Trở về

I. CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP TỪ 1885 ĐẾN 1930

1. PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG (1885 - 1896)

Đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 tháng 7.1885, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn Nghĩa quân mở cuộc tấn công đồng loạt vào đồn Mang Cá, khu nhượng địa, khu sứ quán của thực dân Pháp ở kinh thành Huế. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Rạng sáng ngày 5.7, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi cùng Tam Cung rời khỏi kinh thành. Trên đường ra Sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị) để tiếp tục kháng Pháp, Tôn Thất Thuyết thông báo cho cả nước biết việc vua Hàm Nghi xuất bôn, đồng thời nhân danh nhà vua kêu gọi mọi người "Cần vương" cứu nước(1).

Ngày 13.7.1885 (1.6 năm Ất Dậu), hưởng ứng lời kêu gọi Cần vương, tại Quảng Ngãi, Chánh quản Hương binh Bình Sơn là Cử nhân Lê Trung Đình và Phó quản Hương binh là Tú tài Nguyễn Tự Tân đã tập hợp 3.000 nghĩa quân kéo về tỉnh thành đòi các quan đầu tỉnh cấp khí giới, lương thực để hưởng ứng chiếu Cần vương, nhưng quyền Bố chánh Lê Duy Thụy và quyền Án sát Nguyễn Văn Dụ đã tìm cách từ chối. Ngay trong đêm ấy, Lê Trung Đình làm lễ tế cờ ở bãi sông Trà Khúc trước đền Văn Thánh (Văn Miếu Quảng Ngãi), phát binh vượt sông tấn công tỉnh thành.

Được Hiệp quản Trần Tu, Thành thủ úy Nguyễn Côn và binh lính yêu nước tại tỉnh thành làm nội ứng, nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm được tỉnh thành, bắt giam quyền Bố chánh Lê Duy Thụy, quyền Án sát Nguyễn Văn Dụ, đồng thời phát động phong trào kháng chiến ra khắp toàn tỉnh Quảng Ngãi để chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài dưới ngọn cờ Cần vương.

Ngày 17.7.1885, do sự phản bội của Nguyễn Thân và Đinh Văn Hội, cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình bị đàn áp, thủ lĩnh Lê Trung Đình bị xử tử, song sự kiện lịch sử này không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với Quảng Ngãi mà còn có vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp trong cả nước. Đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên hưởng ứng phong trào Cần vương cứu nước, đóng vai trò châm ngòi và khởi động cho nhiều cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh bùng nổ ngay sau đó, làm cho kẻ thù và tay sai hoảng hốt, lo sợ.

Sau khi cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình thất bại, những thủ lĩnh còn lại của Nghĩa hội Quảng Ngãi như Nguyễn Bá Loan, Tôn Tường, Thái Thú, Nguyễn Vịnh, Nguyễn Tấn Kỳ, Nguyễn Lân, Nguyễn Quý... đã cùng nhau tập hợp lực lượng cũ, phát triển thêm lực lượng mới (lên đến 12.000 người), đặt dưới sự thống lãnh của Nguyễn Bá Loan. Tinh thần yêu nước của phong trào thể hiện trong khẩu hiệu đấu tranh: "Tiễu tặc, trừ gian, bình quốc loạn", thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Ngoài lực lượng ở trung châu, các thủ lĩnh của phong trào còn huy động lực lượng kháng chiến của nhân dân miền núi, nổi bật là đội quân của các tù trưởng miền núi Đinh Đoàn, Đinh Đầu ở Ba Tơ; Đinh Tăm, Đinh Rin, Đinh Mút ở Minh Long; Đinh Ó ở Sơn Hà; Đinh Bó ở Trà Bồng,... Sự thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh đã phản ánh tinh thần đoàn kết và quyết tâm cứu nước của nhân dân các dân tộc Quảng Ngãi trong phong trào yêu nước chống Pháp và tay sai, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Từ cuối năm 1885 đến 1887, để chống lại đội quân tay sai do Nguyễn Thân cầm đầu, đồng thời đánh Pháp xâm lược, lực lượng Cần vương Quảng Ngãi đã liên kết với lực lượng Cần vương Quảng Nam và Bình Định. Đây là một bước phát triển mới, đồng thời là một đặc điểm của phong trào Cần vương Nam Trung Kỳ. Nghĩa quân ba tỉnh không chỉ hỗ trợ nhau trong chiến đấu mà còn liên kết chặt chẽ trong từng trận đánh. Lực lượng Nghĩa hội của mỗi tỉnh được phân công chiến đấu theo hướng đã định nhưng đều nhằm tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho phong trào Cần vương các tỉnh cùng tồn tại và phát triển. Bất chấp triều đình tay sai Đồng Khánh liên tiếp ra các đạo dụ vừa phỉnh phờ, vừa đe dọa, kêu gọi văn thân các tỉnh Trung Kỳ ra đầu thú, làn sóng đấu tranh yêu nước vẫn không ngừng lan rộng. Nghĩa quân bao vây, tập kích các trung tâm chính trị (tỉnh lỵ, phủ lỵ, huyện lỵ), các căn cứ quân sự (hệ thống đồn lũy thuộc Sơn phòng Nghĩa Định), tấn công kẻ thù theo cách đánh trận địa chiến, du kích chiến với các mũi tấn công phối hợp. Mỗi trận đánh được tiến hành bằng một chiến thuật khác nhau, có lúc cùng tiến công, có lúc lại đánh nghi binh, vừa đánh, vừa cầm chân địch. Chỉ riêng lực lượng Cần vương Quảng Ngãi và Bình Định đã phối hợp với nhau đánh 12 trận trên địa bàn Quảng Ngãi và bắc Bình Định, buộc Nguyễn Thân đối phó vất vả, liên tục tâu xin triều đình Đồng Khánh và thực dân Pháp bổ sung lực lượng, tăng viện vũ khí.

Từ đầu năm 1887, Nguyễn Thân mở cuộc đàn áp khốc liệt ở Quảng Ngãi, làm cho phong trào Cần vương ở đây suy yếu dần và đi đến thất bại. Nguyễn Bá Loan đưa nghĩa quân lên vùng rừng núi, tiếp tục liên kết với phong trào Cần vương Quảng Nam và Bình Định, hoạt động thêm một thời gian nữa cho đến khi các phong trào ở các tỉnh này tan rã.

Từ sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888), phong trào yêu nước dưới ngọn cờ Cần vương quy tụ thành các cuộc khởi nghĩa lớn mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896) do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Phong trào yêu nước chống Pháp ở các tỉnh Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX tạm lắng xuống nhưng vẫn tồn tại và chuyển thành những đợt sóng ngầm với những cuộc vận động yêu nước được nhen nhóm, sau đó bùng lên mạnh mẽ với các cuộc khởi nghĩa của Đào Công Bửu, Lê Công Chánh ở Nam Kỳ (1893), Võ Trứ và Trần Cao Vân ở Phú Yên (1898)...

Trong bối cảnh chung của cả nước, phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Ngãi cũng có những thăng trầm. Sau thời gian khôi phục lực lượng, đến 1893 lại chuẩn bị nổi dậy nhưng liền bị đàn áp đẫm máu. Cuộc vận động cứu nước ngấm ngầm cho đến cuối năm 1894 lại bùng lên một lần nữa. Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hương Khê, Nguyễn Vịnh, Thái Thú cùng Tôn Đính, Bạch Văn Vĩnh... bí mật tổ chức lại lực lượng yêu nước trong tỉnh, liên kết với phong trào Cần vương Hà Tĩnh do Phan Đình Phùng lãnh đạo, vạch ra kế hoạch "nội công, ngoại kích" để đánh chiếm tỉnh thành và đồn Thương chính Cổ Lũy. Đêm mồng 7, rạng ngày 8.12 năm Giáp Ngọ (1894), dưới sự chỉ huy của Thái Thú, nghĩa quân đã phối hợp với quân "Bạch lộ" nhanh chóng tiêu diệt đồn Cổ Lũy, giết viên Thương chính người Pháp là Râyna (Reignard), song cuộc đánh chiếm tỉnh thành do Nguyễn Vịnh chỉ huy không thực hiện được vì kế hoạch phối hợp không khớp. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, nhưng đã đặt cơ sở trực tiếp cho cuộc vận động cứu nước của Trần Du ngay sau đó.

Bất chấp sự khủng bố của kẻ thù, Trần Du cùng với những người yêu nước kiên trung như Thọ Nam, Thạch Hồ... tìm cách kết giao với những người yêu nước, bí mật vận động các nhà khoa bảng, thân hào, nhân sĩ và nhân dân giương cao ngọn cờ chống Pháp và phong kiến tay sai.

Tính chất dân tộc của cuộc vận động cứu nước được nhấn mạnh khi Trần Du đề ra khẩu hiệu đấu tranh "Cứu quốc, Hộ dân" để tập hợp lực lượng và được các tầng lớp nhân dân Quảng Ngãi nhiệt liệt hưởng ứng, tham gia. Nhiều nhà nho yêu nước (như Tú tài Trần Kỳ Phong, Lê Ngung,...), kể cả quan lại, binh sĩ triều đình tại Quảng Ngãi (như Tiễu phủ sứ Sơn phòng Nghĩa Định Trịnh Thể...) đã bí mật tham gia công cuộc cứu nước. Trần Du được nghĩa quân đồng lòng tôn làm "Bình Tây Đại tướng quân". Để gây thanh thế chung cho phong trào chống Pháp trong cả nước, đồng thời để tạo sức mạnh cho cuộc vận động khởi nghĩa, Trần Du bí mật liên hệ với nghĩa quân Phan Đình Phùng và mở rộng cuộc vận động cứu nước đến các văn thân, hào phú, binh lính, nông dân yêu nước các tỉnh Bình Định, Phú Yên. Cuộc vận động cứu nước của Trần Du đang trên đà phát triển thì bị địch phát hiện và đàn áp (tháng 3.1896).

Cuộc vận động cứu nước của Trần Du tiêu biểu cho tinh thần yêu nước đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Quảng Ngãi trong điều kiện thực dân Pháp về cơ bản đã đàn áp được phong trào Cần vương trong cả nước, chỉ còn cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng đang trên đà tan rã.

Tóm lại, phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Ngãi từ 1885 - 1896 là một bộ phận của phong trào Cần vương trong cả nước và chịu sự tác động của phong trào này. Quảng Ngãi là địa phương hưởng ứng chủ trương Cần vương cứu nước sớm nhất. Phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi kết thúc với sự thất bại của cuộc vận động cứu nước do Trần Du lãnh đạo (1895 - 1896), gần như cùng lúc với sự chấm dứt của phong trào Cần vương trên toàn cõi Việt Nam. Động lực chủ yếu của phong trào chính là "tinh thần độc lập của dân tộc, cơ sở văn hóa ngàn năm của dân tộc đang sống trong những người trí thức dân tộc, trong quần chúng lao động, bộc phát dưới ngọn cờ Cần vương"(2).

2. CÁC PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở QUẢNG NGÃI TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

Trong bối cảnh lịch sử mới, khi bước vào đầu thế kỷ XX, cùng với những chuyển biến trong nước, Quảng Ngãi cũng có những chuyển biến trong đời sống xã hội và đấu tranh yêu nước chống Pháp, với sự trỗi dậy của phong trào Duy tân (1905 - 1908), phong trào chống sưu thuế (1908), cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 và các cuộc vận động cách mạng dân tộc, dân chủ trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2.1930).

2.1. PHONG TRÀO DUY TÂN

Vào đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đang tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương, thì trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây cũng truyền bá vào Việt Nam. Thông qua các tân thư, tân văn Trung Quốc, các học thuyết về nhân quyền và dân quyền của Rutxô (Rousseau), Môngtexkiơ (Mongtesquieu), Vônte (Voltaire)..., đến với các sĩ phu yêu nước Việt Nam. Tân thư, tân văn cùng với ảnh hưởng của cuộc Duy tân ở Nhật Bản, phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc với đỉnh cao là cách mạng Tân Hợi (1911), chiến thắng của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1901 - 1905) đã tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng và tình hình tư tưởng Việt Nam. Những sự kiện này như một hồi chuông gióng lên làm "tỉnh ngộ" các sĩ phu yêu nước đang khao khát tìm kiếm một con đường cứu nước mới.

Những chuyển biến trong lòng xã hội Việt Nam, cùng sự ảnh hưởng của tư tưởng từ ngoài vào đã làm nảy sinh tính chất dân chủ tư sản trong phong trào yêu nước và cách mạng do các sĩ phu phong kiến tiến bộ lãnh đạo. Đó là Duy tân Hội và phong trào Đông du (1904 - 1908), phong trào Duy tân (1905 - 1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907), phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ (1908), Việt Nam Quang phục Hội (1912 - 1917),... Tựu trung, các phong trào này diễn ra theo hai xu hướng chính: xu hướng bạo động và xu hướng cải cách ôn hòa, với các đại diện tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Hai xu hướng này song song tồn tại và không đối lập nhau một cách tuyệt đối mà đan xen, hòa lẫn vào nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển.

Bối cảnh chung của thế giới và Việt Nam tác động đến Quảng Ngãi, làm cho phong trào yêu nước ở đây cũng có nhiều chuyển biến. Với tấm lòng kiên trung cứu nước, cứu dân, các sĩ phu yêu nước Quảng Ngãi như Nguyễn Bá Loan, Lê Đình Cẩn, Lê Tựu Khiết (Lê Khiết), Lê Ngung, Trần Kỳ Phong, Nguyễn Thụy, Nguyễn Đình Quản, Mai Bá, Mai Tuấn, Nguyễn Tuyên..., đã nhanh chóng tiếp thu trào lưu tư tưởng mới và ra sức hoạt động để tạo chuyển biến phong trào yêu nước ở Quảng Ngãi, đưa phong trào tiến kịp với trào lưu dân tộc chủ nghĩa đang lan rộng trong cả nước.

Để thống nhất lực lượng và lãnh đạo phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, các sĩ phu yêu nước tiến bộ đã thành lập một tổ chức yêu nước bí mật (sau này gọi là "Hội Duy tân Quảng Ngãi") vào tháng 3 năm Bính Ngọ (1906), do Cử nhân Lê Đình Cẩn làm Hội chủ. Chủ trương của Hội là kết hợp đấu tranh cứu nước với duy tân, kết hợp xu hướng cải cách và xu hướng bạo động trong con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản dưới hai hình thức hoạt động là công khai và bí mật.

Về mặt công khai hợp pháp, Hội Duy tân Quảng Ngãi chủ trương phải gây một phong trào cách tân rộng rãi trong tỉnh, thông qua các hoạt động: vận động đồng bào lập Nông hội, Thương hội; mở trường dạy chữ Quốc ngữ, dạy "cách vật trí tri"; vận động bỏ hủ tục, bỏ khăn đen áo dài, mặc quần áo cộc bằng vải thô nội hóa, bài trừ ngoại hóa, vận động nam giới cắt bỏ búi tóc; đẩy mạnh việc sáng tác thơ ca để tuyên truyền vận động, đề cao ý thức "tự lập, tự cường, tự cứu lấy mình".

Về mặt bí mật, Hội cử người liên hệ với phái Đông du của Phan Bội Châu đưa thanh niên du học để khi thời cơ đến thì có sẵn nhân tài đảm đương việc cứu nước, cứu dân.

Sự thành lập "Hội Duy tân Quảng Ngãi" và hoạt động của tổ chức này đánh dấu sự chuyển biến về mặt tư tưởng, tổ chức và biện pháp đấu tranh của phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Ngãi trong những năm đầu thế kỷ XX, đồng thời thể hiện quyết tâm của những người yêu nước ở Quảng Ngãi trong công cuộc cứu nước dưới tác động của phong trào dân tộc, dân chủ do Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh khởi xướng.

Dưới sự lãnh đạo của Hội Duy tân, một cuộc vận động cải cách đã diễn ra sôi nổi ở Quảng Ngãi. Giương khẩu hiệu "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", phong trào hướng các hoạt động vào việc mở mang tri thức cho nhân dân, truyền bá tư tưởng dân quyền chống đế quốc và phong kiến, khơi dậy, giáo dục và động viên lòng yêu nước, thực hiện nếp sống văn minh, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân. Các nhà khởi xướng phong trào xem đây là những biện pháp để đi đến mục tiêu cao nhất là giành độc lập, tự do.

Cùng với việc phổ biến những tân thư, tân văn, những tài liệu vận động cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đông Kinh nghĩa thục... các sĩ phu yêu nước Quảng Ngãi còn sáng tác nhiều thơ ca để tuyên truyền vận động cách mạng. Tiêu biểu là các bài Xin đúc một chữ đồng của Lê Đình Cẩn; Tới, bước tới, Cải lương hương tục... của Phan Long Bằng; Bài ca vận động binh lính của Nguyễn Thụy; Quảng Ngãi quê ta của Nguyễn Quang Mao; Quyết giữ trọn tấm lòng của Nguyễn Công Phương; Chớ quên lời nguyền của Võ Tòng (Tùng), vv.

Để giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục, các nhân sĩ trong Hội Duy tân Quảng Ngãi đã phát động một phong trào cải cách theo hướng "Cách tân Âu hóa", mà rầm rộ hơn cả là cuộc vận động cắt tóc ngắn. Cuộc vận động duy tân cải cách ở Quảng Ngãi còn được tiến hành dưới các hình thức mở "hội học", "hội nông", "hội thương", vv.

Về "hội học", ngoài các trường có quy mô nhỏ còn có 9 trường nổi tiếng; trường học lớn nhất mở tại vùng Sung Tích (nay thuộc xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh) do Cử nhân Nguyễn Đình Quản chủ trì. Đây là trường hoạt động theo đường hướng Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội.

"Hội buôn" của Hội Duy tân Quảng Ngãi tồn tại dưới các hình thức cửa hàng thuốc Bắc, cửa hiệu bán hàng nội hóa, quán cơm,... Tiêu biểu nhất là hiệu buôn thuốc Bắc Quảng Tri ở tỉnh lỵ do Cử nhân Lê Tựu Khiết chủ trì.

Về "hội canh nông", cơ sở chính tại làng Tình Phú (huyện Nghĩa Hành) có diện tích gần 40 mẫu, số hội viên khoảng 70 người, do Nguyễn Bá Loan tổ chức và làm Hội trưởng.

Các hội trên đây vừa là nơi liên lạc, vừa là nơi cung cấp tài chính cho các hoạt động khác của phong trào Duy tân ở Quảng Ngãi.

Trong các tổ chức ở Quảng Ngãi, thương hội và học hội phát triển hơn cả, như Phan Bội Châu đã nhận xét: "Khoảng vài năm Vị, Thân, Dậu (1907, 1908, 1909) về sau, nhà Đông Kinh nghĩa thục phát khởi ở giữa Hà Nội, Thương hội, Học hội rầm rầm rực rỡ ở Quảng Ngãi, Quảng Nam"(3).

Vận động xuất dương cũng là một trong những hoạt động của phong trào Duy tân ở Quảng Ngãi nhằm hưởng ứng chủ trương xuất dương của Phan Bội Châu và Duy tân Hội. Mở đầu phong trào này ở Quảng Ngãi là chuyến đi của Trần Kỳ Phong và Lê Đình Cơ (thượng tuần tháng Chạp năm Bính Ngọ, 1906) sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội Châu để nhận chỉ thị, tài liệu đưa về nước tuyên truyền cách mạng, vận động du học. Tiếp sau Trần Kỳ Phong có hàng chục người xuất dương sang Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm (Thái Lan) như Võ Quán (Lâm Quán Trung), Võ Tòng (Võ Tùng, Lưu Khải Hồng), Phạm Cao Đài (Nguyễn Yên Chiêu), Đào Trọng Đường, Đào Hoa Vũ, Bùi Tự Cường, Huỳnh Long Thạch, Lê Khôi Luân, Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Công Mậu, Bùi Phụ Thiệu, Võ Hàng...

Những người yêu nước Quảng Ngãi xuất dương không chỉ học để trở thành nhân tài mà còn nhằm xác lập mối quan hệ giữa lực lượng cách mạng trong và ngoài nước. Nhiều người về sau đã trở thành yếu nhân của các tổ chức Duy tân Hội và Việt Nam Quang phục Hội ở nước ngoài như Võ Quán, Võ Tùng, Phạm Cao Đài...

Cuộc vận động Duy tân ở Quảng Ngãi đã tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị tư tưởng, kinh tế đến văn hóa giáo dục, nhằm tìm kiếm một phương thức cứu nước mới. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, những hoạt động này biểu hiện tư tưởng "tân văn hóa", để tỏ sự "đồng tâm, đồng chí" với nhau, thể hiện lòng yêu nước thương nòi. Cuộc đấu tranh yêu nước mang màu sắc chính trị mới ở Quảng Ngãi diễn ra sôi nổi mạnh mẽ và bị đàn áp khủng bố gay gắt. Song sĩ phu yêu nước tiến bộ và nhân dân Quảng Ngãi vẫn kiên trì đẩy mạnh cuộc vận động duy tân cứu nước, như Huỳnh Thúc Kháng nhận xét: "Sĩ phu và dân Quảng Ngãi khẳng khái và cương quyết, phần đông hy sinh vì nước, một mực thẳng tới, không thối lui trước một trở lực nào"(4).

Cuộc vận động Duy tân ở Quảng Ngãi đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhân dân trong tỉnh, góp phần cùng với phong trào Duy tân cả nước khơi dậy, nuôi dưỡng lòng yêu nước, vận động tân văn hóa, tân sinh hoạt, đề xướng dân quyền, đề cao nghề nghiệp, cải thiện sản xuất, phát triển công nông thương nghiệp, xây dựng một nền giáo dục chống từ chương, khoa cử, đề cao khoa học, chữ Quốc ngữ. Cuộc đấu tranh này nhằm đòi lại giá trị thực của người Việt Nam, chống vọng ngoại, chống chủ nghĩa cá nhân, đề cao đoàn thể, phát huy nội lực, tiếp tục kế thừa và phát triển truyền thống chuộng cách tân của dân tộc, trực tiếp châm ngòi cho phong trào chống sưu thuế 1908.

2.2. PHONG TRÀO CHỐNG SƯU THUẾ 1908

Phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908 là một trong những sự kiện nổi bật của phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Phong trào này mở đầu bằng cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân Quảng Nam vào ngày 9.3.1908, sau đó lan nhanh ra hầu khắp các tỉnh Trung Kỳ, nhưng sôi nổi, quyết liệt nhất là ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Ở Quảng Ngãi, dưới tác động của phong trào Duy tân, một cuộc đấu tranh chống sưu cao thuế nặng đang âm ỉ trong nhân dân, sẵn sàng nổi lên thành phong trào khi có dịp. Vì vậy trước khi có biến cố xảy ra, không khí chính trị ở Quảng Ngãi vừa sôi động, vừa tiềm ẩn khả năng bùng phát quyết liệt, dữ dội như một ngòi nổ. Phong trào đấu tranh chống sưu thuế ở Quảng Nam đã thúc đẩy nhân dân Quảng Ngãi nổi dậy mạnh mẽ.

Bắt đầu từ huyện Bình Sơn, ngày 24.3.1908, hơn 30 nông dân và hương lý (phần lớn là dân làng An Điềm, tổng Bình Trung) kéo về tỉnh thành, đến dinh Công sứ, đưa đơn xin giảm sưu thuế và trừng trị bọn quan lại tham nhũng. Cuộc đấu tranh bị đàn áp, gây nên một làn sóng căm phẫn trong nhân dân. Từ Bình Sơn, phong trào nhanh chóng thu hút nhân dân toàn tỉnh tham gia. Không khí đấu tranh ngày càng sôi sục, từng đoàn người từ khắp các phủ, huyện kéo về bao vây tỉnh thành. Mỗi đoàn được phiên chế theo từng làng, có người dẫn đầu, mang theo đơn từ với các chữ ký của nhân dân, hương lý và các chức sắc, tham gia đấu tranh khoảng 2, 3 ngày thì được đoàn khác đến thay thế. Với quyết tâm đòi Pháp và Nam triều "chưa công bố miễn giảm sưu thuế thì chưa về"; khi tham gia đấu tranh mỗi người mang theo một bầu nước, một mo cơm, một chiếc chiếu manh và chiếc gậy tre. Đoàn người cùng cắt tóc ngắn, mặc áo cộc rách, đầu đội nón mê để chứng tỏ sự đồng lòng của những người nghèo khổ. Phong trào có sự hướng dẫn về phương thức đấu tranh: ôn hòa nhưng kiên quyết đạt được những mục tiêu đặt ra.

Để thống nhất lãnh đạo phong trào, phát huy sức mạnh của quần chúng, đêm 29.2 năm Mậu Thân (31.3.1908), những người lãnh đạo và "hội viên cốt yếu" của Hội Duy tân Quảng Ngãi đã tổ chức hội nghị, thành lập Ban lãnh đạo phong trào gồm: Nguyễn Bá Loan, Lê Tựu Khiết, Phạm Tuân, Phạm Mỹ, Nguyễn Đình Quản, Phạm Cao Chẩm. Hội nghị cũng phân công Trần Kỳ Phong, Lê Ngung bắt liên lạc với Quảng Nam; cử Phan Long Bằng, Lê Đình Cơ vào Bình Định và Phú Yên để phát động phong trào cùng nổi dậy, nhằm làm cho Pháp phải đối phó nhiều nơi, không thể tập trung được lực lượng đàn áp. Mặt khác, Hội nghị lấy danh nghĩa "dân của 6 phủ, huyện" (lục phủ, huyện dân) làm đơn gửi Toàn quyền Đông Dương, nêu 7 kiến nghị:

1. Thay vì phải nộp 3 đồng/1 người cho cả thuế và xâu trong năm nay (1908), yêu cầu được nộp 1 đồng cho thuế đinh và 2 ngày xâu theo đúng Dụ ban hành năm Thành Thái thứ 9 (1897).

2. Giảm thuế điền 9%.

3. Về ruộng muối, phải được trả thuế như đối với ruộng lúa và giao cho dân sở tại khai thác chứ không phải giao cho Sở Thương chính nắm độc quyền.

4. Bỏ thuế chợ, một thứ thuế mà các nước Âu - Mỹ đều không có.

5. Lập 1 phòng tư vấn để tham khảo ý kiến về tất cả những việc có liên quan đến dân chúng trước khi đưa ra thi hành.

Hai khoản 6 và 7 đòi thay thế viên Tuần vũ Lê Từ và tố giác tên bán nước Nguyễn Thân vu oan giá họa cho dân chúng(5).

Bảy kiến nghị nêu trên cho thấy, sự kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị của phong trào.

Dưới sự lãnh đạo của Hội Duy tân Quảng Ngãi, cuộc đấu tranh ngày càng phát triển trên quy mô lớn. Số người tham gia biểu tình đông đến hàng vạn, được chia thành nhiều lớp trong, ngoài, trước, sau bao vây tỉnh thành chặt như nêm cối.

Cuộc đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng làm cho hiệu lực của chính quyền địa phương bị suy giảm hẳn.

Để đối phó với phong trào, công sứ Đôđê (Daudet) tìm mọi cách bí mật truy nã những người cầm đầu, đồng thời sử dụng bạo lực để đàn áp. Ngày 7.4.1908, Lê Tựu Khiết, Nguyễn Bá Loan, Nguyễn Thụy, Nguyễn Đình Quản, Phạm Cao Chẩm,... bị bắt.

Sự đàn áp của kẻ thù làm cho cuộc đấu tranh của quần chúng ngày càng thiên về bạo động với nhiều hình thức đấu tranh quyết liệt. Đôđê ra lệnh đàn áp, cho binh lính dùng roi, gậy đánh đoàn biểu tình, nhưng quần chúng vẫn không chịu giải tán, kiên quyết ở lại đấu tranh khiến viên Công sứ Quảng Ngãi phải thốt lên: "Những lời phải trái, những lời khuyên bảo, những cú đấm đá đều vô ích, đám người này nằm xuống hứng lấy roi đòn, giương bộ mặt cùng cực lên trời để chống lại"(6).

Đôđê lại ra lệnh cho Lãnh binh Phạm Kế Năng bắn vào đoàn biểu tình, nhưng quần chúng vẫn không hề nao núng, "lại tranh nhau tới trước làn súng, kêu to cầu mau chết"(7).

Cuộc đấu tranh này thể hiện truyền thống anh dũng, bất khuất của người Quảng Ngãi mà chính bọn quan chức thực dân phải thừa nhận và kiêng nể(8).

Nhân dân đã tiến hành các cuộc diệt ác, trừ gian, từng đoàn người kéo về các địa phương trừng trị những tên tay sai gian ác, đồng thời lập nhà giam để bắt giữ những kẻ làm tay sai cho giặc, như ở làng Xuân Quang (nay thuộc xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa). Hàng ngàn dân chúng có vũ trang tập trung biểu tình, bao vây tỉnh thành. Thực dân Pháp phải điều lính khố đỏ (trung đội Lagani) từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi phối hợp với lính khố xanh để đàn áp. Các cuộc xung đột đẫm máu tiếp tục diễn ra.

Cuộc khủng bố của địch, kéo dài từ đầu tháng 4 đến ngày 17.4.1908, làm cho lực lượng quần chúng bao vây tỉnh thành dần dần đi đến tan rã.

Phong trào chống sưu thuế của nhân dân Quảng Ngãi là một trong 3 phong trào đấu tranh mạnh nhất ở Trung Kỳ vào năm 1908. Phong trào đã thể hiện sự gan dạ và kiên quyết, tinh thần anh dũng quật khởi của nhân dân Quảng Ngãi (chủ yếu là nông dân) trong cuộc tranh đấu giành độc lập, tự do. Đây là một hiện tượng lịch sử mới chưa từng xảy ra trong cuộc đấu tranh chống Pháp trước đó và có ảnh hưởng lâu dài về sau. Cùng với Quảng Nam, phong trào chống sưu thuế ở Quảng Ngãi đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống sưu thuế ở các tỉnh Trung Kỳ.

2.3. THAM GIA CUỘC VẬN ĐỘNG KHỞI NGHĨA NĂM 1916 Ở TRUNG KỲ

Sự đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp đối với phong trào chống sưu thuế năm 1908 làm cho phong trào yêu nước chống Pháp ở Trung Kỳ rơi vào tình trạng khó khăn, song nhân dân và sĩ phu yêu nước ở Trung Kỳ vẫn giữ vững nhiệt tình yêu nước, nuôi chí căm thù, chờ cơ hội vùng dậy. Những người bị bắt vào lao tù, xem nhà tù là "trường học thiên nhiên" để rèn luyện, học tập, xem xét lại phương châm hành động cứu nước của mình, bàn luận chính trị, nuôi dưỡng lòng yêu nước, chờ hết hạn tù để tiếp tục cuộc vận động cứu nước, trong số đó có các nhà yêu nước người Quảng Ngãi, như Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Thụy, Trần Kỳ Phong, Lê Ngung, vv.

Dù phải trải qua các cuộc khủng bố liên tục nhưng đến năm 1909, các sĩ phu yêu nước Trung Kỳ đã bắt đầu hoạt động trở lại, sôi động nhất là ở Quảng Ngãi. Rút kinh nghiệm phong trào chống sưu thuế năm 1908, các sĩ phu yêu nước càng tăng cường phối hợp với các lực lượng chống Pháp ở các tỉnh lân cận. Từ năm 1909, cùng với các nhân sĩ Trung Kỳ, các nhân sĩ Quảng Ngãi như Nguyễn Diễn, Lê Tựu Khiết, Bùi Phụ Thiệu, Nguyễn Công Mậu... một mặt tìm bắt liên lạc với Thái Phiên - một yếu nhân của Duy tân Hội trước đây và là người được Phan Bội Châu tin cậy, để bàn kế hoạch tiếp tục chống Pháp; mặt khác bí mật vận động thanh niên xuất dương theo Phan Bội Châu.

Mùa hè năm 1912, Võ Quán (tức Lâm Quán Trung, ủy viên của tổ chức Việt Nam Quang phục Hội) về Trung Kỳ phổ biến chương trình hành động, tuyên ngôn của hội và xúc tiến xây dựng tổ chức. Đông đảo các sĩ phu yêu nước tiến bộ Nam - Ngãi đã gia nhập và thành lập ra Kỳ bộ Việt Nam Quang phục Hội Trung Kỳ. Những người có uy tín nhất và có trách nhiệm lãnh đạo là Thái Phiên, Trần Cao Vân (Quảng Nam), Lê Ngung, Nguyễn Thụy (Quảng Ngãi). Sự thành lập Kỳ bộ thể hiện quyết tâm của các sĩ phu yêu nước tiến bộ Trung Kỳ đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản và phương thức hành động chủ yếu là đấu tranh vũ trang.

Tháng 3.1914, Lê Ngung cùng Thái Phiên tổ chức một cuộc hội nghị gồm các nhà yêu nước Trung Kỳ ở Đà Nẵng để thống nhất chủ trương và phân công người chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Phương hướng hành động là vận động binh lính yêu nước người Việt, chủ yếu là lính khố xanh và binh lính bị động viên sắp đưa sang Pháp phản chiến, phối hợp với lực lượng dân binh, tiến hành "nội công, ngoại kích". Những người yêu nước Quảng Ngãi tán thành chủ trương trên và tích cực chuẩn bị cho ngày khởi sự. Từ đó trở đi, Quảng Ngãi cùng với Quảng Nam, Huế trở thành ba địa bàn trọng yếu trong việc xây dựng lực lượng và căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa.

Tháng 8.1914, Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ. Quân Pháp liên tiếp bại trận. Nhân cơ hội này, các nhà yêu nước lãnh đạo cuộc vận động đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa. Ngoài việc xây dựng lực lượng ở địa phương, Quảng Ngãi còn được giao trách nhiệm xây dựng lực lượng ở Kon Tum và Bình Định. Căn cứ địa đã được xây dựng ở vùng Minh Long, Giá Vụt (Ba Tơ), Mang Đen, An Lão (Bình Định). Đến tháng 7.1915, ở Quảng Ngãi có hơn 80% (450 người) lính khố xanh đã ngả về phía những người yêu nước và sẵn sàng nổi dậy. Đầu năm 1916, số dân binh ở Quảng Ngãi lên tới 600 người.

Trên cơ sở lực lượng đã được tổ chức, tháng 2.1916, những người lãnh đạo cuộc vận động khởi nghĩa đã quyết định khởi sự vào trung tuần tháng 5.1916, nhưng sau đó lại chọn tối ngày 3 rạng ngày 4 tháng 5.1916. Không may, kế hoạch bị lộ, cuộc vận động khởi nghĩa thất bại và bị đàn áp.

 Tuy thất bại nhưng cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 đã thể hiện tinh thần quật khởi của dân tộc nói chung, của nhân dân Quảng Ngãi nói riêng, góp phần gây dựng cơ sở cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc về sau.

Phong trào dân tộc dân chủ ở Quảng Ngãi từ đầu thế kỷ XX đến hết Chiến tranh Thế giới thứ nhất là sự kế thừa truyền thống đấu tranh chống Pháp của dân tộc nói chung, của nhân dân Quảng Ngãi nói riêng, nhưng ở một trình độ cao hơn về tư tưởng chính trị và tổ chức, lực lượng và phương pháp đấu tranh. Đây là thời kỳ phong trào yêu nước ở Quảng Ngãi chuyển từ phạm trù phong kiến sang phạm trù dân chủ tư sản, phù hợp với những điều kiện lịch sử Việt Nam và thế giới lúc bấy giờ.

2.4. PHONG TRÀO CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở QUẢNG NGÃI TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT ĐẾN NĂM 1930

Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và cường độ lớn gấp nhiều lần cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Cuộc khai thác lần này tiếp tục làm chuyển biến tình hình kinh tế xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của phong trào cách mạng Trung Quốc, tiếng vang của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga (1917), sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc vào Việt Nam, đã làm cho phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta dần dần chuyển sang một khuynh hướng mới. Bên cạnh phong trào giải phóng dân tộc theo xu hướng tư sản, phong trào giải phóng dân tộc theo xu hướng vô sản từng bước hình thành và ngày càng thắng thế đối với xu hướng tư sản. Phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Ngãi tiếp tục phát triển trong tình hình chung như vậy với những nét riêng của địa phương.

Khôi phục chủ quyền quốc gia, giành độc lập cho dân tộc, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân vẫn là mục tiêu cơ bản của phong trào yêu nước Quảng Ngãi sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, nhưng con đường cứu nước, hình thức hoạt động đã có tính chất mới.

Trong những điều kiện lịch sử mới, phong trào yêu nước ở Quảng Ngãi tiếp tục phát triển với việc lập hội buôn, mở trường học, lập hội cày, cải cách phong tục, vận động xuất dương sang Pháp, Trung Quốc... Đây chính là những hoạt động nối tiếp công cuộc "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" đã được thực hiện trong những năm đầu thế kỷ XX. Khẩu hiệu hành động lúc này là "chấn hưng thổ hóa, bài trừ ngoại hóa, phát triển công thương nghiệp để cạnh tranh với tư bản nước ngoài". Các hội buôn, công ty, trường học là nơi liên lạc, gặp gỡ, tập hợp cựu tù chính trị để bàn bạc kế hoạch chống Pháp, tham gia góp vốn gây quỹ tài chính ủng hộ phong trào yêu nước. Cuộc vận động theo hướng cách tân Âu hóa diễn ra sôi nổi trong tầng lớp thanh niên tiến bộ. Nhân dân cũng đã tiến hành đấu tranh chống lại bọn quan lại, hào lý gian ác, giành quyền dân chủ ở nông thôn, đồng thời đấu tranh chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp.

Tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc của nhân dân Quảng Ngãi thể hiện rõ rệt trong việc tham gia phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh trong những năm 1925 - 1926. Từ trong phong trào dân tộc, dân chủ, tầng lớp thanh niên yêu nước Quảng Ngãi đã tập hợp thành các nhóm yêu nước ở địa phương như Hội Thiếu niên Ái quốc, Công Ái xã… Các nhóm yêu nước này đều chưa có đường lối chính trị rõ ràng, chỉ nhằm mục đích tập hợp lực lượng và chờ cơ hội đấu tranh giành độc lập. Song, việc thành lập các nhóm yêu nước trên đây đã thể hiện yêu cầu về một con đường cứu nước mới, tiến bộ của nhân dân Quảng Ngãi, đồng thời thể hiện sự cần thiết phải có một tổ chức yêu nước tiên tiến để tập hợp, lãnh đạo họ. Đây chính là cơ sở để khi bắt gặp các tổ chức cách mạng tiên tiến, nhân dân Quảng Ngãi nhanh chóng tiếp nhận và tham gia. Trong nửa sau năm 1925, trong phong trào yêu nước Việt Nam lần lượt xuất hiện các tổ chức yêu nước cách mạng theo xu hướng vô sản: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 6.1925, gọi tắt là Hội Thanh niên), Hội Phục Việt (tháng 7.1926 chuyển thành Tân Việt Cách mạng Đảng, gọi tắt là Tân Việt)(9),... Sự ra đời của các tổ chức Thanh niên, Tân Việt thể hiện mong muốn tìm kiếm một con đường cứu nước mới tiến bộ, nhân dân Quảng Ngãi đã nhanh chóng tiếp nhận con đường cứu nước vô sản, gia nhập các tổ chức này.

Giữa năm 1926, thông qua mối quan hệ giữa Trần Kỳ Phong và bạn tù Nguyễn Đình Kiên (một yếu nhân của tổ chức Tân Việt), Hồ Độ, Nguyễn Bút đã gia nhập tổ chức Tân Việt (lúc bấy giờ có tên là Việt Nam Cách mạng Đảng) ở Vinh, sau đó trở về Quảng Ngãi xây dựng cơ sở. Cùng lúc đó, Trương Quang Trọng, sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Hà Nội cũng tham gia tổ chức này, trở về Quảng Ngãi hợp lực và cùng nhóm Hồ Độ, Nguyễn Bút, Nguyễn Nghiêm, Trần Kỳ Truyện, Lê Trọng Kha... thành lập Tỉnh bộ Tân Việt Quảng Ngãi.

Sau khi ra đời, Tỉnh bộ Tân Việt Quảng Ngãi xây dựng hệ thống tổ chức ở khắp các huyện đồng bằng, xác lập mối quan hệ chặt chẽ với phong trào các tỉnh lân cận, gây quỹ tài chính ủng hộ thanh niên xuất dương, ủng hộ học sinh bãi khóa, công nhân viên chức đình công, tuyên truyền chống đế quốc và phong kiến, đồng thời đấu tranh chống chủ nghĩa quốc gia cải lương. Trong sự phát triển chung của phong trào cách mạng cả nước, tổ chức Tân Việt ở Quảng Ngãi ngày càng thể hiện xu hướng cộng sản.

Trong khi tổ chức Tân Việt đang hoạt động mạnh mẽ ở Quảng Ngãi, đầu năm 1927, sau khi bắt liên lạc với Hội Thanh niên, Nguyễn Thiệu sang Trung Quốc dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Mùa hè năm 1927, Nguyễn Thiệu với danh nghĩa đại diện Tổng hội Thanh niên mở lớp huấn luyện xây dựng cơ sở tổ chức Thanh niên ở Quảng Ngãi, đồng thời tiếp xúc với những người lãnh đạo Tỉnh bộ Tân Việt ở đây, đi đến thống nhất để tổ chức này gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trên những điều kiện đó, Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi được thành lập, do Trương Quang Trọng làm Bí thư.

Là một bộ phận của tổ chức tiền thân tiến tới thành lập Đảng Cộng sản, từ khi ra đời, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi đã tiến hành các hoạt động theo chủ trương của Tổng bộ, kết hợp xây dựng hệ thống tổ chức, đào tạo cán bộ, tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh phù hợp với tình hình địa phương. Tỉnh bộ Thanh niên Quảng Ngãi đã thực sự trở thành người lãnh đạo, tổ chức quần chúng đấu tranh, bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng. Trong số các tổ chức Thanh niên ở các tỉnh Trung Kỳ, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi đứng hàng thứ 4, sau các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị "xét về tầm quan trọng của sự phát triển"(10).

Sự ra đời và hoạt động của Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi đánh dấu một bước chuyển biến mới trong đời sống tư tưởng chính trị của các tầng lớp nhân dân Quảng Ngãi, tạo ra một tiền đề quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Quảng Ngãi bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đấu tranh chống thực dân - phong kiến theo khuynh hướng cách mạng vô sản - đồng thời chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
 
(1) Về thời điểm ban chiếu Cần vương, có một số ý kiến khác nhau:
-   Các tác giả Nguyễn Thế Anh (Monarchie et fait colonial au Vietnam, tr. 127), Charles Fourniau (Annam - Tonkin, 1885 - 1886, tr. 39)... cho là ngày 13.7.1885 (2.6 Ất Dậu).
-   Phạm Văn Sơn (Việt Sử tân biên), Phan Quang (Việt Nam Pháp thuộc sử),... cho là ngày 6.7.1885 (23.5 Ất Dậu).
Như vậy, rất có thể khi rước xa giá đến làng Văn Xá (Thừa Thiên) Tôn Thất Thuyết đã cho phát đi một bản chiếu; sau đó khi đến Quảng Bình ông lại cho phát đi bản chiếu thứ 2.
(2) Lê Duẩn: Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, tr. 26.
(3) Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, tr. 134.
(4) Huỳnh Thúc Kháng: Vụ kháng thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Nxb Ích Tri, Huế, 1946, tr. 20 - 21.
(5) Dẫn theo Hồ Song: Vụ dân biến ở miền Trung Việt Nam đầu năm 1908, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (203), 1999, tr. 12.
(6) Dẫn theo Hồ Song: Vụ dân biến ở miền Trung Việt Nam đầu năm 1908, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (203), 1999, tr. 13.
(7) Phan Chu Trinh: Trung Kỳ dân biến thủy mạt ký, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1973, tr. 83.
(8) Nguyễn Bá Trác và các tác giả: Quảng Ngãi tỉnh chí, Nam Phong tạp chí 1933, bản đánh máy, lưu trữ tại Thư viện tổng hợp Quảng Ngãi.
(9) Phục Việt (tức Phục hưng Việt Nam, Hưng Nam) thành lập tháng 7.1925, tháng 7.1927 đổi tên là Việt Nam Cách mạng Đảng, tháng 7.1928 đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng.
(10) Résident Supérieur en Annam, Rapport au sujet de la mesure de répression prise contre les membres de L’Association révolutionaire "Việt Nam cách mạng Thanh niên" du résident Supérieur en Annam (10.3.1930), tài liệu lưu tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tr. 15, 16.

 

Về đầu trang

Trang tiếp theo