Kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2009 đặt ra mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu là 13% so với năm 2008, tức là đạt kim ngạch xuất khẩu 72 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của nước ta đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm trước. Con số ấy lẽ ra còn đạt cao hơn nếu như 4 tháng cuối năm kim ngạch xuất khẩu không bị giảm dần do ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế bắt đầu từ Mỹ lan ra toàn cầu. Bước sang năm 2009, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu đối với nước ta còn nặng nề hơn, trước hết là đối với xuất khẩu. Đó là những thách thức về sức mua suy giảm, thị trường bị thu hẹp, giá cả “rơi tự do”; đó là những khiếm khuyết chủ quan của chúng ta bộc lộ trong lĩnh vực giao thương quốc tế cũng như những khó khăn, hạn chế năng lực xuất khẩu của bản thân các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu …
Trước những thử thách đó, kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2009 chỉ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu là 13% so với năm 2008, tức là đạt kim ngạch xuất khẩu 72 tỷ USD.
Để đạt được mục tiêu ấy, chúng ta phải phấn đấu thực hiện đồng bộ hàng loạt giải pháp hữu hiệu, từ chính sách tài chính - tiền tệ, chiến lược xâm nhập thị trường, cơ cấu mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh, cho đến các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, thương thảo và đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của từng ngành hàng xuất khẩu của chúng ta,…
Dưới đây là những giải pháp chủ yếu.
1. Triển khai gói “kích cầu tổng hợp” bằng tiền và những chính sách hỗ trợ “có thể qui ra tiền”
Theo đó, tổng gói kích cầu tổng hợp được Chính phủ triển khai ngay từ đầu năm 2009 trị giá 6 tỷ USD, trong đó có 1 tỷ USD tiền mặt (tương đương 17.000 tỷ đồng). Một phần số tiền này được bổ sung cho Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại cho vay đối với các ngành hàng xuất khẩu mà ưu tiên là ngành nông - lâm - thuỷ sản (thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, đồ gỗ,…). Doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu và nông dân sản xuất hàng xuất khẩu sẽ được vay vốn có hỗ trợ lãi suất (bù lãi suất 4%), nông dân được hỗ trợ 10% giá trị nông sản bán ra, được hỗ trợ thiết bị, kinh phí kiểm tra dư lượng kháng sinh, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo quản hàng hóa nông sản sau thu hoạch (đầu tư sân phơi, lò sấy, kho chứa…). Chẳng hạn, ngành cao su đã vay 1.500 tỷ đồng từ nguồn vốn kích cầu để mua 100 tấn mủ cao su đang tồn đọng của nông dân và chủ trang trại để làm lực lượng dự trữ, nhằm giữ giá xuất khẩu, bảo đảm lợi nhuận cho cả nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu. Ngành cà phê cũng đầu tư 32.800 tỷ đồng chủ yếu cho xây dựng hạ tầng, nghiên cứu khoa học, khuyến nông, xúc tiến thương mại; cải tạo đất, thâm canh và bảo đảm sản xuất an toàn, bền vững cho cây cà phê.
Ngoài gói kích cầu bằng tiền mặt, thì gói kích cầu bằng chính sách “có thể quy ra tiền” cũng lên tới gần 100.000 tỷ đồng, đó là các tác động hỗ trợ doanh nghiệp thông qua giảm thuế xuất nhập khẩu, giảm thuế, hoàn thuế, bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn quốc tế,…
2. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường
Hoạt động xúc tiến thương mại của các ngành hàng xuất khẩu vẫn dựa vào các tham tán thương mại của Việt Nam ở các nước, tổ chức hội chợ, hội nghị khách hàng nhằm quảng bá các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của ta, từ đó mà củng cố và mở rộng các thị trường cũ, tranh thủ tìm kiếm thị trường mới.
Năm 2009 được dự báo là những thị trường xuất khẩu lớn của ta như Mỹ, Nhật và EU sẽ suy giảm sức mua do khủng hoảng kinh tế, do vậy cần tập trung vào hướng khai thác các thị trường mới như Ai Cập, Châu Phi, Trung Mỹ,… Chẳng hạn, thị trường Ai Cập với 82 triệu dân, là một trong 10 nước nhập khẩu gạo, thủy sản, cà phê, chè, hồ tiêu,… từ Việt Nam là rất lớn. Năm 2008, kim ngạch nhập khẩu hàng Việt Nam của Ai Cập đạt tới 150 triệu USD. Đặc biệt, người dân Ai Cập rất ưa dùng hàng thuỷ sản Việt Nam: trong 10 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Ai Cập đạt 60 triệu USD.
Đối với ngành dệt may thì triển vọng tăng kim ngạch xuất khẩu lại chủ yếu dựa vào phát triển thị trường Đông âu và khai thác sâu hơn thị trường Nhật Bản. Các hàng dệt may Việt Nam đang liên kết với một số nước Tây âu và Nga để mở nhà máy sản xuất quần áo xuất sang Đông âu, thực hiện “xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả. Đối với thị trường Nhật Bản, sau khi hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam với Nhật Bản có hiệu lực (vào cuối quí I/2009), chúng ta sẽ xuất được một số lượng khá vải và sợi sang Nhật.
3. Cần khắc phục những khiếm khuyết chủ quan để nâng cao số lượng và chất lượng hàng xuất khẩu
Đó là những khiếm khuyết không đáng có trong kiểm tra dư lượng kháng sinh, vệ sinh thực phẩm. Cũng chính vì lý do này mà Nga vừa thông báo là tạm ngừng nhập khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam kể từ 20/12/2008 vì các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực hiện tốt các quy định vệ sinh dịch tễ theo yêu cầu của Nga trong quy trình chăn nuôi - chế biến - đóng gói - vận chuyển.
Đó là những yếu kém về đầu tư thiết bị hiện đại cho bảo quản, chế biến, phân loại nông sản nhằm đạt giá trị xuất cao. Vì thế mà nhiều loại nông sản của Việt Nam bị trả lại do kém chất lượng, khiến nhiều doanh nghiệp mất uy tín với khách hàng.
Đó là những yếu kém về cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu cùng mặt hàng mà phổ biến là cho giá thấp hơn, để cho đối tác nước ngoài lợi dụng dìm giá.
Đó là những yếu kém trong công tác dự báo nhu cầu thị trường và khả năng xuất khẩu của ta. Bài học về yêu cầu ngừng xuất khẩu gạo từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2008 là một thí dụ: khi giá gạo đạt tới 410 USD/tấn thì yêu cầu các doanh nghiệp ngừng xuất, đến khi cho xuất khẩu gạo trở lại (vào tháng 7/2008) thì giá gạo tụt xuống 300 USD/tấn, khiến cả nhà xuất khẩu lẫn nông dân lao đao!
…
Khắc phục được những yếu kém, hạn chế đã bộc lộ trong quy trình va chạm với thương trường quốc tế (mà những tình huống trên đây là điển hình) cũng chính là giải pháp thiết thực để tăng cường cả số lượng lẫn chất lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam./.