Softech Danang


 
Đăng nhập Email
  User Name:
  Password:

 
Trang chủ Sơ đồ web Font unicode  
..:::::::::: TỈNH QUẢNG NGÃI ::::::::::..

 Tin tức Thông tin qua các báo

 Đầu tư nước ngoài trong Quý I năm 2008 (07/05/2008)

Quý I năm 2008 kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước tiếp tục khả quan mặc dầu chịu tác động không nhỏ của các yếu tố khó khăn trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới như giá cả nguyên vật liệu... biến động khôn lường, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng...

 

Tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm trong quý I năm 2008, cả nước đã thu hút thêm 5.436 triệu USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2007. Bao gồm, vốn đầu tư đăng ký là 5.156 triệu USD của 147 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT), tăng 43% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ vốn đăng ký cấp mới trong quý I năm 2008 tăng khá cao so với cùng kỳ năm 2007 do có nhiều dự án lớn được cấp GCNĐT, trong đó có: dự án Công ty TNHH Good Choice USA - Việt Nam của tập đoàn Good Choice – Hoa Kỳ đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao, khu vui chơi giải trí, ẩm thực ..... tại Bà Rịa Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư là 1,299 tỷ USD; dự án Công ty TNHH trung tâm tài chính Việt Nam do tập đoàn Berjaya Leisure, Malaysia đầu tư, mục tiêu là kinh doanh bất động sản với tổng vốn đầu tư 930 triệu USD; dự án Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực Việt – Nhật do 3 Công ty của Nhật Bản làm chủ đầu tư, mục tiêu dự án là đầu tư xây dựng cao ốc văn phòng cho thuê, sản xuất phần mềm, cung ứng nguồn nhân lực với tổng vốn đầu tư là 610,3 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển Lập An của Singapore, đầu tư xây dựng khu khách sạn, du lịch 5 sao, bán và cho thuê biệt thự, nhà ở tại Thừa Thiên Huế với tổng vốn đầu tư là 298,4 triệu USD.

 

Hoa Kỳ là nhà đầu tư có số vốn đầu tư đăng ký lớn nhất trong quý I năm 2008 với 8 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,31 tỷ USD (chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư đăng ký), do có dự án Công ty TNHH Good Choice USA - Việt Nam nói trên. Tiếp theo là Malaysia với 4 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,26 tỷ USD, chiếm 24,6% tổng vốn đầu tư trong quý I năm 2008, vốn đầu tư đăng ký tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực dịch vụ với hơn 4,6 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 89,9% tổng vốn đầu tư, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là các dự án kinh doanh bất động sản, khách sạn. Lĩnh vực công nghiệp chiếm 10% tổng vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư. Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước với 4 dự án, tổng vốn đầu tư là 2,08 tỷ USD, chiếm 40,3% vốn đầu tư; tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu với 1 dự án, vốn đầu tư là 1,29 tỷ USD, chiếm 25,2% tổng vốn đầu tư đăng ký và Thừa Thiên Huế đứng thứ 3, chiếm 11,8%, trong 23 địa phương của cả nước có dự án ĐTNN.

 

Tiếp theo đà tăng trưởng của năm 2007, trong quý I năm 2008 một số doanh nghiệp ĐTNN đã triển khai tích cực ngay trong tháng đầu tiên của năm 2008, bằng việc góp trên 1,68 tỷ USD vốn đầu tư thực hiện, tăng 24% so với vốn thực hiện của cùng kỳ năm trước. Doanh thu của các doanh nghiệp ĐTNN trong qúy I năm 2008 ước tính đạt 7.600 triệu USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giá trị xuất khẩu ước đạt 5.398 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 6100 triệu USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm trước, nộp ngân sách 355 triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ.

 

Trong tháng 3 năm 2008, khối doanh nghiệp ĐTNN đã thu hút thêm được 12.000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực có vốn ĐTNN tính đến thời điểm này lên 1.172 nghìn lao động, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.

 

Để thực hiện được mục tiêu đề ra (vốn đăng ký cấp mới tương đương kết quả năm 2007, vốn giải ngân tăng khoảng 25% so với năm 2007), trong thu hút ĐTNN 9 tháng còn lại trong năm 2008 cần tập trung vào một số nhóm giải pháp sau:

 

1. Về môi trường pháp lý:

 

- Rà soát, điều chỉnh các cam kết về mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ theo đúng các cam kết của WTO. Công khai các văn bản pháp quy của các Bộ, ngành có liên quan về điều kiện đầu tư hoặc hành nghề của các doanh nghiệp nói chung để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các cam kết của Nhà nước ta. Đồng thời, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành các văn bản về quản lý đầu tư nước ngoài trên địa bàn theo hướng minh bạch, rõ ràng về đầu mối, thời gian, đầu mục hồ sơ…

 

- Tập trung thực hiện các công việc theo nội dung công văn số 2513/BKH-ĐTNN của bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ký ngày 13/4/2007 về tăng cường quản lý hoạt động ĐTNN trong tình hình mới.

 

- Ban hành Thông tư hướng dẫn một số nội dung chưa rõ ràng, cụ thể tại NĐ số 108/2006/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư.

 

- Tiếp tục huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, trong đó có việc ban hành quy chế khuyến khích tư nhân, đầu tư nâng cấp các công trình giao thông, cảng biển, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, phấn đấu không để xảy ra tình trạng thiếu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

 

- Điều chỉnh quy hoạch các ngành cho phù hợp với các thỏa thuận và cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, đặc biệt chú trọng công tác dự báo nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch (quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm, địa bàn...); xoá bỏ quy định về việc yêu cầu các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch sản phẩm.

 

2. Về thủ tục hành chính:

 

- Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế “liên thông-một cửa” ở các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý đầu tư. Tăng cường năng lực quản lý ĐTNN của các cơ quan chức năng và cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra hoạt động đầu tư; giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, thuế, xuất nhập khẩu, hải quan,... nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động ĐTNN, qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.

 

- Thực hiện từng bước minh bạch hoá chính sách, thủ tục đầu tư; công khai hoá các bước của quá trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư lên mạng.

 

Về quản lý nhà nước trong hoạt động ĐTNN :

 

Tập trung vào các biện pháp giảm khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện như: Phối hợp hỗ trợ, thúc đẩy nhanh việc giải ngân vốn đăng ký của các dự án đã được cấp GCNĐT, đặc biệt chú trọng đến công tác thúc đẩy triển khai các dự án quy mô vốn đầu tư lớn được cấp GCNĐT trong năm 2006 và năm 2007 bằng cách tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng .v.v. giúp cho các dự án này triển khai nhanh chóng; xây dựng, củng cố hệ thống quản lý thông tin đầu tư nước ngoài, kết nối các đầu mối quản lý đầu tư tại địa phương để đảm bảo tốt chính sách hậu kiểm.

 

3. Về xúc tiến đầu tư:

 

- Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói riêng và quản lý đầu tư nói chung; vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở các lớp đào tạo về xúc tiến và quản lý đầu tư nước ngoài.

 

- Khẩn trương triển khai việc thành lập các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm. Ngoài ra, đề nghị UNIDO xem xét nối lại chương trình cử đại diện Việt Nam tại Văn phòng xúc tiến đầu tư của UNDO (IPS) tại một số nước và khu vực trọng điểm (Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, áo, Italia, Hoa Kỳ);

 

- Nâng cấp trang thông tin website giới thiệu về đầu tư nước ngoài; trang web cần được thiết kế khoa học bằng tiếng Anh, tiếng Hoa và tiếng Nhật; biên soạn lại các tài liệu giới thiệu về đầu tư nước ngoài như guidebook, in tờ gấp giới thiệu về cơ quan quản lý đầu tư, cập nhật các thông tin về chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài; làm đĩa VCD hoặc CD ROM để giới thiệu về môi trường đầu tư.

 

- Triển khai đúng tiến độ việc thực hiện Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình XTĐT quốc gia giai đoạn 2007-2010.

4. Một số vấn đề khác:

 

 - Tiếp tục xây dựng hiệu quả chương trình thực hiện Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản giai đoạn III, cũng như Cơ chế hợp tác giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Việt Nam) và Cơ quan Phát triển kinh tế- EDB (Singapore) phù hợp với tình hình mới.

 

- Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành với các nhà đầu tư nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các dự án đang hoạt động, đảm bảo các dự án hoạt động có hiệu quả, đúng tiến độ và nhằm tiếp tục củng cố lòng tin của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tạo hiệu ứng lan tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các hiệp hội doanh nghiệp thông qua các hoạt động của Nhóm M & D, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam

 

Nguồn  tin: http://www.khucongnghiep.com.vn

 Các tin khác:

. Tin Doanh nghiệp cần biết: Một số qui chế quản lý nhập khẩu thực phẩm nói chung sang thị trường Hoa Kỳ (17/04/2008)

. Ngày 27-3, tại Đà Nẵng: Khai mạc Hội thảo “Miền Trung - Vận hội mới cho đầu tư và phát triển” (31/03/2008)

. Báo SGGP và Bộ Kế hoạch-Đầu tư tổ chức Hội thảo “Miền Trung – Vận hội mới cho đầu tư và phát triển” (27/03/2008)

. 119 doanh nghiệp đoạt giải Doanh nghiệp hội nhập và phát triển (26/03/2008)

. Quý 1-2008: Xuất khẩu đi xuống, nhập khẩu tăng kỷ lục (24/03/2008)

. Doanh nghiệp trẻ làm theo lời Bác (18/03/2008)

. Câu hỏi về thành lập doanh nghiệp và thành lập chi nhánh (07/03/2008)

. Yêu cầu đối với nhà ở cho người lao động trong KCN, KCX, KKT (29/02/2008)

. Sản phẩm gỗ Việt Nam khẳng định mình trên thị trường thế giới (03/01/2008)

. Bộ Công Thương đẩy mạnh kiểm tra hàng dệt may xuất khẩu (25/12/2007)

. Thành lập Tổ kiểm tra hàng dệt may xuất khẩu (19/12/2007)

. Xuất khẩu hàng dệt may và phụ liệu sang Hàn Quốc 9 tháng đầu năm đạt gần 1 tỷ USD (12/12/2007)

. Nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường Nhật Bản 9 tháng năm 2007 đạt 228 triệu USD (05/12/2007)

. Cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa qua mạng (04/12/2007)

 

Thông tin cần biết

Chính phủ ban hành nghị định số 29/2008/NĐ-CP Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế

 

[ Trở về |  Đầu trang ]

Bản quyền của UBND tỉnh Quảng Ngãi
Thiết kế bởi Softech