Trở về

III. THỔ NHƯỠNG 

Do đặc điểm các thành tạo về địa chất phong phú, địa hình, địa mạo đa dạng đã hình thành nên vùng đất Quảng Ngãi cũng đa dạng về loại hình đất và phân bố có tính quy luật theo không gian. Theo phân loại của FAO-UNESCO, kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất tỉnh Quảng Ngãi (1998), do trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện, đã phân ra 9 nhóm đất chính, 25 đơn vị đất, 68 đơn vị đất phụ.

1. NHÓM ĐẤT CÁT VEN BIỂN (AVENOSOLS)

Có diện tích 6.290ha, chiếm 1,22% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ và huyện đảo Lý Sơn. Đất cát ven biển Quảng Ngãi không hình thành một dải liên tục do bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ngang ra biển, thuộc nhóm đất này còn gặp đất cát ven sông Trà Khúc, Trà Bồng. Đất cát ven biển được hình thành từ các trầm tích sông, trầm tích biển, các sản phẩm dốc tụ, lũ tích từ phá hủy các đá giàu thạch anh, quarzit, cát kết,... Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, không có kết cấu, giữ nước và phân kém. Các tính chất nông hóa đều kém, hàm lượng chất dinh dưỡng ở mức nghèo và rất nghèo, thường xuyên khô hạn. Hướng sử dụng chủ yếu của nhóm đất này là gieo trồng các loại cây màu. Thuộc nhóm đất này có 4 đơn vị đất (đất cồn cát trắng vàng, đất cát điển hình, đất cát glây, đất cát mới biến đổi) và 8 đơn vị phụ đất (đất cồn cát trắng vàng trung tính ít chua, đất cồn cát trắng vàng chua, đất cát điển hình trung tính ít chua, đất cát điển hình chua, đất cát glây nông, đất cát mới biến đổi trung tính ít chua, đất cát mới biến đổi chua, đất cát mới biến đổi glây nông).

2. NHÓM ĐẤT MẶN (SALICTHIONIC FLUVISOLS)

Có diện tích 1.573,1ha, chiếm 0,30% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố xen với đất phù sa ở các vùng cửa sông đổ ra biển thuộc các huyện đồng bằng ven biển; được hình thành do phù sa sông lắng đọng trong môi trường nước lợ hoặc bị nhiễm mặn. Đất có đặc tính salic điển hình. Loại đất này sử dụng có hiệu quả nhất là nuôi trồng thủy sản và làm muối. Nhóm đất này được phân ra 1 đơn vị đất (đất mặn) và 2 đơn vị phụ đất (đất mặn glây cơ giới nhẹ và đất mặn glây cơ giới nặng).

3. NHÓM ĐẤT PHÙ SA (FLUVISOLS)

Có diện tích 97.157,5ha, chiếm 18,93% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, thành phố Quảng Ngãi và ven sông, suối ở các huyện miền núi; được hình thành do quá trình lắng đọng phù sa của các dòng sông Trà Bồng, Trà Khúc và sông Vệ. Đặc tính chung của loại đất này thích hợp cho gieo trồng các loại cây lương thực và các loại cây công nghiệp như mía, các loại đậu đỗ, các loại rau quả. Nhóm đất này được phân ra 3 đơn vị đất (đất phù sa trung tính ít chua, đất phù sa chua, đất phù sa đốm rỉ) và 5 đơn vị phụ đất (đất phù sa trung tính ít chua cơ giới nhẹ, đất phù sa trung tính ít chua cơ giới nặng, đất phù sa trung tính ít chua giàu mùn, đất phù sa trung tính ít chua glây nông, đất phù sa trung tính ít chua glây sâu).

4. NHÓM ĐẤT GLÂY (GLEYSOLS)

Có diện tích 2.052,4ha, chiếm 0,39% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở địa hình trũng thuộc các huyện đồng bằng Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Đức Phổ. Đặc tính chung của loại đất này là chua và ít chua, thích nghi trồng lúa nước nhưng cần dùng vôi để cải tạo độ chua của đất. Thuộc nhóm đất này được phân ra 2 đơn vị đất (đất glây ít chua, đất glây chua) và 5 đơn vị phụ đất (đất glây ít chua giàu mùn, đất glây ít chua, đất glây chua giàu mùn, đất glây chua cơ giới nặng, đất glây chua nhiễm mặn).

5. NHÓM ĐẤT XÁM (ACRISOLS)

Có diện tích 376.547,2ha, chiếm 73,42% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở tất cả các huyện trên nhiều dạng địa hình khác nhau, diện tích tập trung lớn ở các huyện miền núi như Ba Tơ, Minh Long, Sơn Tây, Sơn Hà, Tây Trà, Trà Bồng. Loại đất này được hình thành phát triển trên các đá mẹ khác nhau. Đặc tính chung loại đất này có thành phần dinh dưỡng nghèo đến trung bình. Thích nghi chủ yếu cho trồng cây lâm nghiệp, khả năng khai thác cho sản xuất nông nghiệp hạn chế. Nhóm đất xám có 6 đơn vị đất (đất xám bạc màu, đất xám kết vón, đất xám có tầng loang lổ, đất xám đá lẫn, đất xám feralit, đất xám mùn) và 20 đơn vị phụ đất (đất xám bạc màu cơ giới nhẹ, đất xám bạc màu cơ giới nặng, đất xám bạc màu glây nông, đất xám kết vón nông, đất xám kết vón sâu, đất xám kết vón đá ong nông, đất xám kết vón glây nâu, đất xám có tầng loang lổ nông, đất xám kết vón có tầng loang lổ sâu, đất xám có tầng loang lổ glây nông, đất xám đá lẫn nông, đất xám đá lẫn sâu, đất xám feralit điển hình, đất xám feralit mùn, đất xám feralit đá lẫn nông, đất xám feralit đá lẫn sâu, đất xám feralit kết vón nông, đất xám mùn điển hình, đất xám mùn đá lẫn nông, đất xám mùn đá lẫn sâu).

6. NHÓM ĐẤT ĐỎ (FERRALSOLS)

Có diện tích 8.142,4ha, chiếm 1,58% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Bình SơnSơn Tịnh; được hình thành do quá trình phong hóa mạnh từ đá kiềm hoặc trung tính, có thành phần cơ giới đất thịt pha cát, thịt pha sét; có khả năng trồng cây công nghiệp lâu năm như quế, chè, cà phê, mía, lạc... Nhóm đất này được phân ra 2 đơn vị đất (đất nâu đỏ, đất nâu vàng) và 7 đơn vị phụ đất (đất nâu đỏ điển hình, đất nâu đỏ đá lẫn nông, đất nâu đỏ kết vón nông, đất nâu đỏ kết vón sâu, đất nâu vàng điển hình, đất nâu vàng đá lẫn nông, đất nâu vàng kết vón nông).

7. NHÓM ĐẤT ĐEN (LUVIOLS)

Có diện tích 2.328,4ha, chiếm 0,45% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố nhiều ở phía đông huyện Bình Sơn, đông bắc huyện Sơn Tịnh, huyện đảo Lý Sơn. Chúng phát triển trên đá bazan, đá bazan lỗ hổng và đá bọt bazan, có thành phần thịt cơ giới trung bình và thịt nặng. Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng như ngô, hành tỏi, dưa hấu, cao su, điều... Nhóm đất này được phân ra 4 đơn vị đất (đất đen điển hình, đất đen mới biến đổi, đất nâu thẫm, đất đen có kết vón) và 7 đơn vị phụ đất (đất đen điển hình đá lẫn nông, đất đen điển hình đá lẫn sâu, đất đen mới biến đổi điển hình, đất đen mới biến đổi đá lẫn nông, đất đen mới biến đổi đá lẫn sâu, đất nâu thẫm điển hình, đất đen có kết vón nông).

8. NHÓM ĐẤT NỨT NẺ (VERTISOLS)

Có diện tích 634ha, chiếm 0,12% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố duy nhất ở huyện Bình Sơn; được hình thành từ đá kiềm phong hóa triệt để, có thành phần cơ giới là thịt nặng và sét; bị hạn chế trong sử dụng do thiếu nước vào mùa khô. Nếu khắc phục được nước thì có thể trồng được nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như chè, điều và các loại rau. Nhóm đất được phân ra 1 đơn vị đất (đất nứt nẻ trung tính ít chua) và 1 đơn vị phụ đất (đất nứt nẻ trung tính ít chua cơ giới nặng).

9. NHÓM ĐẤT XÓI MÒN MẠNH TRƠ SỎI ĐÁ (LEPTOSOLS)

Có diện tích 9.696ha, chiếm 1,89% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh; được hình thành từ nhiều loại đá mẹ khác nhau, đất nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng, phù hợp với các loại cây lâm nghiệp. Nhóm đất này được phân ra 2 đơn vị đất (đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá chua, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá trung tính) và 3 đơn vị phụ đất (đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá điển hình, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá còn mùn, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá trung tính cơ giới nặng).

Tóm lại, trong tổng diện tích đất canh tác ở Quảng Ngãi có 376.547,2ha đất vùng đồi núi có khả năng phát triển lâm nghiệp, chiếm 73,42% và 99.209,9ha đất nông nghiệp chiếm hơn 19,36% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Vì vậy, phát triển kinh tế miền núi là một thế mạnh của tỉnh Quảng Ngãi.

Bảng tổng hợp diện tích các nhóm đất

TT

Nhóm đất

Diện tích (ha)

Ký hiệu

Tên FAO-UNESCO

Tỷ lệ (%)

1

Cát

6.290

AR

Avenosols

1,22

2

Mặn

1.573

FLS

Salicthionic Fluvisols

0,30

3

Phù sa

97.158

FL

Fluvisols

18,93

4

Glây

2.052

GL

Gleysols

0,41

5

Xám

376.547

AC

Acrisols

73,42

6

Đỏ

8.142

FR

Ferralsols

1,58

7

Đen

2.328

LV

Luviols

0,45

8

Nứt nẻ

634

VR

Vertisols

0,12

9

Trơ sỏi đá

9.696

LP

Leptosols

1,89

 


Trang trước

Về đầu trang