếm 68% toàn tỉnh, trong đó gồm có 22 xã ven biển, 3 xã hải đảo (Cục Thống kê Quảng Ngãi: Niên giám thống kê Quảng Ngãi năm 2005, Nxb Thống kê).
(2) Hải lý: đơn vị đo khoảng cách trên biển, 1 hải lý = 1,852km.
(3) Bộ Thủy sản: Nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996, tr. 100.

 

Về đầu trang

Trang tiếp theo