Với giới trí thức, văn nghệ sĩ, bao giờ và ở đâu, đồng chí Phạm Văn Đồng - anh Tô-cũng dành những tình cảm và sự quan tâm đặc biệt dường như với những người từng quen biết, anh Tô không quên, không bỏ sót một ai. Tôi đã từng nghe nhiều trí thức, văn nghệ sĩ đã được anh Tô luôn quan tâm giải quyết những vấn đề cụ thể như thế nào, đặc biệt ở những trường hợp gặp những vấn đề phức tạp, gay cấn mà lý do này, lý do khác, có thể do hạn chế có tính lịch sử còn có những quan điểm, cái nhìn khác nhau chưa thể làm rõ ngay được.
Trường hợp với Giáo sư triết học Trần Đức Thảo là một ví dụ. Ông là một nhà triết học uyên bác, được đánh gía rất cao ở nước ngoài nhưng có thời gian bị coi là mắc sai lầm, không được tin dùng như trước, cụ thể không được tham gia giảng dạy ở các trường Đại học nữa. Vấn đề đánh giá ông rất phức tạp, không có khả năng làm rõ trong một sớm, một chiều. Nhiều người thiếu hiểu biết hoặc cực đoan xa lánh ông, ngại tiếp xúc với ông vì “sợ liên quan”. Trong hoàn cảnh như thế, nhất là thời điểm ấy, thật đáng sợ. Giáo sư Trần Đức Thảo sống một mình trong căn hộ tập thể được phân phối theo tiêu chuẩn ở Khu tập thể Kim Liên. Thông thường, khi một người bị “thất sủng” như thế, mọi tiêu chuẩn cung cấp, kể cả thiếu thực phẩm, nhà ở đều phải xem xét lại, cắt giảm. Rất may, điều này đã không xảy ra với giáo sư Trần Đức Thảo. Mọi tiêu chuẩn cung cấp cho Giáo sư vẫn được giữ nguyên. Nghe nói, có được điều này là do có ý kiến trực tiếp, gần như bảo lãnh của Thủ tướng. Hơn thế nữa, khi Giáo sư ốm đau hoặc vào dịp lễ, tết, Thủ tướng đều có sự quan tâm, có quà nhỏ để động viên. Là một trí thức chân chính, mặc dù phải tự lo lấy cuộc sống hàng ngày của mình, giáo sư Thảo vẫn kiên trì, âm thầm làm việc trong căn phòng nhỏ của mình, đọc, viết sách, dịch thuật với một năng suất đáng kinh nể. Ông được phép tham gia hiệu đính một số đầu sách triết học, kinh điển và tài liệu nghiên cứu triết học, xã hội với điều kiện chỉ được nhận thù lao mà không đứng tên. Bạn bè của ông ở nước ngoài, những nhà triết học, nhà văn hoá có uy tín vẫn liên lạc được với ông, gửi cho ông những cuốn sách, những tài liệu nghiên cứu cần thiết mà ông yêu cầu. Ông đã hoàn thành bản thảo mấy cuốn sách bàn về triết học Mác – xít trong thời đại hiện nay trong hoàn cảnh như thế, được một Đảng Cộng sản nước ngoài xuất bản và đánh giá rất cao, coi như một đóng góp mới cho kho tàng lý luận Mác – xít. Ai cũng có thể hiểu rằng: nếu không có sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của Anh Tô thì giáo sư Thảo sẽ còn gặp khó khăn hơn nhiều để tiếp tục sống và làm việc như thế. Càng về sau này người ta càng hiểu được Giáo sư hơn. Ông được đưa sang Pháp chữa bệnh và mất tại Paris năm 1993. Những năm gần đây, nhiều công trình của ông đã được xuất bản ở trong nước và nước ngoài được đánh giá lại. Đặc biệt là công trình “Khảo cứu về nguồn gốc ngôn ngữ của ý thức” (xuất bản 1973) của ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000.
Với nhà văn lớn Nguyễn Tuân, anh Tô cũng có sự quan tâm đặc biệt. Biết nhà văn thích uống rượu, tuy không bao giờ uống nhiều nhưng rất đều đặn, có chừng mực, lại rất kén rượu, phải là thứ rượu ngon ông mới uống, hầu như Tết nào Thủ tướng cũng gửi biếu bác Tuân một chai rượu ngoại, thường là quà Tết Thủ thướng được khách nước ngoài tặng. Rượu này bác Nguyễn cũng không uống riêng mà thường dành cùng thưởng thức khi có khách quý đến nhà. Còn với nhà văn Nguyễn Thành Long cùng quê hương Quảng Ngãi với Thủ tướng, Thủ tướng rất quý mến như người trong gia đình. Nguyễn Thành Long có tác phẩm từ những ngày đầu kháng chiến ở chiến trường khu V, khi tập kết ra Bắc, anh vẫn viết đều, là một trong những nhà văn viết truyện ngắn hay nhất của chúng ta trong những năm ấy. Nhưng rồi có thời gian Nguyễn Thành Long rất ít viết vì nghe nói anh có dao động về tư tưởng sao đó. Anh vẫn làm việc bình thường ở Tạp chí Văn nghệ của Hội Nhà văn nhưng chỉ làm công tác biên tập, không giữ chức vụ gì. Là người rất thận trọng, ít nói, nay anh càng ít nói hơn. Vì anh là một nhà văn cộng tác viên rất gần gũi, thân thiết của Nhà xuất bản Lao động chúng tôi cả trong việc viết sách và tham gia biên tập, đọc bản thảo, nhà anh lại ở ngay đầu đường Dã Tượng, cách Nhà xuất bản chỉ hơn một trăm mét nên tôi có điều kiện được gặp anh nhiều. Tôi để ý mỗi lần nhắc đến “Anh Tô”, đôi mắt anh thường sáng lên lạ lùng và anh trở nên vui vẻ hơn. Là một sinh viên mới ra trường về làm công tác biên tập chưa được bao lâu, tuy đã có một vài cuốn sách được in nhưng tôi luôn thấy mình thật non nớt, nhỏ bé trước một bậc đàn anh lớn trong nghề, một nhà biên tập đáng kính nể như nhà văn Nguyễn Thành Long. Trái lại, nói chuyện với tôi, anh luôn tỏ ra rất khiêm tốn, tôn trọng, khen ngợi và chỉ ra cho tôi những chỗ còn có thể nâng cao hơn. Thì ra, anh đã đọc tất cả những gì tôi đã viết, kể cả sách và những bài thơ, văn đăng trên báo. Khi tôi tỏ ra ngạc nhiên, cảm động thì anh nói điều ấy anh học được ở Anh Tô. Anh cho biết bất kỳ cuốn sách nào anh gửi tặng Anh Tô, anh đều nhận được thư trả lời trong một thời gian ngắn do chính tay Anh Tô viết với những lời cảm ơn, hoan nghênh và góp ý rất chân tình. Anh cho biết đây quả là một nguồn động viên rất lớn, tiếp sức cho anh sống và viết, đặc biệt là vào những lúc tư tưởng không ổn định. Anh còn cho tôi biết thêm: không chỉ có riêng anh mà bất cứ ai tặng sách cho Anh Tô, Anh đều có thư trả lời như thế. Nếu chưa đọc được sách, Anh Tô cũng gửi lời cảm ơn, báo tin đã nhận được sách. Một việc làm tưởng chừng rất nhỏ, bình thường nhưng đã mấy ai ở cương vị như Thủ tướng có được cách ứng xử rất văn hoá, đầy tình nghĩa và chu đáo đến thế. Sau này tôi có dịp hỏi thêm nhiều người, được biết điều nhà văn Nguyễn Thành Long kể là hoàn toàn chính xác. Nhà thơ Hải Như đã đưa cho tôi xem lá thư của Anh Tô gửi lại cho nhà thơ sau khi nhà thơ gửi tặng Anh Tô bài thơ “Chúng cháu canh cho Bác ngủ, Bác Hồ ơi!” viết trong những ngày lễ tang Bác. Đây là một trong những bài thơ gây xúc động lớn nhất cho đông đảo người đọc lúc ấy. Kèm theo bài thơ, nhà thơ Hải Như có tâm sự với Anh Tô là có nguyện vọng dành tất cả những năm tháng còn lại của đời mình để viết về Bác Hồ. Trong thư trả lời, Anh Tô nói anh rất xúc động khi đọc bài thơ và hoan nghênh, khích lệ nhà thơ về nguyện vọng lớn lao của nhà thơ, hy vọng và chúc nhà thơ sẽ đạt được nguyện vọng của mình. Cho đến nay, nhà thơ Hải Như vẫn trân trọng lưu giữ lá thư này như một báu vật trong đời làm thơ của mình.
Không chỉ những ai tặng sách mà dường như với bất kỳ cá nhân, tập thể nào có yêu cầu gì Thủ tướng, khi nhận được, Thủ tướng đều có sự trả lời chu đáo, chân tình. Trong sổ tay ghi chép của tôi còn ghi lại được nguyên vẹn một lá thư của Thủ tướng gửi Bác sĩ Đỗ Doãn Đại, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, năm 1973, ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết không lâu. Đó là lá thư của Thủ tướng báo đã nhận được lời mời của Bệnh viện mời Thủ tướng dự Hội nghị Khoa học của Bệnh viện nhưng Thủ tướng không về dự được.
Sau đây là nguyên văn bức thư viết tay với nét chữ rất đẹp, rõ ràng của Thủ tướng viết bằng bút bi đỏ:
“Đồng chí Đại thân mến.
Tôi đã đọc bức thư của đồng chí-kèm hai cuốn sách về các đề tài...mời tôi đến dự Hội nghị Tổng kết nghiên cứu khoa học 1971-1972 tại Bệnh viện Bạch Mai. Tôi đã xem qua hai tài liệu tóm tắt nội dung các công trình nghiên cứu, nhưng tôi không hiểu gì, điều đó không có gì lạ, vì vậy tôi có đến cũng không thể giúp gì cho Hội nghị. Vì vậy, các anh miễn cho tôi.
Tuy nhiên, tôi thấy cũng cần góp với các anh một vài gợi ý:
1- Xuất phát từ con người Việt Nam, sống trong môi trường Việt Nam từ bao đời, và từ đó có thể vững chắc để tồn tại và khoẻ mạnh lên.
2- Xuất phát từ hoàn cảnh chúng ta hiện nay đang rất nghèo vì thiếu thốn nhiều, và như vậy, ta chỉ có sức làm những việc quan trọng và cấp bách.
Xuất phát từ 2 chỗ đó để nhắm cho trúng đích mà bắn, chọn cho đúng đề tài nghiên cứu, để giải quyết thiết thực những gì có lợi nhất cho nhân dân, cho người bệnh, cho đời sống, cho sản xuất, cho công việc.
Tóm lại, phải tập trung lực lượng làm cho những gì đích đáng nhất.
Thân ái
18-5-1973
Ký tên: PHẠM VĂN ĐỒNG
Tôi được Bác sĩ Giám đốc Bệnh viện Đỗ Doãn Đại đưa cho đọc lá thư này khi tôi xuống tìm hiểu tình hình khôi phục lại Bệnh viện sau trận máy bay B52 Mỹ ném bom tàn phá Bệnh viện vào đêm 24-12-1972 trong khi đó Bệnh viện vẫn khẩn trương chuẩn bị tốt nhất cho Hội nghị khoa học hàng năm của ngành y nhưng những gợi ý của Thủ tướng là rất cơ bản, sâu sắc có tính chiến lược. Chính những gợi ý này đã giúp rất nhiều không chỉ trong Hội nghị khoa học của Bệnh viện năm ấy mà còn là định hướng lâu dài cho công tác nghiên cứu khoa học Y, Dược cả những năm sau.
Tôi được nghe Thủ tướng nói chuyện rất nhiều lần, dường như lần nào cũng để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc và những suy nghĩ bổ ích, đặc biệt là những lần Thủ tướng nói chuyện với văn nghệ sĩ và cán bộ công đoàn.
Sáng ngày 16-02-1973 (ngày mồng 4 Tết Đinh Sửu), Thủ tướng có cuộc gặp gỡ, nói chuyện với văn nghệ sĩ tại Câu lạc bộ Ba Đình, Hà Nội. Không khí buổi gặp mặt đầu Xuân này đặc biệt phấn khởi vì sau cuộc tấn công chiến lược bằng máy bay B52 ném bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác, Mỹ đã chịu thất bại thảm hại và cách đó 10 ngày (ngày 27 tháng 11 năm 1973) Mỹ đã buộc phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam tại Paris. Chúng tôi cũng được biết chỉ mấy ngày nữa H.Kitxinhgiơ, phụ tá của Tổng thống Mỹ Nichxơn sẽ phải đến Hà Nội để thảo luận với Chính phủ ta về những vấn đề quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau chiến tranh cùng những việc cần làm. Đây là thắng lợi cực kỳ to lớn của chúng ta làm nức lòng quân dân cả nước và bè bạn nước ngoài.
Nội dung bài nói chuyện rất phong phú, bổ ích nhưng luôn làm bật lên những tiếng cười, tiếng vỗ tay vang dội. Thủ tướng rất trăn trở là cho đến nay, tuy thành tựu văn học nghệ thuật rất đáng mừng nhưng chúng ta vẫn chưa có được những tác phẩm lớn về hai cuộc kháng chiến và sự nghiệp xây dựng đất nước xứng đáng với lòng mong đợi của nhân dân và bạn bè quốc tế. Đã đến lúc cần quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. Có thể là tác phẩm văn học, có thể là các loại hình nghệ thuật khác, điện ảnh chẳng hạn. Cần làm việc này càng sớm càng tốt vì hiện nay vấn đề còn đang nóng hổi, để lâu, có thể có thêm điều kiện nhưng e lại khó làm hơn. Đất nước ta còn rất nghèo. Sau chiến tranh có bao nhiêu việc phải làm, sẽ phải đưa đời sống vật chất của người dân lên cao hơn nhưng cần quan tâm trước hết là phải giữ vững và phát huy cao hơn nữa phẩm chất, tâm hồn Việt Nam, một cái vốn rất quý của dân tộc ta đã được đông đảo bạn bè trên thế giới tin yêu, cảm phục.
Thủ tướng cũng không quên nhắc các nhà văn đừng ngại khi nói đến những yếu kém, tiêu cực trong cuộc sống. Thủ tướng cho rằng: trong việc lên án những cái xấu, không cho phép nó tồn tại thì văn nghệ sĩ là người có những phương tiện sắc bén, dễ đi vào lòng người hơn ai hết. Tất nhiên có một số ít người sẽ không tán thành, nhưng chúng tôi luôn chủ trương cần phải lên án cái xấu. Nhưng đả kích theo quan điểm nào, để làm gì, có tác dụng như thế nào? Vấn đề nằm ở chỗ này. Tất nhiên chúng ta không cầu toàn nhưng tất cả văn nghệ sĩ khi viết giống như người thấy cây phải thấy rừng, thấy rừng phải thấy cây. Cần có cái nhìn toàn bộ, toàn cục, nhìn thấy mặt chủ yếu nhưng đồng thời phải nhìn thấy từng bộ phận, thấy cái hay, cái đẹp và cả cái không đúng, cái xấu.
Nói về nghề văn, Thủ tướng nhận mình là người “ngoại đạo”nhưng những mong mỏi, dặn dò như lời tâm sự của Thủ tướng lại rất sâu sắc, chân tình, có lẽ người trong nghề với nhau cũng ít ai dám nói ra như vậy. Thủ tướng nói: Lao động nghệ thuật là lĩnh vực dẫu có cho biết bao nhiêu cũng không đủ. Cần có bản lĩnh và luôn rèn luyện bản lĩnh cho mình. Tác phẩm nghệ thuật không phải đòi hỏi năm mươi phần trăm nội dung, năm mươi phần trăm nghệ thuật mà tất cả đều phải đòi hỏi chất lượng một trăm. Không chỉ nói tác phẩm tốt mà chí có nội dung còn chất lượng nghệ thuật kém được. Vì vậy làm nghệ thuật là rất cực. Làm nghề này phải luôn cố gắng hết sức mới mong có thành công. Thủ tướng cười, hạ giọng như một lời tâm sự: “Nhưng tôi phải nói thêm điều này: Làm văn học nghệ thuật phải có tài, có năng khiếu. Nếu ai đó thấy mình đã cố gắng hết sức rồi mà vẫn không thành công thì phải nghĩ là mình đã chọn lầm nghề, nên chuyển sang nghề khác. Làm văn học nghệ thuật mà không có năng khiếu thì cực nhọc lắm”. Thủ tướng nhắc nhở: “Nhà văn làm được việc gì cũng tốt, nhưng đừng việc gì cũng làm, riêng việc viết văn lại không làm!”
Không khí buổi nói chuyện của Thủ tướng diễn ra rất vui, thoải mái. Giữa buổi nói chuyện, Thủ tướng yêu cầu ai có điều gì cần trao đổi thì cứ tự do phát biểu. Nhà thơ Tú Mỡ ngồi ở hàng đầu, đứng lên thưa với Thủ tướng là thời gian qua ông có nhiều bài thơ đã kích đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Nay tình hình đã thay đổi, đối tượng đã kích của ông đã thay hình đổi dạng nên ông rất lúng túng chưa biết bắn mũi tên đả kích của mình của mình vào đâu. Thủ tướng cười, nói bác Tú cứ việc tiếp tục đả kích những cái xấu trong tình hình mới, kể cả của Mỹ. Nhưng nếu họ kiện đến chúng tôi, chúng tôi sẽ nói đây là quyền tự do của nhà thơ, chúng tôi cấm họ sao được!
Nhà văn miền Nam Phạm Tường Thạnh đứng lên hỏi về chuyến sang Hà Nội sắp tới của Kitxinhgiơ, thái độ của ta sẽ như thế nào. Thủ tướng nói: “Điều này không có gì bất ngờ, ta chủ động chứ không hề bị động. Chúng ta kiên quyết đánh Mỹ nhưng vẫn tiếp tục nói chuyện với Mỹ, vẫn phát triển những mối quan hệ có thể làm được, có lợi cho ta. Trước đây đã mấy lần Kitxinhgiơ xin sang Hà Nội nhưng hai bên chưa thống nhất được. Nay, sau trận “Điện Biên Phủ trên không”, Hiệp định Paris được ký kết, Kitxinhgiơ sang Hà Nội bàn bạc cụ thể thêm là cần thiết cho cả hai bên.
Dường như lúc nào và ở đâu, Thủ tướng cũng luôn có tác phong nhanh nhẹn, chủ động, gần gũi, có sức động viên mạnh mẽ với mọi người. Là những người viết văn và công tác văn học, không ai có thể quên và có ấn tượng sâu sắc với bài nói của Thủ tướng tại Hội nghị Bàn về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt diễn ra tại Hà Nội đầu tháng 2 năm 1966, khi Mỹ đang mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta với lời đe doạ: Sẽ đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Trong hoàn cảnh như vậy, chỉ riêng việc tổ chức Hội nghị và người đứng đầu Chính phủ đến tham dự, bàn những công việc cụ thể, cần làm để bảo vệ và nâng cao những phần cao đẹp của tiếng Việt đã nói lên rất nhiều về tư thế ung dung, chủ động, bản lĩnh và sức mạnh Việt Nam trước mọi đe doạ của kẻ thù cùng sự phát triển, không ngừng đi lên về mọi mặt của đất nước.
N.G.N |