Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Quảng Ngãi năm 2010 từ 34% đến 35%, mức tăng trưởng vượt trội này phải kể đến yếu tố sản phẩm xăng dầu từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là chủ yếu; ngoài ra, có những sản phẩm mới như polypropylene, bia sài gòn, nhiên liệu sinh học (bio-ethanol) ... và sự tăng trưởng chung của kinh tế địa phương.
Theo đó, nhiệm vụ thu ngân sách năm 2010 cũng được hoạch định tăng cao so với năm 2009 do những nguồn thu lớn phát sinh. Năm 2010, nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng 5,2 lần so với thực thu năm 2009.
Để góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách được giao; đồng thời tiếp tục cải cách thủ tục hành chính thuế; chương trình hiện đại hoá của ngành, đổi mới phương pháp làm việc và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, ngành Thuế Quảng Ngãi sẽ tập trung đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
*) Triển khai đồng bộ các biện pháp về điều hành và quản lý thu, tập trung huy động nguồn thu vào ngân sách, đảm bảo hoàn thành vượt mức dự toán được giao.
- Đánh giá kết quả thực hiện thu Ngân sách năm 2009; khảo sát, dự báo các nguồn thu phát sinh năm 2010, giao mức phấn đấu thu cho các đơn vị trong ngành sát với nhiệm vụ thu của địa phương. Chú trọng công tác phân tích, dự báo những yếu tố tác động đến nguồn thu trên địa bàn, nhất là những nguồn thu chiếm cơ cấu lớn, có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động đến nhiều người nộp thuế. Từ đó, kịp thời đề xuất với các cấp chính quyền những biện pháp phù hợp, làm cơ sở phối hợp với các ngành trong công tác chỉ đạo, quản lý thu ngân sách.
- Kiểm soát, quản lý có hiệu quả đối tượng nộp thuế và tình hình khai thuế, nộp thuế. Thường xuyên phối hợp với các ngành, địa phương theo dõi tình hình SXKD trên địa bàn; phát hiện các tổ chức, cá nhân chưa đăng ký thuế để hướng dẫn và đưa vào diện quản lý. Tăng cường kiểm tra, phân tích đánh giá hồ sơ khai thuế của các Doanh nghiệp (DN); đối soát với số liệu khai thuế, phát hiện những thiếu sót để yêu cầu DN giải trình hoặc khai bổ sung. Trong kiểm tra cần xác định cách thức kiểm tra có hiệu quả nhất, trên cơ sở phân loại đối tượng, phân nhóm hồ sơ, nội dung hay sai phạm, kết hợp với ứng dụng tin học, phối hợp với các bộ phận quản lý để thu thập thông tin, từ đó xác định tiêu chí, nội dung kiểm tra phù hợp. Xác định nội dung quản lý trong việc khấu trừ thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế là một khâu công việc quan trọng cần được tăng cường kiểm tra, quản lý. Có kế hoạch kiểm tra kịp thời và chặt chẽ đối với hồ sơ hoàn thuế trước kiểm tra sau, trong năm phải hoàn thành kiểm tra trên 70% số lượt hồ sơ đã hoàn trước.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra kiểm tra chống thất thu thuế; lựa chọn các cơ sở Kinh doanh có rủi ro cao về thuế để lập kế hoạch phải kiểm tra hồ sơ, xác định những trường hợp có dấu hiệu sai phạm cần phải tiến hành kiểm tra tại đơn vị. Lập kế hoạch thanh tra và chủ động tổ chức thanh tra thuế theo tiến độ kế hoạch đã duyệt. Đồng thời, trên cơ sở thu thập thông tin và kiểm tra hồ sơ khai thuế, phát hiện những DN có dấu hiệu vi gian lận thuế, có mức độ rủi ro cao về thuế để bổ sung vào kế hoạch thanh tra. Đôn đốc các doanh nghiệp nộp vào ngân sách kịp thời, đầy đủ số thuế phát hiện truy thu và phạt khi có kết luận xử lý sau thanh tra, kiểm tra.
- Tăng cường quản lý nợ và thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế, nhằm đảm bảo số nợ đọng dưới 5% trên tổng thu. Thực hiện tốt nội dung phân tích tình trạng nợ; ngoài việc phân loại nợ (nợ khó thu, nợ chờ xử lý, nợ có khả năng thu), cần xác định nợ chưa đến hạn cưỡng chế, nợ đến hạn cưỡng chế. Đối với nợ có khả năng thu hoặc nợ mới phát sinh cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc thu nộp, khắc phục tối đa tình trạng để nợ kéo dài đến hạn phải cưỡng chế. Đối với nợ đến hạn cưỡng chế (bao gồm cả nợ đến hạn cưỡng chế của năm trước chuyển sang), thực hiện các biện pháp cưỡng chế đúng quy trình và sử dụng linh hoạt các hình thức cưỡng chế nhằm bảo đảm huy động nguồn thu vào ngân sách đối với các khoản nợ do cố tình chây ỳ. Thực hiện phân giao chỉ tiêu thu nợ, đánh giá kết quả thu nợ đối với từng khoản nợ, tình trạng nợ của từng đơn vị, công chức quản lý thu nợ. Triển khai thực hiện đồng bộ chương trình ứng dụng quản lý nợ cấp Cục, cấp Chi cục.
- Nâng cao chất lượng tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng quản lý. Tổ chức phổ biến chính sách thuế thông qua nhiều hình thức phù hợp. Tiếp tục phát huy và đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng, duy trì chuyên mục "Chính sách thuế và Đời sống” trên Đài truyền hình địa phương, nâng cao chất lượng thông tin của Trang thành phần Cục thuế và phát triển ứng dụng hệ thống kiosk thông tin hỗ trợ DN thuận tiện trong việc tra cứu thông tin thuế. Tuyên truyền, khuyến khích các DN thực hiện tốt chương trình khai thuế điện tử khi có chủ trương triển khai.
Thực hiện hỗ trợ, giải đáp chính sách thuế bằng các hình thức sinh động như: tổ chức giao lưu trực tuyến qua sóng truyền hình; cung cấp dịch vụ hỗ trợ chính sách thuế cho DN qua thư điện tử hoặc thông qua các tổ chức tư vấn thuế, hội doanh nghiệp trẻ... Tổ chức hội nghị đối thoại hoặc phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tập huấn chính sách thuế, chế độ kế toán cho DN nhỏ và vừa, DN mới thành lập.
*) Thực hiện tốt các thủ tục hành chính thuế theo quy định và tiếp tục triển khai thực hiện Đề án 30/CP của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế.
- Công bố công khai Bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, phí lệ phí theo Quyết định số 1902/QĐ-BTC ngày 10/8/2009 của Bộ Tài chính trên các phương tiện thông tin và tại cơ quan Thuế các cấp để doanh nghiệp, người dân biết và thực hiện. Tổ chức thực hiện giai đoạn 2 của Đề án 30/CP theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Tài chính; theo đó, rà soát lại những thủ tục hành chính thuế không cần thiết hoặc không còn phù hợp, gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc gây phiền hà cho Người nộp thuế để đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, đảm bảo mục tiêu cắt giảm trên 30% thủ tục hành chính thuế hiện hành. Bên cạnh đó, qua quá trình thực hiện các quy trình quản lý trong nội bộ ngành, đề xuất Tổng cục Thuế bãi bỏ các khâu công việc trùng lắp, quy định rõ hơn về trách nhiệm của cán bộ trong xử lý từng khâu công việc của quy trình và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kiểm tra, giám sát cán bộ thuế trong quá trình giải quyết, xử lý các thủ tục hành chính thuế cho Người nộp thuế.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận “một cửa” tại Cục Thuế và các Chi cục Thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế. Phối hợp đồng bộ với các ngành liên quan để giải quyết tốt các thủ tục hành chính về đăng ký thuế, xác định nghĩa vụ tài chính đối với các khoản thu về đất... theo cơ chế một cửa liên thông. Đồng thời, thực hiện tốt các thủ tục hành chính trong các khâu thanh tra, kiểm tra, tiếp dân và các loại thủ tục hành chính khác chưa thực hiện cơ chế một cửa trên nguyên tắc giải quyết phải thực sự đơn giản, hiệu quả, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật thuế, nâng cao hiệu quả quản lý thuế, góp phần tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
*) Kiện toàn bộ máy tổ chức, đổi mới phương pháp làm việc và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thuế thông qua đào tạo, bồi dưỡng và tăng cường kỷ cương, kỷ luật của ngành.
- Tập trung kiện toàn bộ máy tổ chức theo Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, sắp xếp, bố trí và điều chỉnh dần cơ cấu cán bộ, công chức của từng đơn vị, bộ phận theo hướng tăng cường cán bộ công chức có đủ trình độ chuyên môn, năng lực công tác và phẩm chất đạo đức cho những bộ phận chức năng chính trong quản lý thuế như: kê khai kế toán thuế, thanh tra kiểm tra thuế, quản lý nợ, tuyên truyền hỗ trợ v.v...
- Đổi mới phương pháp làm việc bằng việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc tại cơ quan Cục Thuế và các Chi cục Thuế phù hợp với chức năng quản lý mới và xây dựng các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng đơn vị, cá nhân. Theo đó, trên cơ sở nhiệm vụ năm 2010 được giao, từng đơn vị xây dựng chương trình công tác năm, hàng quý, hàng tháng và triển khai chương trình kế hoạch công tác đã đề ra. Gắn trách nhiệm của Lãnh đạo đơn vị trong chỉ đạo, điều hành; thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tiến độ triển khai công việc; Lãnh đạo Cục, Lãnh đạo các Chi cục phải có chương trình đi kiểm tra thực tế ở cơ sở. Qua đó kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót, xử lý những đơn vị, cá nhân không thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được phân công hoặc vi phạm kỷ luật.
- Chủ động triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và cử đi học các lớp đào tạo do Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính tổ chức nhằm nâng cao trình độ đội ngũ công chức. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu các kỹ năng về quản lý kê khai, quản lý nợ, thanh tra, kiểm tra thuế... Trong đó, tập trung trọng yếu vào nâng cao của cán bộ công chức thanh tra, kiểm tra, phân tích phát hiện nhanh dấu hiệu sai phạm, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý thuế. Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao kiến thức tin học, ngoại ngữ; bảo đảm 100% cán bộ công chức thuế sử dụng tin học trong công việc chuyên môn, tăng cường việc khai thác, sử dụng thành thạo thông tin trên mạng và các ứng dụng chuyên ngành. Tiếp tục thực hiện môi trường làm việc, chỉ đạo, điều hành và thực hiện báo cáo thông qua mạng nội bộ để trao đổi thông tin qua mạng nội bộ của ngành.
- Thực hiện nghiêm kỷ cương kỷ luật của ngành; bên cạnh việc chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm, tác phong, lề lối làm việc cho cán bộ công chức gắn với việc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí quan liêu và nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; cần tăng cường công tác kiểm tra nội bộ, tập trung kiểm tra trách nhiệm công vụ trong thực hiện các quy trình quản lý, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng, công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư XDCB. Bên cạnh đó, thực hiện tốt cơ chế giám sát hoạt động của đoàn thanh tra, kiểm tra thuế, kiểm tra nội bộ. Tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân được thanh tra kiểm tra nêu ý kiến về kết quả thanh tra kiểm tra và phản ánh những trường hợp gây phiền hà của công chức khi thực hiện nhiệm vụ. Duy trì các công cụ thuận lợi cho người nộp thuế để tiếp nhận thông tin và có biện pháp kiểm tra, xử lý kịp thời những thông tin từ người nộp thuế phán ánh.
Hoàn thành nhiệm vụ công tác thuế năm 2010 có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010). Toàn ngành thuế Quảng Ngãi phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí cao, tổ chức phát động phong trào, ký kết giao ước thi đua, chủ động vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, phấn đấu quyết liệt nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.
Hồ Quang Vịnh
Cục trưởng Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi