Thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh ta phát sinh khá nhiều khiếu nại đối với các hành vi hành chính của cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn hoặc hành vi hành chính, quyết định hành chính của của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn liên quan đến lĩnh vực đất đai như: xác nhận sai tình trạng sử dụng đất khi công dân lập các thủ tục về đất đai, đo đạc xác định diện tích đất sai, không cho đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…
Các khiếu nại loại này đã được các cấp hành chính tập trung giải quyết, tuy nhiên trong nhiều trường hợp vì quyền lợi của mình, mặc dù khiếu nại sai và chính quyền qua hai cấp giải quyết đều đã bác khiếu nại, nhưng công dân vẫn liên tục phát sinh đơn đến các cơ quan chức năng đã làm phức tạp thêm tình hình khiếu nại, tố cáo ở địa phương. Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo, trường hợp khiếu nại loại này, nếu đã qua hai cấp giải quyết nhưng người khiếu nại vẫn không đồng ý thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền.
Tuy nhiên, qua xem xét các quy định pháp luật liên quan cho thấy hiện pháp luật chưa có quy định rõ về quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện đối với hành vi hành chính, quyết định hành chính trong quản lý đất đai của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn, cụ thể như sau:
- Ngày 29/10/2004 Chính phủ ban hành Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, khoản 1 Điều 163 của Nghị định này quy định “Trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyết định hành chính trong quản lý đất đai hoặc cán bộ, công chức thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có hành vi hành chính trong khi giải quyết công việc về quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. Như vậy khiếu nại đối với hành vi hành chính, quyết định hành chính của Chủ tịch xã, phường, thị trấn trong quản lý đất đai do Chủ tịch UBND quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu.
Trên cơ sở quy định này của pháp luật về đất đai, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh ngày 05/4/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội), tại khoản 2 Điều 2 chỉ có quy định về quyền khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai (được định nghĩa tại khoản 17, Điều 11 của Pháp lệnh này) trong các trường hợp: Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó. Và tại điểm c, khoản 2, Điều 30 của Pháp lệnh này quy định thời hiệu khởi kiện là 45 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết lần đầu.
- Ngày 25/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, tại khoản 2 Điều 67 của Nghị định này đã hủy bỏ Điều 163 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004. Và việc giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai không phải của Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành thì được hướng dẫn tại Điều 65 của Nghị định như sau: “Việc giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường và quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thuộc trường hợp quy định tại Điều 63 và Điều 64 Nghị định này được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”.
Theo đó, đối chiếu với quy định tại Điều 19 Luật Khiếu nại, tố cáo thì Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với hành vi hành chính của mình trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành sau Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung ngày 05/4/2006). Sửa đổi của Nghị định 84 về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai chưa được các cơ quan trung ương bổ sung vào Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, vì thế trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính hiện đang có hiệu lực thi hành chưa có quy định về quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND các xã, phường, thị trấn trong quản lý đất đai mà sau khi Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn đã giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó.
Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện thì các vấn đề về thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ kiện, việc xác định thời hiệu khởi kiện, trình tự xét xử,… phải tuân theo pháp luật về thủ tục (pháp luật tố tụng) trong lĩnh vực đã khởi kiện. Trong trường hợp này luật tố tụng chưa quy định quyền khởi kiện lẫn thời hiệu khởi kiện đối với việc khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn trong lĩnh vực đất đai, do đó nếu công dân có phát sinh đơn kiện thì Tòa án nhân dân các huyện, thành phố không có cơ sở để thụ lý giải quyết.
Từ khi Nghị định 84/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 02/7/2007) đến nay đã hơn 02 năm nhưng vẫn chưa có văn bản nào bổ sung quyền khởi kiện của công dân trong trường hợp đã nêu. Đây là bất cập cần được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẩn trương khắc phục, có hướng dẫn cụ thể để Tòa án các cấp thực hiện nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của công dân.
TTD