| |
|
|
Thả thuyền lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. |
Lần giở những trang lịch sử, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí... của Quốc sử quán triều Nguyễn, lẫn những trang ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, của Phan Huy Chú trong Hoàng Việt địa dư chí…
ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy, cách đây 3, 4 thế kỷ trước, các chúa Nguyễn đã bắt đầu ý thức đến nguồn tài nguyên vô tận, cũng như sớm xác lập chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển Đông của Tổ quốc, mà trước hết đó là tại quần đảo Hoàng Sa. Hằng năm các chúa Nguyễn đã tuyển 70 dân đinh, giỏi nghề đi biển, ở các làng An Vĩnh và An Hải tại vùng cửa biển Sa Kỳ, và sau đó là dân đinh ở phường An Vĩnh và phường An Hải trên đất đảo Lý Sơn, giương buồm nương theo gió nồm vượt sóng ra quần đảo Hoàng Sa. Cứ tháng hai nhận lệnh ra đi và đến tháng tám trở về cửa Eo (Thuận An) để nộp cho kinh thành Huế các loại hải vật quý giá và những thứ nhặt được trên vùng biển đảo này, như đồ đồng, đồ thiếc… Theo gia phả, các bản khế ước, các sổ đinh, các văn bản định suất thuế khóa bằng chữ Hán của các dòng họ còn trên đảo Lý Sơn và những gì đang lưu truyền trong trí nhớ của nhiều bô lão, thì 70 suất đinh định chế đi Hoàng Sa và sau này cả Trường Sa, nhiều nhất vẫn là người của làng An Vĩnh trên đảo Lý Sơn. 70 định suất đó được phân đều cho các tộc họ, không phân biệt tiền hiền hay hậu hiền, theo nguyên tắc luân phiên nhau, và người đăng lính Hoàng Sa thường là con thứ (vì người con trưởng phải ở nhà lo tế tự).
Đội Hoàng Sa được thành lập chính thức năm nào, lịch sử không ghi rõ, chỉ biết là vào thời "đầu bản triều", "hồi đầu dựng nước" (của chúa Nguyễn ở Đàng Trong), tức sớm nhất có lẽ là vào cuối thế kỷ XVI, hoặc đầu thế kỷ XVII). Nếu cứ tạm thời xác định, là đội Hoàng Sa, và sau này được củng cố thành Thủy quân Hoàng Sa (kiêm quản Trường Sa và Bắc Hải, mộ thêm các ngư dân ở Quảng Bình, Bình Thuận, thuộc các làng Tứ Chính, Bình Cố, Cảnh Dương), hoạt động liên tục suốt 3 - 4 thế kỷ, thì đã phải có hàng vạn người đã phải vượt qua không biết bao nhiêu sóng gầm, bão tố để đo đạc thủy trình, cắm cột mốc dựng bia chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển đảo theo lệnh của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này.
Cho đến nay, người dân đất đảo Lý Sơn vẫn còn lưu truyền câu ca:
Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa
Câu ca não nùng trên đây là lời tóm tắt số phận của những người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa từ thuở xa xưa ấy - những người được vua Tự Đức gọi là những "hùng binh". Chắc hẳn trong hàng vạn người từng ra đi, không có nhiều người được may mắn trở về. Hình ảnh những khu mộ gió không xác người của các tộc họ Phạm Quang, Phạm Văn, Võ Văn… trên đảo Lý Sơn còn phơi bày trong nắng đã là một minh chứng đầy bi hùng trong quá khứ. Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ thức tri ân những lính Hoàng Sa, Trường Sa thuở xa xưa ấy.
* Khao lề và tri ân:
Hằng năm vào dịp cúng việc lề, tức khoảng thời gian từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 2 âm lịch, người Lý Sơn làm lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, hay khao lề tế lính Hoàng Sa. Hầu hết các tộc họ trên đất đảo có người đăng lính Hoàng Sa, Trường Sa đều thực thi lễ thức này. Nếu là để chia tay những người đăng lính thì đó là lễ thức khao lề thế lính, còn nếu là để tưởng niệm người đăng lính đã bỏ mình trên dặm dài sóng nước, thì đó là lễ thức khao lề tế lính. Mà thường là cho cả hai, thế người còn sống và tế người đã chết. Không biết lễ thức này có tự bao giờ, nhưng chắc hẳn nó chỉ có khi đội Hoàng Sa gánh vác sứ mệnh lịch sử thiêng liêng trên biển Đông mà chúa Nguyễn và sau này là nhà Nguyễn giao phó. Khao lề chỉ là lệ khao định kỳ hằng năm (như hình thức cúng việc lề mà một số nơi trong nước còn gìn giữ), nhưng thế lính lại là nghi lễ mang đậm yếu tố phù phép của đạo giáo nhằm thế mạng cho người đi lính, bởi ai cũng biết rằng người đi lính Hoàng Sa sẽ phải luôn luôn đối mặt với bão tố, sóng gầm.
Như những gì còn ghi trong sử sách và lưu truyền trên đất đảo Lý Sơn, thì người lính Hoàng Sa phải lênh đênh cùng sóng gió trong 6 tháng ròng nhưng chỉ với những chiếc thuyền câu thì số phận xem như đành gửi theo trời mây và bọt biển. Để có cơ may xác mình còn được yên lành trôi về bản quán, trước khi ra đi mỗi người đi lính Hoàng Sa phải tự chuẩn bị cho riêng mình: Một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài. Nếu không may ngã xuống, thì đôi chiếu, những chiếc đòn tre và các dây mây kia là vật dụng để bó xác người. Người chết sẽ được thả trôi trên biển cùng chiếc thẻ bài đã được ghi tên phiên hiệu. Nhưng chắc hẳn cũng chẳng có mấy xác người được may mắn trôi về bản quán. Những tên tuổi được ghi trong sử sách như Cai đội Phạm Quang Ảnh (Ất Hợi, 1815), Chánh thủy quân suất đội Phạm Văn Nguyên (Ất Mùi, 1835), Chánh thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật (Bính Thân, 1836)…, là những người đã từng được vua Gia Long, vua Minh Mạng cử đi Hoàng Sa, kiêm quản Trường Sa không phải chỉ tìm kiếm hải vật, sản vật, đo đạc thủy trình, tuần phòng trên biển đảo, mà còn cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tiêu biểu là Phạm Hữu Nhật) đều là những người đã không có cơ may trở về.
Tuy biết khó có cơ may trở về, nhưng con người vẫn phải hy vọng, dù hy vọng mỏng manh. Như để cứu vớt niềm hy vọng ấy, trước khi ra đi, cùng với việc tộc họ bàn soạn lễ vật sanh tươi, hương đăng tỏa rạng, thầy phù thủy sẽ nặn hình nhân thế mạng bằng bột gạo, hoặc bằng đất sét. Hình nhân thế mạng sẽ được đặt cạnh linh vị đã ghi tên tuổi người đi lính Hoàng Sa. Trong khói hương nghi ngút, lời phù chú lầm rầm trên nền nhạc bát âm hoặc ngũ âm xen lẫn tiếng mõ thị uy của thầy phù thủy với áo thụng, mũ tam sơn sẽ diễn ra dềnh dàng suốt cả 2 ngày. Bên cạnh hình nhân và linh vị là người đi lính Hoàng Sa. Người lính ấy luôn đứng hầu thần suốt buổi tế bằng chính niềm tin là lời nguyện cầu của chính mình, của tộc họ sẽ thấu suốt đấng linh thiêng và ngón nghề ấn quyết của thầy phù thủy sẽ xua được tà ma quỷ ám trên dặm dài sóng nước.
Sau lễ thức ở nhà thờ tộc họ, người Lý Sơn sẽ đặt các hình nhân và linh vị, cùng những thứ tượng trưng mà người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa thường mang theo, như gạo, muối, củi, nước ngọt, lưới… vào chiếc thuyền bằng chuối cây rồi đem thả ra biển. Lời nguyện cầu về sự bình yên lẫn lời xua đuổi rủi ro sẽ được bỏ chung cùng thuyền lễ. Giữa bập bềnh sóng gió hình nhân là kẻ thế mạng cho người đăng lính.
Khi buổi lễ tế thế lính Hoàng Sa kết thúc, người lính coi như "đã có một lần chết", và "hùng binh" ấy có quyền tin tưởng rằng mình sẽ không còn phải chết nữa dù sẽ trải qua muôn ngàn bất trắc trên biển khơi ròng rã 6 tháng liền. Vì thế có thể xem lễ tế có người đăng lính đứng hầu chính là một lễ tế sống.
Nhưng không phải chỉ có tế sống. Mỗi tộc họ trên đảo Lý Sơn lẫn trong đất liền cạnh cửa biển Sa Kỳ và một số nơi khác cũng đã có hằng trăm người không may mắn trở về. Tại nhà thờ các tộc họ Phạm Quang, Phạm Văn, Võ Văn, Trương, Nguyễn… từ ngày 10 đến 20 tháng 2 (Âm lịch), tại Âm linh tự vào ngày 15 và 16 tháng 3 (Âm lịch) vẫn còn lễ cầu siêu và hội hoa đăng, cầu cho những linh hồn lính Hoàng Sa được siêu thoát, vẫn còn thầy pháp ra tay ấn quyết và lầm rầm phù chú; vẫn còn hình nhân bằng đất sét, hoặc bằng bột gạo, thậm chí bằng giấy; vẫn còn hằng trăm linh vị cắm trên nài chuối và những thứ tượng trưng mà người lính Hoàng Sa, Trường Sa từng mang đi được cung thỉnh thả vào sóng nước, song chỉ còn nét nghĩa tế lính Hoàng Sa và cả Trường Sa nhằm tri ân những người đã vì Tổ quốc hy sinh trên vùng biển đảo.
Nếu như những dòng ghi chép về đội Hoàng Sa lẫn Bắc Hải (bao gồm cả Trường Sa) trong các bộ chính sử của triều Nguyễn, hoặc trong các bộ sách của Lê Quý Đôn, Nguyễn Thông, Phan Huy Chú… là những cứ liệu lịch sử khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước ta trên biển Đông cách đây 3, 4 thế kỷ trước, thì những dấu tích liên quan đến đội Hoàng Sa ở khắp nơi dọc ven biển miền Trung, đặc biệt là trên đảo Lý Sơn và vùng cửa biển Sa Kỳ cùng Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, hoặc tế lính Hoàng Sa còn hiện diện hằng năm trên đất đảo Lý Sơn cũng đã góp phần quan trọng hết sức vào việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ấy.
Đăng Vũ |