|
||||
IV. CÁC LĨNH VỰC NGÀNH NGHỀ THỦY SẢN1. ĐÁNH BẮT THỦY SẢNĐến năm 2005, ngành sản xuất truyền thống đánh bắt thuỷ sản là thế mạnh của nghề cá Quảng Ngãi vẫn giữ vai trò quan trọng nhất, đem lại thu nhập đời sống cho phần lớn ngư dân vùng biển. Giá trị sản xuất của ngành đánh bắt thủy sản chiếm khoảng 66% tổng giá trị sản xuất của kinh tế thủy sản. Phương tiện đánh bắt thủy sản chủ yếu bao gồm tàu thuyền và ngư lưới cụ. Lực lượng tàu thuyền đánh cá khá mạnh, hầu hết được lắp máy thủy có công suất từ 20CV đến trên 400CV. Chỉ trong 5 năm 2001 - 2005, số lượng tàu đánh cá xa bờ có công suất trên 90CV từ 129 chiếc tăng lên đến 628 chiếc, nâng công suất bình quân tàu thuyền toàn tỉnh từ 37CV/chiếc lên tới trên 60CV/chiếc, cao hơn so với mức bình quân của nghề cá cả nước. Ngoài ra, hầu hết tàu thuyền đánh bắt đã lắp đặt các thiết bị hiện đại như máy bộ đàm tầm xa, máy định vị, máy tầm ngư. Ngư cụ đánh bắt chủ yếu là các loại lưới sợi tổng hợp có tính năng ưu việt, ngày càng đa dạng và luôn được cải tiến kỹ thuật để thích hợp với từng ngư trường, mùa vụ. Do đặc điểm ngư trường nguồn lợi thủy sản hạn chế, cá chỉ xuất hiện theo mùa vụ nhất định cũng như thời tiết biển không cho phép hoạt động quanh năm, cho nên hàng năm có tới 60% - 70% lực lượng tàu thuyền di chuyển đánh bắt ở các ngư trường ngoài tỉnh, như các ngư trường Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Bắc Bộ. Hoạt động di chuyển ngư trường đánh bắt trở thành tập quán sản xuất của nghề cá địa phương. Tùy theo tập tính sinh sống của các loài thủy sản ở các vùng nước khác nhau (vùng khơi, vùng lộng, tầng đáy, tầng mặt), người ta phải sử dụng nhiều loại tàu thuyền và ngư cụ khác nhau, được phân chia ra thành những nghề đánh bắt khác nhau. Trong từng thời kỳ, cơ cấu thuyền nghề có sự thay đổi, phụ thuộc các yếu tố như biến động nguồn lợi thủy sản, nhu cầu sản phẩm hoặc du nhập nghề mới. Trong thực tế, một thuyền nghề chính có thể kiêm thêm nghề phụ khác, cho nên sự phân loại cũng chỉ là tương đối. Dưới đây chỉ giới thiệu khái quát một số loại thuyền nghề đánh bắt thủy sản tiêu biểu của nghề cá Quảng Ngãi từ trong truyền thống cho đến hiện nay(1). 1.1. NGHỀ LƯỚI KÉONghề lưới kéo (còn gọi là nghề giã cào) là một phương thức đánh bắt chủ lực của nghề cá Quảng Ngãi. Đến năm 2005, số lượng tàu thuyền làm nghề lưới kéo chiếm khoảng 1/3 tổng số tàu thuyền đánh bắt. Ngư dân Quảng Ngãi có tay nghề đánh bắt cá bằng lưới kéo rất cao so với các địa phương miền biển khác, tiêu biểu là ngư dân vùng biển cửa Đại (Cổ Lũy) và Sa Huỳnh. Nghề lưới kéo đánh bắt thủy sản sinh sống ở tầng đáy, nền đáy biển tương đối bằng phẳng, độ sâu thường từ 20 - 100m. Nếu phân loại theo đối tượng đánh bắt chính là cá và tôm thì nghề lưới kéo gồm có hai loại: lưới kéo đánh cá và lưới kéo đánh tôm. Nghề lưới kéo đánh cá thường phải sử dụng tàu thuyền có công suất lớn kéo chiếc lưới hình dạng túi, miệng túi được mở lớn bằng giềng phao ở trên, giềng chì ở dưới và hai cánh lưới ở hai bên cào sát đáy biển để bắt cá. Nghề lưới kéo phổ biến là dùng hai tàu để kéo lưới gọi là lưới kéo đôi (giã cào đôi), nếu dùng một tàu kéo lưới thì gọi là lưới kéo đơn (giã cào đơn). Nghề lưới kéo đánh bắt được nhiều loài cá, tôm, mực sống tầng đáy và gần đáy như: cá mối, cá phèn, cá mú, cá đù, cá hố, cá trác, cá liệt, mực nang, mực ống. Sản lượng thủy sản đánh bắt bằng nghề lưới kéo ước chiếm trên 50% tổng sản lượng. Nghề lưới kéo đánh bắt tôm (giã cào tôm) thường sử dụng tàu thuyền có công suất nhỏ hơn, từ 22CV đến 90CV, đánh bắt ven bờ, độ sâu từ 10 - 50m. Lưới giã cào tôm ở Quảng Ngãi phổ biến là lưới giã gọng, miệng lưới giã được gắn vào một khung sắt có thể cào sát đáy biển để bắt các loài tôm sú, tôm chì, tôm sắt, mực nang. Nghề lưới kéo hiện nay phần lớn sử dụng tàu có công suất lớn từ 90 CV trở lên tới trên 400CV, được cơ giới hóa trang bị hệ thống tời, cẩu khá hoàn chỉnh, giảm nhẹ sức lao động cho ngư dân. Ngư trường hoạt động của nghề lưới kéo từ phía nam đảo Lý Sơn đến Sa Huỳnh. Mùa vụ đánh bắt chính của nghề lưới kéo đánh cá từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm; mùa vụ của nghề lưới kéo đánh tôm chủ yếu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Thời gian sản xuất còn lại trong năm, nghề giã cào phải di chuyển đến các ngư trường ngoài tỉnh. 1.2. NGHỀ LƯỚI VÂYNghề lưới vây (còn gọi là nghề vây rút chì) là một trong những nghề quan trọng hiện nay, chiếm khoảng 17% tổng số tàu thuyền, chuyên đánh bắt các loài cá tầng nổi hoặc tầng giữa như các loài cá nục, cá ngừ, cá cơm, cá ngân. Hiện nay, nghề lưới vây phổ biến tập trung ở các xã vùng cửa biển Sa Kỳ, Sa Cần và huyện đảo Lý Sơn. Nguyên tắc đánh bắt của nghề lưới vây là khi phát hiện đàn cá, người ta dùng tàu thả lưới vây thành vòng tròn xung quanh đàn cá rồi kéo dây rút gọn giềng chì để thắt kín đáy không cho đàn cá thoát xuống dưới, sau đó thu dần vàng lưới, dồn cá vào tùng lưới(2) rồi dùng vợt xúc cá lên tàu. Tàu thuyền lưới vây ngày nay hầu hết đã được lắp máy công suất tới 155CV, chiều dài lưới (chu vi vòng vây đàn cá) khoảng 400m, chiều cao lưới có thể tới 80 - 100m có thể đánh bắt ở vùng nước xa bờ có hiệu quả. Nghề lưới vây đánh bắt đàn cá ban ngày gọi là lưới vây ngày. Nghề lưới vây dùng ánh sáng đánh bắt cá ban đêm gọi là nghề lưới vây ánh sáng. Ngư trường hoạt động từ vùng nước ven bờ ra đến vùng lộng, nơi có các đàn cá thường tập trung trú ngụ quanh vùng gò rạn hoặc gốc chà rạo. Mùa vụ đánh bắt chính từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm, lưới vây cá cơm có thể đánh bắt đến tháng 9. 1.3. NGHỀ LƯỚI RÊNghề lưới rê (còn gọi là nghề lưới cản) là một trong những nghề đánh bắt quan trọng, chiếm khoảng 6% số lượng tàu thuyền trong tỉnh. Nghề lưới rê là khái niệm chung chỉ loại nghề đánh bắt dựa trên nguyên tắc dùng lưới thả trôi chắn ngang hướng di chuyển của đàn cá để cá mắc dính vào lưới (thân cá đóng vào mắt lưới). Trên nguyên tắc đánh bắt của lưới rê, có các nghề lưới cản (lưới rê nilông), lưới rê cước, rê đáy, lưới chuồn. Trong đó nghề lưới cản là nghề quan trọng nhất. Ngư dân hành nghề lưới cản phổ biến ở vùng cửa biển Sa Cần và Sa Kỳ. Nghề lưới cản đánh bắt các loại cá di chuyển tầng nổi như cá ngừ, cá thu, cá nục lớn. Ngư trường đánh bắt khá rộng, từ vùng biển ven bờ ra đến vùng khơi. Hiện nay, tàu thuyền lưới cản được lắp máy công suất lên tới 155CV. Lưới rê các loại hiện nay được làm bằng lưới sợi tổng hợp dệt sẵn, kích thước mắt lưới cỡ 50mm đối với nghề lưới cản khơi, cỡ 30mm đối với nghề cản ven bờ (còn gọi là lưới thanh ba). Chiều dài lưới cản khơi có thể tới hàng chục nghìn mét, chiều cao lưới từ 15 - 20m. Mùa vụ đánh bắt từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm. 1.4. NGHỀ LƯỚI CHUỒNNghề lưới chuồn là nghề đánh cá truyền thống của ngư dân Quảng Ngãi, chuyên đánh bắt cá chuồn ở vùng biển khơi. Nguyên tắc đánh bắt của nghề lưới chuồn cũng như của nghề lưới rê nói chung. Khi đàn cá chuồn di chuyển ngang qua vàng lưới sẽ bị mắc lưới, sau đó người ta tiến hành thu lưới, gỡ cá. Trước kia, nghề lưới chuồn khá phổ biến ở các cửa biển trong tỉnh, sản lượng thu hoạch cao. Trong những năm gần đây trữ lượng giảm sút, sản phẩm cá chuồn khó tiêu thụ nên nghề lưới chuồn bị thu hẹp dần. Nghề lưới chuồn hiện nay chủ yếu tập trung ở vùng cửa biển Sa Huỳnh. Lưới chuồn được làm bằng lưới cước màu trắng dệt sẵn, kích thước mắt lưới khoảng 20 - 25mm, chiều cao lưới chỉ từ 1,5 - 2m, chiều dài lưới có thể đến 15 - 20km. Mùa vụ đánh bắt chính từ tháng 1 đến tháng 5. 1.5. NGHỀ MÀNH ĐÈNNghề mành đèn là nghề truyền thống lâu đời của ngư dân vùng biển, thường đánh bắt cá nhỏ ven bờ như cá nục, cá trích, cá bạc má, mực ống. Nghề mành đèn hoạt động vào ban đêm, dựa trên nguyên tắc dùng ánh sáng đèn măngsông hoặc đèn nêông để thu hút đàn cá. Trước khi trời tối người ta lựa chọn những nơi gần cồn rạn, cá thường hay trú ngụ để thả neo và bắt đầu chong đèn sáng. Ban đêm, những đàn cá thường bị thu hút vào vùng ánh sáng. Khi quan sát thấy đàn cá bị ánh sáng thu hút mạnh đến độ "say đèn", người ta lựa chiều gió, hướng nước chảy thích hợp rồi thả lưới giăng sẵn; sau đó di chuyển ánh sáng để dẫn đàn cá vào trên miệng lưới rồi nhanh chóng cất lưới lên để bắt cá. Nếu thời tiết, gió, nước thuận lợi, mỗi đêm có thể đánh lưới từ 2 - 3 lần. Mùa vụ đánh bắt của nghề mành đèn thường từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm. 1.6. NGHỀ MÀNH CHÀNghề mành chà cũng là nghề truyền thống lâu đời của ngư dân vùng biển. Lợi dụng tập tính các loài cá nổi thường tập trung núp bóng ở các gò, rạn, vật trôi nổi trong nước, ngư dân thường thả những gốc chà rạo(3) dọc ven biển để thu hút các loại cá nổi nhỏ như cá nục, cá chỉ vàng... Khi đàn cá di chuyển qua, gặp các gốc chà rạo chúng thường tụ tập lại để "dựa bóng" bắt mồi. Khi quan sát thấy đàn cá tụ tập nhiều, người ta lựa chiều gió, hướng nước chảy thích hợp rồi thả lưới mành để bắt cá. Những cây chà "hay" là những cây chà có vị trí thích hợp cá thường tụ tập nhiều nhất, mỗi năm có thể giúp ngư dân đánh bắt hàng chục tấn cá. Nghề mành chà trước kia rất phổ biến, nhưng khoảng hơn chục năm trở lại đây đã bị mai một dần, hiện nay không còn do nguồn lợi thuỷ sản ven bờ giảm sút cùng với tệ nạn đánh cá bằng chất nổ đã hủy hoại hầu hết các gốc chà. Nghề mành chà truyền thống nếu được khôi phục là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ rất hiệu quả. 1.7. NGHỀ CÂU KHƠINghề câu khơi thường đánh bắt các loại cá nhám, cá mập để lấy vây cá (vi cá) làm hàng thủy sản xuất khẩu. Trước kia nghề này khá phổ biến đối với vùng biển miền Trung, nhưng hiện nay đã giảm dần, một số tàu thuyền gần đây đã chuyển sang nghề câu cá ngừ đại dương. Tàu thuyền nghề câu khơi có công suất tới 155CV, có kết cấu vững chãi đủ sức chịu đựng sóng gió biển khơi dài ngày, mỗi chuyến biển có khi kéo dài tới 2 - 3 tuần. Cấu tạo vàng câu gồm có dây câu chính, chiều dài có khi hàng chục cây số, dọc trên chiều dài là các thẻo câu có gắn lưỡi câu, chiều dài thẻo câu có thể thay đổi tùy theo độ sâu tầng nước cá di chuyển. Mồi câu là các loại cá nhỏ như cá chuồn, cá nục được móc vào lưỡi câu. Khi trời bắt đầu tối người ta tiến hành móc mồi thả câu, quá nửa đêm về sáng người ta bắt đầu thu câu, gỡ cá. Ngư trường hoạt động của nghề câu khơi phần lớn là vùng biển khơi, có khi cách xa bờ hàng trăm hải lý. Mùa vụ hoạt động chính từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm. 1.8. NGHỀ CÂU MỰC KHƠINghề câu mực khơi (còn gọi là nghề câu mực xà) là nghề mới xuất hiện ở Quảng Ngãi từ sau năm 1990 trở lại đây nhưng phát triển khá nhanh. Ngư dân làm nghề này tập trung chủ yếu ở các xã vùng cửa biển Sa Cần, chuyên đánh bắt các loại mực ống kích thước lớn, sinh sống ở vùng biển khơi. Mỗi chuyến đi biển, tàu câu mực thường chở theo 15 - 20 chiếc thuyền thúng ra ngư trường khơi cách bờ từ hàng chục đến hàng trăm hải lý tùy theo mùa vụ. Câu mực được tiến hành vào ban đêm, đến ngư trường người ta thả thúng xuống biển, mỗi người một thúng, một đèn thả trôi quanh thuyền để câu. Nghề câu mực xà thường gặp nguy hiểm đến tính mạng khi có sóng to, gió lớn bất ngờ. Nguyên tắc đánh bắt của nghề câu mực khơi là dùng lưỡi câu chùm có móc mồi câu (mồi bằng cá chuồn) thả xuống nước biển sâu có thể tới 30 - 70m. Khi con mực đã bám vào mồi thì giật nhẹ dây câu để lưỡi câu móc vào thân mực rồi nhanh chóng kéo con mực lên thuyền. 1.9. NGHỀ PHA XÚCNghề pha xúc du nhập vào Quảng Ngãi từ những năm cuối thập kỷ 90 (thế kỷ XX) trở lại đây, chủ yếu đánh bắt những đàn cá cơm xuất hiện di chuyển theo dòng hải lưu vào sát ven bờ. Ngư dân hành nghề pha xúc tập trung ở các xã vùng cửa biển Sa Kỳ. Nguyên lý đánh bắt của nghề pha xúc là sử dụng ánh sáng cực mạnh của chùm đèn pha có công suất từ 5.000W - 10.000W để thu hút đàn cá nổi lên gần mặt nước, rồi ngay lập tức dùng lưới để xúc cá lên thuyền. Mùa vụ khai thác chính cho sản lượng cao nhất là từ tháng 2 đến tháng 4. 1.10. NGHỀ LƯỚI CÁ CƠM ĐẢO Lý SơnĐây là nghề đánh bắt cá cơm bằng lưới đóng, mang tính chất đặc thù chỉ có ở đảo Lý Sơn. Ngư dân dùng thuyền gắn máy nhỏ hoặc thuyền thúng thả lưới ngay trong vùng cá cơm di chuyển hay trú ngụ. Cá cơm đánh bắt được ở vùng biển quanh đảo là loại cá cơm xanh (còn gọi là cá cơm quế). Lưới đánh bắt cá cơm là loại lưới cước đan bằng tay có kích thước mắt lưới nhỏ. Ngư dân đảo Lý Sơn thường thả lưới vào lúc 3 - 4 giờ sáng, ngâm lưới khoảng vài tiếng đến rạng sáng thì kéo lưới. Nghề này hầu như hoạt động quanh năm, mang lại thu nhập thường xuyên cho ngư dân trên đảo. 1.11. NGHỀ LẶN BIỂNNghề lặn khá phổ biến và nổi tiếng nhất là ngư dân vùng đảo Lý Sơn, vùng cửa Sa Kỳ (xã Bình Châu), họ có thể lặn tới độ sâu 30m - 40m nước. Dụng cụ lặn đơn giản chỉ gồm máy nén khí và đường ống dẫn khí. Người lặn ngậm ống cao su được cung cấp khí liên tục bằng máy nén khí, nhờ đó người ta có thể lặn dưới nước hàng giờ để bắt các loài cá, tôm hùm, ốc biển, hải sâm. Ngư trường của nghề lặn bắt hải sản là các gò rạn từ vùng ven bờ cho tới các quần đảo ngoài khơi xa như Trường Sa, Hoàng Sa. Ngoài những nghề chủ yếu nói trên, còn có nhiều loại nghề nhỏ khác đánh bắt hải sản ven bờ như nghề mành trủ, nghề lưới rạn, nghề lưới rùng, câu tay, câu mực. Phương tiện đi biển bằng thuyền chèo, thuyền thúng hoặc thuyền lắp máy nhỏ. Đánh bắt thủy sản nội địa trên sông, suối, ao hồ còn có các nghề đóng đáy, kéo rớ, quăng chài, lưới quét. Ngoài ra, còn có các nghề như đặt nơm, thả ống bắt cá bống, cào lịch, nhủi don để đánh bắt các loài thủy sản trên sông Trà Khúc, sông Vệ, vv. 2. NUÔI TRỒNG THỦY SẢNNuôi trồng thủy sản là khái niệm chỉ hai hoạt động "nuôi" và "trồng" các loài thủy sản, gồm nuôi các loài động vật như cá, tôm, cua, ếch và trồng các loại thực vật như rong câu chỉ vàng, rong sụn. Nuôi trồng thủy sản ở Quảng Ngãi mới chỉ bao gồm nuôi thủy sản nước lợ và nuôi thủy sản nước ngọt; nuôi trồng thủy sản nước mặn chưa phát triển. Do đặc điểm địa hình tự nhiên không thuận lợi, sông ngòi ngắn và dốc, lũ lụt, hạn hán thường xảy ra, cho nên nhìn chung nuôi trồng thủy sản không phải là nghề truyền thống lâu đời của người dân Quảng Ngãi. Nuôi thủy sản chỉ thực sự phát triển từ cuối những năm 1980, đến nay đã trở thành nghề sản xuất chính của một bộ phận cư dân vùng ven sông, ven biển. Giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản năm 2005 chiếm khoảng 18% tổng giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản và ngày càng có nhiều triển vọng, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn ven biển(4). 2.1. NUÔI THỦY SẢN NƯỚC LỢNuôi thủy sản nước lợ ở Quảng Ngãi chủ yếu là nuôi tôm, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nghề nuôi thủy sản nói chung, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, góp phần quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủy sản vùng nông thôn ven biển. Lợi dụng bãi triều ven sông, gần cửa biển người dân đào ao, đắp bờ, xẻ kênh dẫn nước vào ao để nuôi tôm. Hình thức kỹ thuật nuôi tôm ngày càng tiến bộ, từ nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến đến nuôi bán thâm canh và thâm canh. Diện tích, năng suất và sản lượng tôm nuôi không ngừng tăng lên. Từ năm 1990 đến năm 2005, diện tích nuôi tôm tăng 4 lần, sản lượng thu hoạch tăng 16 lần. Tuy nhiên, nhìn chung diện tích nuôi tôm phát triển tự phát, các công trình thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản chưa được đầu tư đồng bộ, môi trường vùng nuôi gần đây có hiện tượng ô nhiễm, gây ra dịch bệnh, nhất là đối với tôm sú nuôi vùng triều. Tôm nuôi chủ yếu là loại tôm sú (tên khoa học là Penaeus monodon) có giá trị kinh tế cao, được nuôi chủ yếu ở vùng triều, năng suất trung bình khoảng từ 1,0 - 1,5 tấn/ha/vụ. Trong vài năm gần đây, do tình hình nuôi tôm sú thường gặp dịch bệnh, đồng thời để đáp ứng nhu cầu của thị trường người ta du nhập giống tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) vào nước ta. Từ năm 2003, Quảng Ngãi bắt đầu nuôi thử nghiệm tôm thẻ chân trắng trên vùng đất cát, đến năm 2005 diện tích khoảng 150ha, năng suất bình quân đạt 10 tấn/ha. Mỗi năm có thể nuôi từ 2 - 3 vụ tôm thẻ chân trắng, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Nuôi tôm trên vùng đất cát đang có xu hướng phát triển mạnh bằng cách sử dụng vật liệu chống thấm, tận dụng diện tích đất cát ven biển hoang hóa để đào đắp ao nuôi tôm. Tuy nhiên, cần phải có quy hoạch và giải pháp đồng bộ để hạn chế ảnh hưởng suy thoái môi trường ven biển. Ngoài ra, ngành thủy sản đang tiến hành nuôi thử nghiệm nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế, góp phần đa dạng đối tượng nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế bền vững. Song song với nghề nuôi tôm, nghề sản xuất tôm giống ở Quảng Ngãi từng bước phát triển. Sản xuất tôm giống nhân tạo đòi hỏi quy trình kỹ thuật sinh học phức tạp. Từ năm 1993, ngành thủy sản đã ứng dụng thành công quy trình sinh sản nhân tạo giống tôm sú. Hiện nay, nghề sản xuất tôm sú giống mới chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu trong tỉnh. Đối với giống tôm thẻ chân trắng là giống tôm mới nhập nội, ngành thủy sản đang đầu tư nghiên cứu để có thể sản xuất tại chỗ cung cấp giống cho người nuôi tôm trong tỉnh. 2.2. NUÔI THỦY SẢN NƯỚC NGỌTTừ sau ngày giải phóng, nghề nuôi cá nước ngọt ở Quảng Ngãi mới bắt đầu được chú ý từ phong trào "ao cá Bác Hồ". Cơ sở nuôi cá nước ngọt được tổ chức đầu tiên ở hồ Liệt Sơn (huyện Đức Phổ), thành lập trại sản xuất cá giống tại Phổ Hòa (huyện Đức Phổ), cung cấp cho phong trào nuôi cá trong tỉnh. Sau khi tái lập tỉnh (1989), nghề nuôi cá nước ngọt mới phát triển tương đối đều khắp từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Một số hồ chứa nước thủy lợi như Liệt Sơn, An Thọ, Núi Ngang đã được tận dụng để thả cá, hàng năm sản lượng thu hoạch hàng trăm tấn. Đầm nước ngọt An Khê (huyện Đức Phổ) cũng được người dân tổ chức nuôi cá với hình thức đăng quầng khá hiệu quả. Hàng nghìn hộ dân đã được tập huấn hướng dẫn tiếp thu kỹ thuật, cho nên phong trào nuôi cá nước ngọt trong ao hồ nhỏ với quy mô gia đình ngày càng phổ biến. Diện tích nuôi cá nước ngọt đến năm 2005 có khoảng 670ha, sản lượng thu hoạch khoảng 800 tấn, góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân vùng nông thôn từ đồng bằng đến vùng trung du, miền núi. Hiện nay, nhu cầu nguyên liệu cá nước ngọt phục vụ cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa bắt đầu tăng lên, thu hút sự quan tâm đầu tư của nông dân và các doanh nghiệp. Người ta đã đầu tư nuôi nhiều loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao hơn như cá tra, cá rô phi đơn tính, cá lóc, cá chình, ba ba, cá bống tượng, lươn, ếch. Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ chưa ổn định nên nghề nuôi cá nước ngọt ở Quảng Ngãi chưa có điều kiện phát triển nhanh. 2.3. NUÔI TRỒNG THỦY SẢN NƯỚC MẶNNuôi trồng thủy sản nước mặn thường được tiến hành ở vùng nước biển, nơi có những vũng, vịnh ven biển kín gió. Địa hình ven biển Quảng Ngãi chủ yếu là bãi ngang chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng to, gió lớn từ biển khơi, không có vũng vịnh kín, chỉ có duy nhất đầm nước mặn Sa Huỳnh nhỏ hẹp, cho nên điều kiện để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn rất hạn chế. 3. CHẾ BIẾN THỦY SẢNNgành chế biến thủy sản Quảng Ngãi bao gồm chế biến nước mắm, chế biến thủy sản khô, chế biến thủy sản đông lạnh. Sản phẩm chế biến thủy sản rất phong phú, đa dạng, phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Năm 2005, giá trị thủy sản chế biến chiếm khoảng 16% tổng giá trị sản xuất của ngành thủy sản. 3.1. CHẾ BIẾN NƯỚC MẮMChế biến nước mắm là một trong những nghề sản xuất chính mang tính truyền thống song song với nghề đánh bắt của cư dân các vùng cửa biển Quảng Ngãi. Từ xa xưa, người dân miền Trung nói chung và người dân Quảng Ngãi nói riêng đã biết chế biến nước mắm, mắm cái từ các loài cá cơm, cá nục thành thức ăn phổ biến. Sản phẩm nước mắm có tiếng ở Quảng Ngãi được sản xuất ở vùng cửa Lở, thuộc xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Sản lượng nước mắm trong tỉnh hiện nay ước khoảng từ 3 - 4 triệu lít/năm. Ngoài ra, người dân xứ Quảng theo tập quán còn biết tự chế biến nước mắm để dùng trong gia đình, nhất là khi biển được mùa cá cơm, cá nục. Cách thức chung sản xuất nước mắm truyền thống là cá cơm, cá nục được đưa thẳng từ bến về đến nhà thùng (cơ sở chế biến). Cá được trộn đều với muối theo tỷ lệ khoảng 3 cá 1 muối rồi chứa trong những thùng gỗ lớn dung tích hàng nghìn lít. Sau khoảng 4 - 6 tháng có thể rút nước mắm ra để dùng. Có thể pha chế thành nước mắm nhất, nước mắm nhì để tiêu thụ với giá bán khác nhau phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Cách thức chế biến mắm cái cũng gần tương tự như chế biến nước mắm, cá và muối cũng trộn chung theo tỷ lệ trên, được chứa trong những thạp sành nhỏ khoảng vài chục lít. Khi thân cá đã phân hủy (chín nẫu), hết mùi tanh của cá tươi là có thể dùng được. Từ xa xưa, món mắm cái như là thức ăn chính của người dân xứ Quảng, nhất là vào mùa mưa gió, biển động. Ngoài ra, cư dân vùng biển Quảng Ngãi còn chế biến một số loại mắm đặc sản truyền thống như mắm mực, mắm cá dảnh, mắm ruốc, mắm nhum. Mắm nhum thường sản xuất ở Sa Huỳnh, lấy từ thân con nhum cầu gai vốn sống ở các khe đá gành biển. Đời nhà Nguyễn, mắm nhum cung tiến lên vua nên còn gọi là mắm tiến: "Mắm nhum: sản vật ở các đảo ngoài biển, khoảng đời Minh Mạng đặt bộ mắm nhum 5 người, mỗi năm phải nộp 12 cân mắm"(5). 3.2. CHẾ BIẾN HẢI SẢN KHÔChế biến hải sản khô là nghề truyền thống của cư dân vùng biển, nhất là khi biển được mùa, cá tươi tiêu thụ không kịp thì người ta chế biến thành cá khô để tiêu thụ dần. Phương pháp sản xuất truyền thống là phơi khô các loại cá, tôm, mực đánh bắt được. Loại cá nhỏ thì phơi nguyên con, loại cá lớn thì phải xẻ banh thân cá để phơi mau khô hơn, có loại cá muốn chế biến khô phải qua công đoạn hấp chín rồi mới phơi khô. Các loại hải sản chế biến khô thường là các loài cá có thân thịt ít chất béo như cá cơm, cá chuồn, cá phèn, cá hố, cá mối, cá đù, tôm sắt, ruốc, mực ống. Nơi tiêu thụ là các vùng nông thôn, vùng trung du, miền núi và các tỉnh cao nguyên. Sản phẩm hải sản khô ngày nay đa dạng hơn và được cải tiến nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và có thể xuất khẩu như cá cơm khô, cá khô tẩm gia vị, ruốc khô, mực khô lột da. Phương pháp sấy khô không chỉ là phơi nắng mà còn sử dụng các máy móc thiết bị sấy khô nhân tạo đảm bảo chất lượng và vệ sinh thực phẩm. Sản lượng thủy sản khô của Quảng Ngãi mỗi năm ước khoảng 700 - 800 tấn. Nghề chế biến hải sản khô tập trung ở vùng cửa biển Sa Kỳ, Sa Huỳnh, đảo Lý Sơn. Hiện nay, một số doanh nghiệp tư nhân đang đầu tư nhà xưởng, trang thiết bị hiện đại nhằm sản xuất hàng thủy sản khô chất lượng cao để xuất khẩu tới các thị trường Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc... 3.3. CHẾ BIẾN THỦY SẢN ĐÔNG LẠNHChế biến thủy sản đông lạnh mang tính chất sản xuất công nghiệp, sử dụng máy móc thiết bị để chế biến, bảo quản thủy sản phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Nhà máy chế biến đông lạnh đầu tiên bắt đầu được xây dựng từ năm 1977 là Nhà máy đông lạnh Quảng Ngãi (Factory 15) với công suất 800 tấn sản phẩm/năm. Nhà máy là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản đầu tiên mang lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho địa phương trong suốt thời kỳ 1980 - 1990. Từ năm 2000 đến nay, các thành phần kinh tế đã đầu tư thêm 8 nhà máy đông lạnh trên địa bàn tỉnh, nâng tổng công suất chế biến xuất khẩu khoảng 6.000 tấn/năm. Hầu hết các nhà máy chế biến thủy sản nằm trong Khu Công nghiệp Quảng Phú tại thành phố Quảng Ngãi. Các loại sản phẩm chế biến đông lạnh từ cá, tôm, mực để xuất khẩu rất phong phú như cá philê đông lạnh, cá đông lạnh cắt khúc, tôm đông lạnh bóc vỏ, tôm đông lạnh còn vỏ bỏ đầu, mực nang đông lạnh nguyên con, mực nang philê đông lạnh. Giá trị hàng hóa thủy sản xuất khẩu của Quảng Ngãi năm 2005 đạt 3,49 triệu USD. Thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Trong thời gian tới, một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng dây chuyền chế biến sản phẩm thủy sản đóng gói cao cấp, không những phục vụ nhu cầu xuất khẩu mà còn cung cấp cho các nhà hàng, siêu thị và các khu kinh tế, khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh. 4. ĐÓNG MỚI VÀ SỬA CHỮA TÀU THUYỀNNgư dân Quảng Ngãi có truyền thống và kinh nghiệm đi biển cho nên nghề đóng sửa tàu thuyền cũng sớm phát triển, ban đầu là những ghe nan, thuyền buồm và sau này có thể đóng được những con thuyền gỗ lớn, kết cấu vững chắc đủ sức chống chọi với sóng gió khắc nghiệt của vùng biển miền Trung. Tàu thuyền đánh cá vỏ gỗ được đóng bằng các loại gỗ tốt như gỗ sao, gỗ kiền kiền, có độ bền chịu được trong môi trường nước biển. Đời nhà Nguyễn, nhà nước cũng có xưởng đóng tàu, thời kỳ đầu đóng ở Xuân Quang, Phú Nhân, sau chuyển đến Phú Thọ (đều ở phía đông huyện Tư Nghĩa)(6). Đây chắc chắn là xưởng đóng thuyền vận tải cho nhà nước, và hẳn thợ thuyền là những người dân địa phương. Thợ đóng sửa tàu thuyền đánh cá chủ yếu là người địa phương tập hợp thành những đội thợ chuyên nghiệp. Kỹ thuật đóng tàu chủ yếu theo kinh nghiệm dân gian, được học hỏi truyền nghề lẫn nhau. Hình dáng, kết cấu tàu thuyền Quảng Ngãi thường chắc chắn, khả năng chịu đựng sóng gió tốt. Nghề đóng tàu tập trung ở những vùng cửa biển có nghề đánh bắt phát triển. Người ta đóng tàu theo kỹ thuật dân gian, không cần phải có mặt bằng nhà xưởng quy mô lớn. Chỉ cần một bãi trống hẹp tương đối bằng phẳng, thoai thoải ven sông, sau khi con tàu đóng xong có thể hạ thủy một cách nhẹ nhàng. Nghề đánh bắt khơi xa thì đóng tàu lớn, nghề đánh bắt ven bờ thì đóng tàu nhỏ. Máy thủy được mua về và lắp đặt khi đóng xong vỏ tàu. Cấu tạo chung của loại tàu đánh cá vỏ gỗ hiện nay gồm: đà chính (ky tàu), sống mũi (xỏ), khung sườn (cong giang), vỏ tàu, sàn tàu (xa quạ), cabin (buồng lái, buồng ngủ), hầm tàu để chứa lưới và chứa cá, hệ thống lái. Gỗ cây được xẻ ra theo kích thước đã định và được lắp ráp liên kết với nhau một cách vững chắc. Phương pháp liên kết vật liệu gỗ đóng tàu trước kia chủ yếu được ghép mộng hoặc dùng chốt tre, chốt gỗ, ngày nay được liên kết bằng buloong thép chắc chắn hơn nhiều. Đến 2005, Quảng Ngãi có 5 cơ sở đóng sửa tàu thuyền, có thể đóng được tàu đánh cá có chiều dài đến 20m, lắp máy thủy công suất tới 400CV, chất lượng tương đối tốt. Mỗi cơ sở có thể đóng được gần chục chiếc tàu mỗi năm, thời gian đóng mới một con tàu trung bình khoảng 3 - 4 tháng. Tuy nhiên, các cơ sở đóng tàu thuyền trong tỉnh đều có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp, người thợ đóng sửa tàu thuyền chủ yếu bằng tay nghề theo kinh nghiệm dân gian. 5. KẾT CẤU HẠ TẦNG VÀ DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁTrước đây, kết cấu hạ tầng và dịch vụ nghề cá ở Quảng Ngãi ít phát triển. Hiện nay, cùng với sự phát triển chung, lĩnh vực này ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế thủy sản. Cơ sở kết cấu hạ tầng phục vụ cho nghề cá bao gồm hệ thống luồng lạch, cảng cá, bến cá, chợ cá, công trình thủy lợi như trạm bơm, hồ chứa nước, kênh mương dẫn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản có vai trò rất quan trọng để cho nghề cá phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay bằng nhiều nguồn vốn, nhà nước đang đầu tư xây dựng các công trình dự án: Thông luồng và xây dựng cảng cá Sa Huỳnh (xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ), công suất tiếp nhận 500 tàu cá cỡ từ 45 - 400CV; vũng neo đậu tàu thuyền và khu dịch vụ hậu cần nghề cá Lý Sơn (xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn), công suất tiếp nhận 500 tàu cá; cảng neo trú tàu thuyền Tịnh Hòa (xã Tịnh Hòa, huyện Sơn Tịnh), công suất tiếp nhận 350 tàu, các công trình này dự tính hoàn thành vào năm 2006 - 2007. Trong giai đoạn tới, tiếp tục đầu tư nạo vét thông luồng, xây dựng cảng bến và vũng neo đậu tàu thuyền tại các cửa biển Sa Kỳ, Mỹ Á, cửa Đại, Sa Cần để hình thành những trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thủy sản trong tương lai. Hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá cũng là một lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thủy sản hiện đại, nhằm cung ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay mạng lưới cơ sở đại lý, dịch vụ hậu cần nghề cá đã có đều khắp các cửa biển nhưng hầu hết là tự phát, quy mô còn nhỏ bé. (2) Tùng lưới: tên gọi một bộ phận trong vàng lưới vây có kích thước mắt lưới dày hơn, có tác dụng chứa cá sau khi đã kéo rút xong giềng phao, giềng chì và chuẩn bị vớt cá trong tùng lưới lên tàu.(3) Chà rạo: Tên gọi một loại ngư cụ trong nghề cá ven bờ dùng để thu hút, tụ tập đàn cá. Chà rạo thường làm bằng một bó khoảng 3 - 4 thân cây lồ ô, xung quanh kết lá dừa được ngư dân thả xuống biển, chúng được cố định bằng rọ đá nặng để khỏi bị cuốn trôi.(5) Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, sđd.(6) Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, sđd, tr. 136. |
||||