Anh Nguyễn Chánh là một cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng, một vị tướng tài của quân đội, đã có cống hiến lớn với cách mạng và kháng chiến. Anh đã đi quá sớm, năm 1957, lúc mới 43 tuổi, tài năng đang độ phát triển.
Lần đầu tôi biết và làm việc với anh vào những ngày đấu tranh hào hùng của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là vào những ngày cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ diễn ra sôi nổi. Cuối thu năm 1946, tôi được Trung ương và Chính phủ cử vào kiểm tra mặt trận phía Nam, tôi đã dừng chân tại Huế, gặp anh Trần Hữu Dực lúc bấy giờ là anh Chủ tịch và anh Chánh là Uỷ viên trưởng Quốc phòng của Uỷ ban kháng chiến Trung Bộ.
Về sau, trong chín năm kháng chiến, anh Chánh đã mấy lần từ liên khu 5 ra họp và làm việc ở Việt Bắc. Năm 1950, anh ra dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, ở lại tham gia Đảng uỷ các chiến dịch Đường 18 và Trung Du vào đầu năm 1951 với cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Anh đã dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (1951) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Lúc này, Trung ương đã có ý định giữ anh Chánh ở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay cho anh Nguyễn Chí Thanh để anh Thanh tập trung chuyên về công tác Đảng, nhưng do nhu cầu của chiến trường nên anh lại trở về Liên khu 5.
Năm 1953, anh lại ra Việt Bắc, lần này để nhận nhiệm vụ quan trọng về chiến cục Đông-Xuân-Hè 1953-1954.
Trong thời gian đầu tiếp xúc và làm việc với anh Chánh, anh đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc, và chúng tôi đã quý mến nhau ngay từ lúc đó.
Sau năm 1954, anh ra làm Tổng Tham mưu phó, rồi Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ, chúng tôi đã thường xuyên làm việc với nhau. Anh và cả chị Trinh, vợ anh, cũng trở nên thân thiết với gia đình tôi và bản thân tôi.
Cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến của anh Nguyễn Chánh trước hết gắn liền với Liên khu 5, tức vùng Nam Trung Bộ, một chiến trường khó khăn về kinh tế, bị địch bao vây bốn bề, ở xã Trung ương, nhưng lại có truyền thống cách mạng lâu đời và vị trí chiến lược rất quan trọng, đặc biệt có chiến trường Tây Nguyên rất quan trọng, khống chế cả khu vực Nam bán đảo Đông Dương và nối liền hành lang huyết mạch với Nam Bộ.
Anh Chánh tham gia Cách mạng rất sớm, từ những năm 1930-1931, là một chiến sĩ cộng sản đấu tranh kiên cường trong nhà tù đế quốc. Năm 1945, sau khởi nghĩa Ba Tơ, được Tỉnh uỷ Quảng Ngãi phân công trực tiếp tham gia lãnh đạo Đội du kích Ba Tơ vừa mới ra đời, anh Chánh đã có chủ trương rất táo bạo, sáng suốt: không để Đội du kích luẩn quẩn trên vùng rừng núi, có chủ trương đưua quân về đồng bằng, dựa vào phong trào quần chúng cách mạng để xây dựng và chiến đấu, đồng thời phát triển dân quân tự vệ và tham gia phát động phong trào cách mạng của quần chúng. Anh đặc biệt quan tâm đến việc củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong Đội du kích. Chính do chủ trương đúng đắn, sắc sảo này mà trong một thời gian rất ngắn Đội du kích Ba Tơ từ mười mấy người đã phát triển thành hai đội mạnh, cùng với hàng vạn dân quân tự vệ và quần chúng cách mạng, tạo nên cao trào mạnh mẽ. Ngày 14 tháng 8 năm 1945 đã tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi, một trong những địa phương dadx sớm vùng lên giành chính quyền trong thời cơ phát-xít Nhật đầu hàng.
Sau đó, Đội du kích Ba Tơ đã thực sự trở thành nòng cốt vững chắc của Giải phóng quân ở Nam Trung Bộ. Đội Du kích Ba Tơ xúng đáng là một trong những tổ chức tiền thân của quân đội nhân dân chúng ta.
Nay nhìn lại, nghiên cứu ký cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và lịch sử Đội du kích Ba Tơ, chúng ta có thể thấy sự lãnh đạo của Đảng ở Quảng Ngãi và của anh Nguyễn Chánh hồi bấy giờ thật vững vàng, sắc sảo: ngay từ đầu đã nắm vững những vấn đề rất cơ bản trong việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, của nhân dân. Những vấn đề về bản chất quân đội nhân dân ta đã được khẳng định và thực hiện đúng đắn ngay từ đầu. Đó là điều hết sức quan trọng và không dễ chút nào, nhất là trong điều kiện cách mạng còn ở trong tình trạng trứng nước, và ở xa sự chỉ đạo của Trung ương hồi bấy giờ.
Do vị trí đặc biệt của Liên khu 5 như đã nói ở trên, nên từ ngày đầu kháng chiến toàn quốc được phát động, đồng chí Phạm Văn đồng đã được cử làm đại diện của miền Trung ương và Chính phủ ở đây, trực tiếp chỉ đạo chiến trường này.
Trong thời kỳ đó, có thể nói ở Liên khu 5, Đảng bộ, đồng bào và chiến sĩ ta đã thực hiện được kỳ tích: giữa vòng vây cảu quân thù, vẫn giữ được vùng tự do gồm gần trọn 4 tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn, không những đứng vững mọ o ép của địch mà còn xây dựng được cả một hệ thống chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hoá, giáo dục phát triển, trong nhiều năm giữ đường giao thông với vùng cực Nam Trung Bộ, với Nam Bộ, thực sự đã trở thành một vùng hậu phương vững chắc cho kháng chiến lâu dài. Trong vùng địch tạm chiếm thì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng và chiến tranh du kích phát triển khá đều khắp; ba thứ quân phát triển nhịp nhàng...
Với cương vị Chính uỷ Bộ Tư lệnh Liên khu 5, anh Nguyễn Chánh đã có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích nói trên.
Từ khoảng năm 1949 trở đi, đồng chí Phạm Văn Đồng, rồi một số đồng chí lãnh đạo khác lần lượt được điều về Trung ương. Trách nhiệm của anh Chánh ngày càng nặng nề hơn, từ năm 1951, đã giữ trọng trách vừa là Bí thư Liên khu uỷ, vừa Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu 5.
Đối với anh, đây là một thử thách lớn. Chính thử thách này cần làm bộc lộ bản lĩnh và tài năng của anh.
Phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu 5 không những tiếp tục được giữ vững, mà từ 1951 trở đi, rõ ràng có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu uỷ, anh tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính uỷ kiêm Tư lệnh, anh tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là một người chỉ huy kiên quyết và có tài năng tổ chức.
Có điều đặc biết đáng nói rõ là ở Liên khu 5 trong thời kỳ này, đi đối với sự phát triển của lực lượng du kích và chiến tranh nhân dân du kích, lãnh đạo Liên khu và anh Nguyễn Chánh với chủ trương và sự chi viện của Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, đã chú trọng đúng mức, kiên định và liên tục xây dựng lực lượng chủ lực, biết sử dụng khéo quả đấm chủ lực để thúc đẩy kháng chiến phát triển, vừa tác chiến, vừa xây dựng, trưởng thành khá vững và nhanh.
Chính đây là một nhân tố trong những nhân tố rất quan trọng kiến Liên khu 5 là một trong những chiến trường giành được thắng lợi rực rỡ nhất trong chiến cục Đông-Xuân-Hè 1953-1954, phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính Điện Biên Phủ.
Lúc này địch đưa một lực lượng khá lớn, mở chiến dịch At-lan-te hòng đánh chiếm vùng tự do đồng bằng Liên khu 5. Quân uỷ và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương ta không bị động đối phó với địch ở vùng tự do mà chủ động đưa lực lượng chủ lực tập trung đánh lên Tây Nguyên, giành lấy địa bàn chiến lược này, đẩy địch vào thế bị động. Đó là cách tốt nhất để giữ vững vùng tự do đồng bằng. Bấy giờ một số đồng chí chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo Liên khu và Bộ Tư lệnh Liên khu còn có chỗ chưa thông, sợ mất vùng tự do, muốn dùng chủ lực giữ đồng bằng. Nhiều đồng chí lãnh đạo ở các tỉnh đồng bằng cũng e ngại, lo lắng; bộ đội và đồng bào thì thắc mắc nhiều. Anh Chánh đã kiên trì thuyết phcụ và đấu tranh với mọi ý kiến trái ngược. Anh đã kiên quyết chấp hành nghiêm chỉnh và tổ chức thực hiện rất tốt chủ trương của Quân uỷ và Bộ tư lệnh.
Kết quả thật rực rỡ: một mảng phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên đã bị phá vỡ, tỉnh Kon Tum và vùng cả vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng. Sau đó, nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến xuống phía Nam, đánh địch trên tuyến đường chiến lược số 19, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động số 100 là một binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút từ Triều Tiên về; bao vây Plây-cu, thọc sâu vào cao nguyên Đăk lăk, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liền với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân và dân địa phương đánh mạnh quân địch ở Phú Yên và uy hiếp cả Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong Liên khu, thừa thắng quân dân ta đã tiêu diệt, bức hàng hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân. Phía Nam và Đông-Bắc Campuchia, ta phối hợp với quân dân bạn giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch At-lan-te của địch đã bị đánh bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững và mở rộng. Thế trận ở Tây Nguyên cũng như trên toàn Liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vọng giành thắng lợi to lớn hơn nữa.
Tướng chỉ huy quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Tây Nguyên và là Tư lệnh chiến dịch At-lan-te (đợt 1,2) là De Beaufort đã hết sức thán phục, và sau khi chiến tranh kết thúc đã tỏ ý muốn gặp “vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường...”. Tôi đã cho tổ chức và đã dự cuộc gặp gỡ lý thú ấy khi anh Nguyễn Chánh và cả tướng De Beaufort có mặt tại Hà Nội.
Sự phát triển tài năng của anh Nguyễn Chánh có thể nói là một trường hợp khá đặc biệt. Anh chưa từng được qua trường lớp nào, ngay việc được học văn hoá từ nhỏ cũng rất hạn chế. Nhưng đó là một con người thông minh, có ý chí tiến thủ mạnh, khiêm tốn và ham học. Những bài học cơ bản về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính là anh đã học từ nhà lao Buôn Ma Thuột, khi các đồng chí của ta ở đây đã thực hiện “biến nhà tù của đế quốc thành trường học cách mạng” và sau đó trong thực tiễn đấu tranh, anh đã vận dụng hết sức thành công.
Anh Chánh là một con người có đức tính đoàn kết, tập hợp được cán bộ và chiến sĩ, quân và dân. Trước hết, vì anh luôn toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp lớn của cách mạng, chí công vô tư, có tâm hồn trong sáng và cuộc sống thanh bạch. Hơn nữa, Tuy không được học hành nhiều ở trường lớp nào, nhưng từ nhỏ đã tiếp thu truyền thống quê hương gia đình, về sau đã nhanh chóng thấm nhuần đường lối của Đảng. Anh là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một chỉ huy nghiêm khắc, quyết đoán nhưng cũng lại là một con người cởi mở, nhân hậu, giản dị, biết linh hoạt trong ứng xử, ăn ở thuỷ chung với đồng chí, đồng bào. Anh được cán bộ, chiến sĩ, được nhân dân Liên khu 5 hồi bấy giờ hết sức quý mến và khâm phục.
Sau năm 1954, anh chỉ mới ra làm việc ở Trung ương được mấy năm nhưng đã gây được lòng yêu mến và kính trọng của các cơ quan, đơn vị. Khi được cử làm Chủ tịch Tổng cục Cán bộ thì mọi người đều vui mừng, tin tưởng.
Anh Chánh mất sớm là một tổn thất lớn của Đảng và của quân đội ta; tôi nhất đi một người bạn chí thiết.
Cuộc đời một con người mới 43 tuổi đã để lại sự nghiệp như vậy có thể nói là một cuộc đờì thật đẹp: cuộc đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có đức, có tài, một con người mẫu mực./.
(Lược trích Bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
|