Đăng nhập Email
  User Name:
  Password:

 
Trang chủ Sơ đồ web Font unicode  
..:::::::::: TỈNH QUẢNG NGÃI ::::::::::..

 Tin tức Thanh tra

 Trao đổi về xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp (25/05/2009)

Qua tìm hiểu việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần trong thời điểm năm 2004-2006 nhận thấy có một số cần trao đổi, bổ sung cho phù hợp với  thực tiễn đặt ra; ở đây chỉ đặt ra một vấn đề nhỏ về tài chính trong việc xác định gía trị doanh nghiệp khi  thực hiện cổ phần hóa.

Ngày 16/11/2004 Chính phủ có Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Để triển khai thực hiện Nghị định này, ngày 24/12/2004 Bộ Tài Chính có Thông  tư 126/2004TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

Vốn đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác có nhiều hình thức trong đó có góp vốn liên doanh; theo điều 14 Nghị định 187/2004/NĐ-CP trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa kế thừa vốn đầu tư dài hạn của công ty nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác thì toàn bộ vốn này tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa theo nguyên tắc qui đinh tại điều 20 Nghị định này. Điều 20 xác định gía trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp cổ phần hóa tại các doanh nghiệp khác có một số điểm như sau: Điểm 1.- Giá vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính  đã  được kiểm toán của doanh nghiệp mà công ty nhà nước có vốn đầu tư;- Tỷ lệ vốn đầu tư của công ty nhà nước trước khi cổ phần hóa tại doanh nghiệp khác. Điểm 2-Trường hợp gía trị vốn đầu tư dài hạn của công ty nhà nước tại doanh nghiệp khác xác định thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách kế toán thì giá trị ghi trên sổ kế toán của công ty nhà nước là cơ sở để xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa. Thông tư 126/2004TT-BTC ngày 24/12/2004 Bộ Tài Chính chỉ cụ thể hóa thêm trường hợp doanh nghiệp có kế thừa và không kế thừa liên doanh. Ở đây chúng tôi xin trao đổi trường hợp doanh nghiệp kế thừa liên doanh. Ví dụ một doanh nghiệp góp vốn thành lập công ty liên doanh với một đơn vị khác với số tiền góp vốn là 100tỷ đồng để xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, tỷ lệ góp vốn 50%; sau 5 năm hoạt động công ty liên doanh hoạt động bình thường không đầu tư nâng cấp cải tạo thêm, hàng năm công ty liên doanh được kiểm toán vẫn xác định vốn góp mỗi bên 100tỷ đồng, tỷ lệ 50%. Khi thực hiện cổ phần hóa công ty thì ghi phần góp vốn với công ty khác là 100tỷ đồng theo sổ sách kế toán, thực chất phần vốn 100tỷ bằng nhà cửa, vật kiến trúc kiên cố đã tăng 25-35% do nguyên, nhiên vật liệu, nhân công tăng hằng năm tăng bình quân 5-7% (tính tương đối theo hệ số trược giá), như vậy sau 5 năm phần vốn góp liên doanh này phải tăng 15-20% (đã trừ cho tỷ lệ chất lượng còn lại mỗi năm 2-3%). Bên cạnh nếu công ty liên doanh đầu tư nhà cửa, vật kiến trúc kiên cố có vị trí địa thế kinh doanh thì phần góp vốn này tăng thêm 10-20% sau 5 năm, có khi lợi thế tăng thêm 100%. Trường hợp ngược lại do điều kiện nào đó như nhà cửa, vật kiến trúc đầu tư lạc hậu giá thị thực tế của tài sản sau 5 năm thấp xuống. Nói chung không phản ánh đúng giá thực tế của tài sản được đầu tư.

Việc xác định như trên dẫn đến khó khăn trong việc xác định giá trị doanh nghiệp đúng với giá thực tế của tài sản là nguyên giá tính theo giá thị trường nhân với chất lượng còn lại của tài sản. Thực tiễn đã diễn ra trường hợp khi xác định giá trị doanh nghiệp đối với phần góp vốn liên doanh như sổ sách kế toán nhưng sau khi cổ phần hóa đựợc cấp thẩm quyền cho phép bán phần vốn góp liên doanh tăng 20-30%, có trường hợp tăng gấp đôi giá trị tài sản, vô hình chung làm mất phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa.

Với những cơ sở lý luận và thực tiễn đã đặt ra như trên, chúng tôi thiết nghĩ nên xác định tài sản góp vốn liên doanh để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thường có giá trị lớn hàng tỷ đồng, phải định giá theo giá trị thị trường như các tài sản khác của doanh nghiệp; với phương pháp này thì xác định tương đối chính xác giá trị tài sản vốn góp liên doanh.

                                                          

                                                                                  LH

 Các tin khác:

. Tin về việc giải quyết khiếu nại của ông Dương Bốn, thường trú tại thôn Cộng hòa 2, xã Tịnh Ấn Tây, huyện Sơn Tịnh (25/05/2009)

. Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng Đường Eo Chim - Trà Nham, huyện Tây Trà (25/05/2009)

. Kết quả kiểm tra việc cấp phát tiền hỗ trợ cho người nghèo ăn Tết theo Quyết định số 81/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tại một số địa phương trong tỉnh (21/04/2009)

. Thành lập Tổ công tác thẩm tra, xác minh giải quyết khiếu nại của ông Võ Văn Công ở thôn Bình Thanh, xã Trà Bình, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi (31/03/2009)

. Nội dung thanh tra khu dân cư đường Nguyễn Du (05/03/2009)

. Tin về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng Vinh (23/02/2009)

. Thăm và tặng quà Tết cho gia đình nghèo (03/02/2009)

. Thông tin về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Trợ, thường trú tại tổ 7, phường Chánh Lộ, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. (09/12/2008)

. Tình hình thanh tra kinh tế - xã hội tháng 10-2008 của ngành Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi (23/10/2008)

. Tình hình tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi tháng 10-2008 (23/10/2008)

. Thông tin về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Quốc Giám (thường trú tại Tổ 10, phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi) (15/09/2008)

. Thông tin về việc giải quyết khiếu nại của ông Đỗ Văn Phấn, ở thôn Thọ Tây, xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (03/09/2008)

. Tình hình tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi tháng 8-2008 (27/08/2008)

. Tình hình thanh tra kinh tế - xã hội của ngành Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi tháng 8-2008 (27/08/2008)

Xem bài viết từ ngày

Thông tin cần biết


 

 

[ Trở về |  Đầu trang ]

Bản quyền của UBND tỉnh Quảng Ngãi

Vietnam Software Outsourcing Vietnam Software Development