Trang chủ  Trang chính  Kinh tế - xã hội

 Báo cáo năm 2001 - 2005 
 Báo cáo năm 2006 
 Báo cáo năm 2007 
 Báo cáo năm 2008 
 Báo cáo năm 2009 

         ỦY BAN NHÂN DÂN                                      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
         TỈNH QUẢNG NGÃI                                                Độc lập - Tự do - Hạnh phúc  
 
          Số 06/BC-UBND                                                  Quảng Ngãi, ngày 22 tháng 01 năm 2008
 
 

 

BÁO CÁO TÓM TẮT

Tình hình thực hiện kế hoạch

kinh tế - xã hội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008

________________

 

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007

 

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Năm 2007, năm thứ hai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển thuận lợi, đạt nhiều kết quả tích cực.

Một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2007 đạt được như sau:

 

Chỉ tiêu

 

NQ HĐND/KH

Năm 2007

Ước

TH 2007

(1) Tổng sản phẩm nội tỉnh tăng (%)

13 - 14

14,0

(2) Tổng giá trị sản xuất tăng (%)

 

 

    - GTSX ngành Nông- Lâm- T.sản tăng (%)

4,5 - 5,0

4,2

    - GTSX ngành C.Nghiệp- X.Dựng tăng (%)

26 - 27

28,2

    - GTSX ngành dịch vụ tăng (%)

11 - 12

12,8

(3) Cơ cấu kinh tế:

 

 

    - Nông- lâm-thủy sản (%)

29 - 30

29,9

    - Công nghiệp- xây dựng (%)

36 - 37

36,0

    - Dịch vụ (%)

33 - 34

34,1

(4) Sản lượng lương thực có hạt (Tấn)

429.500

434.603

(5) Sản lượng thủy sản khai thác & nuôi trồng (Tấn)

93.820

94.400

(6) Kim ngạch xuất khẩu (Triệu USD)

55

57,19

(7) Tổng thu NS Nhà nước trên địa bàn (Tỷ đồng)

1.162

1.484

(8) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%)

1,01

1,01

(9) Tạo việc làm mới & tăng thêm việc làm (L.động)

33.000

33.000

(10) Tỷ lệ hộ đói, nghèo (Theo chuẩn mới) (%)

25,44

25,22

(11) Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi (%)

26

26

(12) Tỷ lệ xã, phường, TT đạt tiêu chuẩn PCGD

 

 

       tiểu học đúng độ tuổi (%)

93,9

87,8

(13) Tỷ lệ xã, phường,TT đạt chuẩn PC THCS (%)

95

84,4

(14) Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước sạch (%)

49

49

(15) Tỷ lệ hộ sử dụng điện (%)

96

96,5

 

 

 

Một số kết quả cụ thể như sau:

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) ước đạt 14% (NQ HĐND: 13%-14%), là mức tăng trưởng cao nhất kể từ nhiều năm gần đây. Trong đó, khu vực nông- lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,2%; khu vực công nghiệp- xây dựng tăng 26,8%; khu vực dịch vụ tăng 12,3% so với năm 2006.

 

           2. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng (từ 32,9% năm 2006 lên 36%), giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm ngiệp và thủy sản (từ 31,9% năm 2006 xuống còn 29,9%), đảm bảo cơ cấu kinh tế theo Nghị quyết của HĐND đã đề ra.

 

3. Sản xuất công nghiệp – xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng ước đạt 5.504,86 tỷ đồng, tăng 28,2% so với năm 2006 (NQ HĐND: 26%-27%), bằng 101,14% kế hoạch.

Giá trị sản xuất ngành xây dựng ước đạt 3.044 tỷ đồng, tăng 38,4% so với năm 2006, bằng 101,77% kế hoạch.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước đạt 2.461 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 17,47% so với năm 2006, bằng 100,37% kế hoạch. Sản lượng phần lớn các sản phẩm đều tăng so với năm 2006.

 

            4. Sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp, tài nguyên - môi trường

Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 2.501,54 tỷ  đồng, tăng 4,2% so với năm 2006, thấp hơn chỉ tiêu NQ HĐND (4,5%-5%,), bằng 99,33% kế hoạch.

 

Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định. Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.631,72 tỷ đồng, tăng 3,83% so với năm 2006, bằng 100,41% kế hoạch. Sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 434,6 ngàn tấn, tăng 1,7% (7,45 ngàn tấn) so với năm 2006 và bằng 101,19% kế hoạch. Sản lượng mía cây ước đạt 387,22 ngàn tấn, tăng 8,7% so với năm 2006, bằng 91,54% kế hoạch. Công tác phòng, chống bệnh lở mồm long móng ở gia súc và dịch cúm gia cầm được thực hiện thường xuyên. Dịch cúm gia cầm và bệnh lở mồm long móng ở gia súc được khống chế. Bệnh tai xanh ở lợn đã được dập tắt.

 

Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 743,14 tỷ đồng, tăng 4,04% so với năm 2006, bằng 97,52% kế hoạch. Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 94.400 tấn, tăng 1,2% so năm 2006 và bằng 100,62% kế hoạch; trong đó, sản lượng thuỷ sản khai thác ước đạt 88.650 tấn, tăng 0,5% so với năm 2006; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 5.750 tấn, tăng 13,6% so với năm 2006; sản lượng thủy sản chế biến ước đạt 5.015 tấn, tăng  22,32% so với năm 2006, bằng 100,3% kế hoạch.

 

Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 126,68 tỷ đồng, tăng 9,62% so với năm 2006, bằng 96,7% kế hoạch. Trong năm đã trồng 5.208,77 ha rừng tập trung, bằng 81,9% kế hoạch; quản lý bảo vệ 98.138,9 ha rừng, bằng 91,33% kế hoạch; khoanh nuôi tái sinh rừng 2.300 ha, bằng 56,1% kế hoạch; chăm sóc rừng 11.170 ha, bằng 97,08% kế hoạch. Tỷ lệ độ che phủ rừng ước đạt 37%, hoàn thành 100% kế hoạch.

 

Tài nguyên và Môi trường: Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ước cuối năm 2007 hoàn thành 14/14 huyện, thành phố (đạt 100% chỉ tiêu của Nghị quyết của HĐND tỉnh); đã thực hiện lập đề cương, dự toán, điều tra quy hoạch, tổng hợp số liệu, báo cáo tổng hợp tại 110 xã/ 180 xã, đạt 61,1% tổng số xã toàn tỉnh (chỉ tiêu của Nghị quyết HĐND tỉnh là 50 - 60%). Công tác đo đạc đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đạt kết quả khả quan với tổng khối lượng đạt được là 90.752 ha, bằng 284% kế hoạch năm; ước cấp được 40.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bằng 102,6% kế hoạch năm.

 

5. Thương mại - dịch vụ

Giá trị sản xuất dịch vụ ước đạt 2.411 tỷ đồng, tăng 12,82% so với năm 2006 (NQ HĐND:11%-12%), bằng 103,48% kế hoạch.

 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 8.287 tỷ đồng, tăng 26,9% so với năm 2006, bằng 104,89% kế hoạch ; trong đó, thành phần kinh tế nhà nước đạt 694 tỷ đồng, tăng 16,3% và chiếm 8,37% thị phần; kinh tế tư nhân đạt 1.517,7 tỷ đồng, tăng 68,9%, chiếm 18,32% thị phần; kinh tế cá thể đạt 6.068,5 tỷ đồng, tăng 20,7%, chiếm 73,23% thị phần.

 

Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 57,185 triệu USD, tăng 23,4% so với năm 2006, bằng 103,97% kế hoạch. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là tinh bột mỳ 22,316 triệu USD (tăng 17,3%); hàng thuỷ sản 6,085 triệu USD (tăng 54,7%); sản phẩm bằng gỗ 11,484 triệu USD (tăng 82,5%); hàng dệt may 6,126 triệu USD (giảm11%). Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 20,015 triệu USD, tăng 40% so với năm 2006 và bằng 80,06% kế hoạch.

 

Hoạt động vận tải tiếp tục duy trì tăng trưởng khá nhờ một số phương tiện vận tải được trang bị mới. Trong năm ước vận chuyển được 1,354 triệu lượt khách với mức luân chuyển 354,583 triệu lượt khách-km, tăng tương ứng 20% và 18,1% so với năm 2006, tương ứng bằng 117,74% và 112,57% so với kế hoạch năm; vận tải hàng hóa ước đạt 2,326 triệu tấn với mức luân chuyển 428,883 triệu tấn-km, tăng tương ứng 11,3% và 16,7% so với năm 2006, tương ứng bằng 110,76% và 114,67 % so với kế hoạch năm.

 

Hoạt động du lịch có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 120 tỷ đồng, tăng 94% so với năm 2006, bằng 100% kế hoạch; tổng lượt khách ước đạt 220.000 lượt người, tăng 13,5% so năm 2006, bằng 124,75% kế hoạch.

 

Ngành Bưu chính Viễn thông có bước phát triển mạnh. Trong năm 2007 đã phát triển mới gần 240.000 thuê bao (cả cố định và di động). Tính đến nay, thuê bao điện thoại trên địa bàn tỉnh có khoảng 515.000 thuê bao,  tăng 124% so với năm 2006 và bằng 185% kế hoạch; số điện thoại/100 dân là 37 máy (năm 2006 là 17 máy/100 dân); số người sử dụng Internet/100 dân là 7 người, tăng 143,33 % so với năm 2006; số cổng Internet ADSL là 6500 cổng, tăng 57,16 % so với năm 2006 và bằng 130% kế hoạch.

 

6. Tài chính, tiền tệ và giá cả thị trường

Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 1.484 tỷ đồng, bằng 127,7% dự toán năm 2007. Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 2.371,87 tỷ đồng, bằng 112,2% dự toán năm 2007.

 

Tổng nguồn vốn huy động đến cuối năm 2007 của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 4.500 tỷ đồng, tăng 66,35% (1.795 tỷ đồng) so với cuối năm 2006. Tổng dư nợ cho vay đến cuối năm 2007 ước đạt 7.700 tỷ đồng, tăng 4.265 tỷ đồng so với cuối năm 2006. Tổng thu tiền mặt trên địa bàn ước đạt 22.000 tỷ đồng, tăng 1,4 lần so với cùng kỳ năm 2006; tổng chi tiền mặt ước đạt 21.500 tỷ đồng, tăng 1,3 lần so với cùng kỳ năm 2006. 

 

             7. Đầu tư phát triển, đăng ký kinh doanh và tình hình thu hút đầu tư vào các Khu Công nghiệp và Khu Kinh tế Dung Quất 

                       

             Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong năm ước đạt 21.610 tỷ đồng, tăng 127,79% so với năm 2006 và bằng 127,32% kế hoạch. Trong đó, vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý ước đạt 5.232 tỷ đồng, bằng 125,44% kế hoạch; vốn đầu tư phát triển do Trung ương quản lý ước đạt 16.378 tỷ đồng, bằng 127,93% kế hoạch.

 

Đã hoàn thành đưa vào sử dụng 49 công trình gồm 17 công trình giao thông, 4 công trình thủy lợi, 9 công trình quản lý nhà nước, 16 công trình thuộc lĩnh văn hóa, giáo dục, công cộng… từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, chưa đạt các mục tiêu đề ra, nhất là các dự án thuộc nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ. Đến 15/11/2007, giải ngân đạt 53% kế hoạch (852/1.600,71 tỷ đồng); ước đến cuối năm giải ngân đạt 1.338 tỷ đồng, bằng 84% kế hoạch; trong đó, nguồn vốn do tỉnh cân đối đầu năm ước đạt 96% (nguồn ngân sách tập trung đạt 100% kế hoạch), vốn ODA ước đạt 100%, vốn Trái phiếu Chính phủ ước đạt 55%, vốn đầu tư tại Khu kinh tế Dung Quất ước đạt 100% kế hoạch.

 

Trong năm 2007, có khoảng 413 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng vốn đăng ký 6.901,4 tỷ đồng; trong đó, có 135 doanh nghiệp tư nhân, 155 công ty TNHH 2 thành viên trở lên, 75 công ty TNHH 1 thành viên và 48 công ty cổ phần.

 

Đã có 04 dự án có vốn FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 8,3 triệu USD. Toàn tỉnh hiện có 13 dự án có vốn FDI, trong đó có 05 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động: Công ty liên doanh đá Quảng Ngãi, Công ty Apex, Công ty TNHH dịch vụ công trình Việt Hưng, Công ty TNHH Aden Service và Công ty TNHH Hanul Vina với doanh thu khoảng 3,7 triệu USD.

 

Có 225 đoàn với 1247 lượt khách quốc tế đến thăm, làm việc với lãnh đạo tỉnh và các sở, ngành để khảo sát thị trường, tìm kiếm cơ hội hợp tác, đầu tư kinh doanh, tăng 25 đoàn và 537 lượt người so với năm 2006.

 

Cơ bản hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước năm 2007. Đã cổ phần hóa xong Công ty TNXP xây dựng nông thôn và miền núi, Công ty quản lý bến và dịch vụ vận tải Quảng Ngãi; chuyển thành Công ty TNHH 1 thành viên đối với Công ty xổ số kiến thiết Quảng Ngãi, Công ty khai thác công trình thủy lợi Quảng Ngãi; giải thể xong Công ty thương mại Quảng Ngãi, Công ty vận tải biển Quảng Ngãi, Công ty In-Phát hành sách và Thiết bị Quảng Ngãi; hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới nông lâm trường theo Quyết định 63/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Giá trị sản xuất công nghiệp tại hai khu công nghiệp Quảng Phú và Tịnh Phong ước đạt 1.100 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 20,9 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 16,1 triệu USD; nộp ngân sách nhà nước 156 tỷ đồng. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh đã hoàn thành thủ tục cấp phép cho 06 dự án đầu tư vào KCN Tịnh Phong và 01 dự án đầu tư vào KCN Quảng Phú với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 1.355 tỷ đồng; tổ chức Lễ công bố Quy hoạch chi tiết Khu công nghiệp Phổ Phong và đang xúc tiến công tác kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Phổ Phong.

 

Ban quản lý KKT Dung Quất cấp phép cho khoảng 30 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 3.000 tỷ đồng. Tính đến nay, có 80 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 83.694 tỷ đồng (tương đương 5,23 tỷ USD) và 46 dự án được chấp nhận đầu tư với tổng vốn là 55.412 tỷ đồng (tương đương 3,46 tỷ USD). Trong đó, có 34 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, 30 dự án đang bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai xây dựng; giải quyết việc làm mới cho khoảng 4.000 lao động; hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng đạt 600.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu khoảng 30 triệu USD; thu ngân sách ước đạt 550 tỷ đồng, đạt 117% kế hoạch; giá trị sản lượng công nghiệp ước đạt 600 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch năm.

 

II. LĨNH VỰC XÃ HỘI

1. Giáo dục và Đào tạo

Tập trung đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2006 - 2007 (lần 1 và lần 2) được tổ chức an toàn, nghiêm túc; kết quả phản ánh đúng thực chất trình độ của các em học sinh với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 75,89% (12.001/15.814 thí sinh), giảm 22% so với năm trước. Hệ Bổ túc Trung học phổ thông, có 933 thí sinh đăng ký dự thi nhưng chỉ có 235 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 25,19%, thấp hơn năm học trước 71,45%. 

 

Năm 2006 - 2007, tỉnh Quảng Ngãi có 23.000 lượt thí sinh tham gia thi tuyển vào các trường cao đẳng, đại học trong cả nước, kết quả có 5.800 lượt thí sinh trúng tuyển (nguyện vọng 1), đạt tỷ lệ 25% (năm 2005-2006: 17%); có 2.209 thí sinh tham gia thi tuyển vào các trường trung học chuyên nghiệp, kết quả có 1.721 thí sinh trúng tuyển, đạt tỷ lệ 78% (năm học 2005-2006: 78%).

 

Hiện có 14/14 huyện, thành phố với 180 xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, đạt tỷ lệ 100%; 10/14 huyện, thành phố với 158/180 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đạt tỷ lệ  87,77% (kế hoạch là 93,9%); 11/14 huyện, thành phố với 152/180 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, đạt tỷ lệ 84,4% (kế hoạch  là 95%); có 125 trường đạt chuẩn quốc gia.

 

Ngày 07/9/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định thành lập Trường đại học Phạm Văn Đồng trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng cộng đồng Quảng Ngãi. Cơ sở đào tạo khu vực miền Trung tại tỉnh Quảng Ngãi của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã tuyển sinh và khai giảng khóa đầu tiên. 

 

Cơ sở vật chất các trường học được tiếp tục tăng cường bằng nguồn vốn CTMTQG giáo dục, vốn sự nghiệp của ngành, vốn XDCB. Trong năm 2007 đã xây dựng mới 551 phòng học, nâng tổng số phòng học hiện có trên toàn tỉnh lên 7.313 phòng.

 

2. Khoa học - Công nghệ

Tổ chức đánh giá, nghiệm thu 10 đề tài, dự án và triển khai 24 nhiệm vụ trong kế hoạch nghiên cứu ứng dụng khoa học – công nghệ năm 2007; tổ chức hội nghị phổ biến, chuyển giao một số kết quả nghiên cứu khoa học có giá trị cho các đơn vị quản lý, khai thác, sử dụng như: Bản đồ địa chất khoáng sản tỉnh Quảng Ngãi tỷ lệ 1/50.000, các phần mềm của đề tài “Xây dựng mô hình quản lý hành chính cấp huyện theo tiêu chuẩn ISO 9000 và ứng dụng CNTT phục vụ quản lý theo mô hình”,…; tổ chức 5 cuộc hội thảo khoa học như: đánh giá trữ lượng, chất lượng và giải pháp quy hoạch, khai thác sử dụng hợp lý nguồn nước ngầm vùng cát ven biển các huyện Mộ Đức, Đức Phổ… Triển khai các nội dung thuộc Chương trình khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn 2006 - 2010.   

 

3. Về Y tế, Dân số, Gia đình và Trẻ em

Các ngành, các cấp, các địa phương trong tỉnh đã duy trì thường xuyên và chủ động, triển khai các biện pháp  phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm được tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên và ngày càng đi vào nề nếp. Các cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra 13.329 lượt cơ sở sản xuất - kinh doanh thực phẩm; qua kiểm tra có 10.369 cơ sở đạt TCVS chiếm 77,79%, xét nghiệm 2.056 mẫu thực phẩm, trong đó có 1.593 mẫu đạt TCVS chiếm 77,48%.

 

              Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được duy trì trường xuyên. Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai đạt 98,18% kế hoạch năm, tăng 2,1% so cùng kỳ năm trước. Chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, chương trình bảo vệ sức khoẻ trẻ em, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em,…được các ngành chức năng triển khai thực hiện tốt.

 

               Ngành Y tế đã hoàn thành công tác bàn giao trạm Y tế xã, phường cho Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố quản lý và thường xuyên quán triệt 12 điều y đức và kiểm tra việc chấp hành các và qui chế chuyên môn bệnh viện, kịp thời chấn chỉnh tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ y tế đối với người bệnh, 100% cơ sở khám, chữa bệnh thiết lập  đường dây điện thoại nóng để kịp thời xử lý. Ước đạt được số giường bệnh /1 vạn dân là 14,73 giường, tăng 1,66% so với năm 2006, bằng 97,49% kế hoạch; số bác sỹ /1 vạn dân ước đạt 4 bác sỹ, tăng 4,17% so với năm 2006, bằng 99,26% kế hoạch.

 

             4. Hoạt động văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục - thể thao

a) Văn hóa thông tin: Các hoạt động văn hoá truyền thống diễn ra sôi nổi, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: Hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng 77 năm ngày thành lập Đảng và đón xuân Đinh Hợi 2007; tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII; phối hợp với Cục Văn hóa Thông tin cơ sở thuộc Bộ Văn hóa – Thông tin tổ chức Liên hoan Thông tin lưu động toàn quốc năm 2007; tổ chức Lễ khánh thành Đền thờ và giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định; Lễ tưởng niệm 60 năm ngày mất cụ Huỳnh Thúc Kháng; phối hợp với Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam tổ chức Hội thảo văn hóa biển miền Trung và Quảng Ngãi; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thành công Hội nghị biểu dương Gia đình văn hóa tiêu biểu, xuất sắc toàn tỉnh lần thứ I,…

 

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển đều khắp trong tỉnh, chất lượng phong trào ngày được nâng cao; kết quả phong trào đã đem lại nhiều mặt tích cực trong đời sống văn hóa, khơi dậy tình đoàn kết dân tộc và tinh thần yêu quê hương, yêu tổ quốc. Dự kiến cuối năm 2007 có 53% tổ, thôn văn hoá (kế hoạch: 60-65%); 67% gia đình văn hoá (kế hoạch: 75-80%); 75% cơ quan văn hóa (kế hoạch: 90-95%); tuy nhiên các chỉ tiêu này không đạt so với kế hoạch đề ra.

 

              b) Đài Phát thanh truyền hình tỉnh đã tiến hành sắp xếp, cơ cấu lại các chương trình và mở thêm một số chuyên mục, chuyên đề nên thời lượng phát sóng các chương trình hằng ngày tăng từ 15% đến 35% so với năm 2006. Mặt khác, nhờ sử dụng hệ thống cáp quang truyền tín hiệu Phát thanh - Truyền hình nên sóng PTQ được cải thiện về chất lượng, diện phủ sóng PTQ tăng lên đáng kể. Toàn tỉnh hiện có 14 Đài truyền thanh, Truyền thanh – Phát lại truyền hình huyện, thành phố phát sóng FM và duy trì việc tiếp phát sóng đầy đủ các chương trình PTQ, VTV ở Đài huyện và 21 Trạm phát lại truyền hình; có 171 Đài truyền thanh cơ sở xã, phường, thị trấn, trong đó có 129 Đài cơ sở phát sóng FM. Đến nay ước tính sóng phát thanh đã phủ được 99%, sóng truyền hình phủ được 94% diện tích toàn tỉnh; 97% số dân được nghe đài, 90% số dân được xem truyền hình.

 

Công tác phát thanh - truyền hình tập trung tuyên truyền xuyên suốt, sâu rộng và phản ánh kịp thời về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII và bổ sung Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2007), Mít tinh kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; triển khai thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ-NĐ của Chính phủ; các hoạt động phòng chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm, dịch bệnh heo tai xanh và các nhiệm vụ chính trị của tỉnh; ,... 

 

              c) Phong trào Thể dục Thể thao phát triển với chất lượng và quy mô cao hơn năm trước, các đơn vị, địa phương đã tổ chức trên 510 hoạt động thể dục thể thao, thu hút gần 17.000 lượt vận động viên tham gia và phục vụ hàng chục ngàn lượt người xem. Hội thi Thể thao các huyện miền núi, hải đảo đã thành công tốt đẹp, góp phần khơi dậy phong trào tập luyện thể dục thể thao ở các huyện miền núi và hải đảo. Toàn tỉnh hiện có 05 hội và 500 câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở hoạt động thường xuyên, góp phần tích cực trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa ngành thể dục thể thao. Các đội tuyển thể thao thành tích cao của tỉnh đã đạt được 60 huy chương các loại tại các giải thể thao toàn quốc (17 HCV, 13 HCB, 30 HCĐ). Lần đầu tiên tham gia ở giải hạng Nhất quốc gia, đội bóng đá Thành Nghĩa - Quảng Ngãi đã thi đấu rất xuất sắc, xếp thứ 5/14 đội; Đội bóng đá U11 tham gia giải Bóng đá bậc Tiểu học toàn quốc đã đạt được chức vô địch.

 

5. Các hoạt động chính sách, xã hội

Công tác xóa đói giảm nghèo, lao động và việc làm được tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện. Trong năm đã giải quyết việc làm cho khoảng 33.000 lao động, đạt 100% kế hoạch, trong đó số lao động có việc làm mới là 14.000 người (NQ HĐND là 13.500 người); phân bổ cho hộ nghèo vay 15 tỷ đồng để tạo việc làm, trong đó có 4 tỷ đồng vốn bổ sung từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, đã giải ngân  285 dự án với nguồn vốn vay 14 tỷ đồng, tạo được việc làm cho 5.200 lao động; đã tuyển mới dạy nghề cho 5.650 người, đạt tỷ lệ 102% kế hoạch năm; ước tính tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 18%; giảm 9.439 hộ nghèo, số hộ nghèo phát sinh trong năm 1.441 hộ, thực giảm 7.998 hộ nghèo, đạt 100,4% kế hoạch năm, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ xuống còn 25,22% trong tổng số hộ dân cư.

 

Đã giải quyết số đối tượng hưởng chính sách được công nhận trong năm là 2.425 trường hợp, giải quyết 2.679 hồ sơ trợ cấp một lần cho người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến chết trước ngày 01/01/1995; giải quyết 2.533 hồ sơ trợ cấp cho các đối tượng hưởng chính sách theo Nghị định 54/2006/NĐ-CP; xét duyệt 1.460 hồ sơ hưởng chính sách theo Quyết định 290; phát hành 260 hồ sơ của các đối tượng công nhận thương binh; duyệt và cấp 14.000 sổ ưu đãi giáo dục theo Thông tư liên bộ số 16.

 

Hoàn thành việc triển khai thực hiện Quyết định 3361/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc khám chữa bệnh cho người nghèo, đối tượng cứu tế thường xuyên và người cao tuổi năm 2007, mua 163.700 thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng cứu trợ thường xuyên và người cao tuổi ở khu vực đồng bằng với tổng số tiền là 9.822 triệu đồng; thực hiện cấp thẻ khám chữa bệnh cho 149.634 người nghèo thuộc các xã của chương trình 135, đối tượng cứu tế thường xuyên và người cao tuổi ở khu vực miền núi, hải đảo.

 

Thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về Đề án hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở cho hộ gia đình có công với cách mạng và hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 – 2010, trong năm 2007 tỉnh đã xây dựng và sửa chữa 7.783 ngôi nhà với tổng kinh phí 61.438 triệu đồng. Trong đó, có 4.005 nhà cho hộ nghèo dân tộc thiểu số thuộc diện chính sách 134 với kinh phí 33.162 triệu đồng, đạt 87,8%  so với kế hoạch năm; 1.262 nhà ở cho hộ có công với cách mạng với kinh phí 13.490 triệu đồng, đạt 148,4% so với kế hoạch năm và 2.516 nhà ở cho hộ nghèo khác với kinh phí 14.786 triệu đồng đạt 196,6% so với kế hoạch năm. Như vậy, trong 2 năm 2006 – 2007 tỉnh đã xây dựng và sửa chữa 15.291 nhà/17.000 nhà, đạt 89,9% kế hoạch Đề án đề ra. Dự kiến số nhà còn lại theo Đề án (1.709/17.000 nhà) sẽ hoàn thành trong năm 2008.

 

6. Công tác dân tộc - miền núi

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã trình HĐND tỉnh thông qua Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Ngãi 5 năm 2006 - 2010, trên cơ sở đó đã ban hành Quyết định triển khai thực hiện Đề án. Ước đến cuối năm các địa phương xây dựng được 4.256 ngôi nhà cho các hộ đồng bào theo Đề án cải thiện nhà ở, đạt 100% kế hoạch (Kế hoạch ban đầu là 4.564 ngôi nhà, nhưng đến nay có 257 hộ không thực hiện được do: chết, chuyển đi nơi khác, một số nhà được các chương trình, chính sách khác xây dựng và 51 hộ ở thôn 1 và thôn 4, xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng nằm trong diện di dời đến khu tái định cư để xây dựng Nhà máy thủy điện Hà Nang).

 

Tỉnh đã triển khai thực hiện các công trình cơ sở hạ tầng, dự án xây dựng trung tâm cụm xã thuộc chương trình 135 trong kế hoạch năm 2007 và việc thực hiện Chính sách 134 về hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt ở các địa phương. Dự kiến đến cuối năm 2007, công tác hỗ trợ đất ở ước đạt 100% kế hoạch (13,7/13,7 ha), hỗ trợ đất sản xuất ước đạt 105,45% (483,17/458,17 ha), xây dựng công trình nước sinh hoạt phân tán ước đạt 100% kế hoạch (208/208 công trình), công trình nước sinh hoạt tập trung ước đạt 100% kế hoạch (83/83 công trình).   

 

III. LĨNH VỰC NỘI CHÍNH, TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC VÀ ĐỐI NGOẠI

1. An ninh, quốc phòng, an toàn xã hội

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững, ổn định. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về quốc phòng – an ninh, nhất là chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới và chiến lược an ninh quốc gia. Lực lượng vũ trang tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ các mặt công tác theo kế hoạch, hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao,… Hoàn thành tốt công tác tuyển quân năm 2007, đạt 100% chỉ tiêu trên giao. Công tác giáo dục quốc phòng cũng được nâng lên, đã mở nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng như: cán bộ chủ chốt ở các xã, phường, thị trấn; cán bộ trưởng ban ở các sở, ngành,…

 

Công tác bảo vệ an ninh vùng biển được tăng cường, các lực lượng vũ trang đã chủ động nắm chắc diễn biến tình hình, xử lý kịp thời và có hiệu quả các vụ việc xảy ra, đấu tranh phòng chống tội phạm đạt kết quả tốt, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới biển của tỉnh; phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo.

 

Tai nạn giao thông có chiều hướng gia tăng so với năm trước. Đến ngày 30/11/2007, toàn tỉnh xảy ra 268 vụ, làm chết 196 người và bị thương 227 người; so với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 36 vụ, số người chết tăng 41 người và số bị thương giảm 17 người. Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 255 vụ, làm chết 183 người và bị thương 227 người; tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 12 vụ, làm chết 13 người; tai nạn giao thông đường thuỷ xảy ra 1 vụ, làm chết 1 người.

 

2. Tổ chức Nhà nước và cải cách hành chính

Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh xác định công tác cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong năm 2007 và những năm tiếp theo, vì vậy đã sớm ban hành và đôn đốc các đơn vị, địa phương thực hiện một số nội dung về công tác cải cách hành chính như: Kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 - 2010; hướng dẫn một số nhiệm vụ về công tác cải cách hành chính cần tập trung thực hiện trong năm 2007; thực hiện về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo Quyết định số 01/2007/QĐ-UBND ngày 05/01/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành Quy chế phối hợp liên ngành trong việc giải quyết cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký thuế theo cơ chế một cửa liên thông tại Sở Kế hoạch và Đầu tư; chỉ đạo các đơn vị, địa phương chuẩn bị xây dựng phương án, kế hoạch sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển giao nhiệm vụ theo hướng dẫn của Trung ương về sắp xếp, kiện toàn lại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện,... Thực hiện chính sách khuyến khích công chức, viên chức tự nguyện nghỉ hưu trước tuổi, Sở Nội vụ đã thỏa thuận theo thẩm quyền cho 201 cán bộ, công chức, viên chức tự nguyện nghỉ hưu trước tuổi, 03 cán bộ chuyên trách cấp xã nghỉ thôi việc theo Nghị định 54 của Chính Phủ.   

 

Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các Sở, ngành, huyện, thành phố thực hiện các biện pháp chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính; từng bước thực hiện tốt quy chế công khai, minh bạch trong mọi lĩnh vực, trước hết công khai về ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản. Tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên cơ sở Chương trình hành động cụ thể của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Đã tập trung chỉ đạo và tổ chức thành công công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII và bầu cử bổ sung đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 -2009.   

 

Công tác qui hoạch, thi tuyển, điều động, thuyên chuyển, tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại,… ngày càng đi vào nề nếp. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở các ngành, các cấp thực hiện thường xuyên, nhất là cán bộ xã, phường, thị trấn. Qua đó từng bước chuẩn hóa và nâng cao trình độ, năng lực thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh.

Công tác cải cách hành chính năm qua từng bước được cải thiện, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho tổ chức, công dân đến liên hệ công tác. Đến nay, đã có 20/28 Sở, ngành, 13/14 huyện, thành phố và 119/180 xã áp dụng cơ chế một cửa trong quan hệ giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức và công dân.

 

3. Công tác đối ngoại

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chương trình Xúc tiến viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2007 - 2010, xây dựng Chương trình xúc tiến đầu tư Thương mại và Dịch vụ tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2007 - 2010. Đến nay, đã có 20 tổ chức phi Chính phủ hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, tăng 9 tổ chức so với năm 2006, với tổng giá trị cam kết viện trợ thực hiện các dự án lên đến 65 tỷ đồng, tăng 7 tỷ đồng.  Tổ chức đón tiếp và làm việc với 14 đoàn ngoại giao theo đúng qui định về nghi thức lễ tân ngoại giao Nhà nước và thông lệ quốc tế, đảm bảo truyền thống mến khách, trọng thị, chu đáo, tiết kiệm.

 

               Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và Chương trình hành động của Chính phủ, tỉnh đã tổ chức gặp mặt bà con Việt kiều về thăm quê hương trong dịp Tết Nguyên đán, nhằm động viên, khơi dậy nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế của những kiều bào yêu nước. Hiện có 7 chuyên gia, trí thức kiều bào là giáo sư, tiến sỹ đang làm việc, hợp tác với các cơ quan trong tỉnh và có 3 dự án Việt kiều đầu tư vào tỉnh với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 140 tỷ đồng.

 

4. Công tác tư pháp

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chương trình xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật của tỉnh năm 2007 với tổng số 62 văn bản. Sở Tư pháp đã thẩm định tính pháp lý của 126 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh, đạt 203% kế hoạch; công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến cán bộ và nhân dân được đẩy mạnh; thi hành án dân sự với số lượng 5.776 việc (số việc cũ chuyển sang là 2.273 việc, thụ lý mới 3.503 việc), có điều kiện thi hành 4.289 việc, đã thi hành xong 2.934 việc, đạt 70% trên tổng số việc có điều kiện thi hành.

 

5. Tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác thanh tra

Tình hình khiếu nại, tố cáo không có đột biến, không xảy ra điểm nóng nhưng so với năm 2006 số đơn tăng 33%, số vụ tăng 29%. Các cơ quan hành chính trong tỉnh đã tiếp 5.147 lượt công dân, trong đó có 22 lượt đoàn khiếu nại đông người; tiếp nhận 6.388 đơn của 5.206 vụ khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị; đã giải quyết 1.504/1.968 vụ việc thuộc thẩm quyền.

 

Ngành thanh tra đã triển khai thực hiện 224 cuộc thanh tra, kiểm tra và đã kết thúc 205 cuộc tại 2.587 đơn vị, cơ sở kinh doanh. Qua thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo phát hiện tổng giá trị sai phạm trên 44.356 triệu đồng và 2.637 ha đất các loại, 7 chỉ vàng 24K; đã kiến nghị thu hồi vào ngân sách nhà nước 12.328 triệu đồng, 3 chỉ vàng và 101 ha đất Khu kinh tế, 13,73 ha đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, 1.999 ha đất rừng phòng hộ...

 

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng đến toàn thể cán bộ, công chức trong toàn tỉnh. Các cơ quan chức năng đã tiến hành 2 cuộc thanh tra, kiểm tra việc tổ chức triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tại 3 Sở và 13 huyện, thành phố trong tỉnh. Qua thanh tra và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng đã phát hiện 13 vụ có hành vi tham nhũng với tổng số tiền sai phạm là 1.017,37 triệu đồng; xử lý hành chính 11 người và chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 5 vụ 10 người.

 

6. Công tác phối hợp với Mặt trận, các cơ quan Đảng, HĐND tỉnh và các Hội đoàn thể

Thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo với các giải pháp toàn diện, kết hợp với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, quan tâm và chú trọng đến công tác dân tộc và tôn giáo; phát huy vai trò của mặt trận và các Hội, đoàn thể động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. UBND tỉnh luôn nhận thức và đề cao vai trò giám sát  của HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND trong quá trình điều hành phát triển kinh tế - xã hội; phối hợp chặt chẽ với thường trực HĐND trong việc chuẩn bị chương trình, nội dung làm việc của kỳ họp HĐND, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh.

 

              B. MỘT SỐ KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ

              1. Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp khá cao nhưng một số sản phẩm có giá trị sản xuất lớn có tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng hoặc tăng trưởng thấp hơn kế hoạch, thậm chí giảm so với năm 2006 như: dăm gỗ nguyên liệu giấy đạt 52,5 ngàn tấn, giảm 41,7%, chỉ đạt 52,5% kế hoạch; quần áo may sẵn đạt 5,58 triệu cái, giảm 25,6%; …một số sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh kém; tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển yếu.

 

Việc triển khai đầu tư và xây dựng các công trình, dự án trên địa bàn vẫn còn chậm so với kế hoạch và tiến độ đề ra; việc áp dụng các văn bản mới về quản lý đầu tư và xây dựng của Trung ương, chuyển đổi tổ chức các ban quản lý dự án còn nhiều lúng túng; việc phân bổ quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và xã hội còn kém hiệu quả; quản lý quy hoạch đô thị, kiến trúc và đầu tư xây dựng vẫn còn nhiều yếu kém; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư một số dự án còn quá chậm; chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư một số nơi chưa thật sát hợp với thực tế; chính sách chuyển đổi ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi đất chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng lãng phí, thất thoát trong việc sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước, trong sử dụng đất đai, trong đầu tư xây dựng cơ bản chưa được khắc phục.

 

              2. Tỷ trọng chăn nuôi còn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp do ảnh hưởng dịch LMLM gia súc và bệnh tai xanh ở lợn. Dịch bệnh LMLM ở gia súc và bệnh tai xanh ở lợn, bệnh cúm gia cầm luôn có nguy cơ tái phát đã ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm. Một số địa phương không kiểm soát được nông dân có xu hướng giữ sản xuất 3 vụ lúa/năm, nhất là ở huyện Bình Sơn và Đức Phổ.

 

3. Kinh tế thủy sản phát triển chưa toàn diện và vững chắc. Tàu thuyền tuy nhiều nhưng công suất thấp, hiện đại hóa chậm; một số dự án tàu đánh bắt xa bờ hiệu quả thấp; hiện tượng tàu thuyền ngư dân của ta bị tàu thuyền và ngư dân nước ngoài bắt giữ, tịch thu phương tiện và phạt tiền vẫn thường xuyên xảy ra; nuôi trồng thủy sản phát triển chưa ổn định và mang yếu tố tự phát với quy mô nhỏ lẻ, chưa chủ động khống chế tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh; chế biến thủy sản phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng nguyên liệu do đánh bắt và nuôi trồng đạt được nên giá trị gia tăng của sản phẩm trên địa bàn và kim ngạch xuất khẩu thủy sản còn thấp; năng lực sản xuất giống trên địa bàn tỉnh chỉ mới đáp ứng được 25% nhu cầu giống toàn tỉnh nên còn tình trạng nguồn giống chưa qua kiểm dịch được thả nuôi còn nhiều, dễ dẫn đến tình trạng dịch bệnh; tình trạng vận chuyển, buôn bán, sử dụng chất nổ để đánh bắt hải sản vẫn còn diễn ra, đặc biệt là ở huyện đảo Lý Sơn.

 

4. Tình hình chặt phá rừng trái phép ở một số địa phương diễn biến phức tạp, khó kiểm soát; tình trạng vi phạm qui chế quản lý, bảo vệ rừng vẫn còn diễn ra ở một số nơi, nhất là ở các huyện miền núi.

 

5. Công tác bảo vệ môi trường bước đầu có chuyển biến về nhận thức và hành động; tuy nhiên, trong chỉ đạo, quản lý các địa phương vẫn còn lúng túng, nhất là xác định vị trí và triển khai bãi chôn lấp chất thải rắn, xây dựng mô hình tổ chức thu gom, xử lý rác thải, phương thức hoạt động quản lý sử dụng tài sản mua sắm từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các doanh nghiệp đạt tỷ lệ quá thấp, chưa đi vào nề nếp.

 

6. Công tác xã hội hóa về giáo dục, y tế, hoạt động văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng, chưa có giải pháp hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

 

Phát triển giáo dục ở miền núi và vùng dân tộc còn nhiều khó khăn. Tỉ lệ bỏ học hiện nay ở các cấp học vẫn còn cao, cụ thể: Tiểu học 4,8%; trung học cơ sở 4,9%; trung học phổ thông 6,7%; đặc biệt khu vực miền núi tỉ lệ bỏ học còn rất cao, trên 12% ở các cấp học. Tiến độ triển khai xây dựng phòng học thuộc nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo còn chậm; toàn tỉnh vẫn còn 203 phòng học tranh tre, nứa lá cần được nâng cấp. Tình trạng dạy thêm, học thêm tại các trường, đặc biệt tại thành phố Quảng Ngãi vẫn còn khá phổ biến..Việc mua sắm, cung ứng thiết bị phục vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông còn chậm, ảnh hưởng đến kết quả dạy và học.

 

Công tác khám chữa bệnh vẫn còn nhiều tồn tại, từng lúc, từng nơi vấn đề “y đức” của một số cán bộ, viên chức còn có dư luận không tốt. Nhân lực đầu tư cho hệ thống y tế, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu. Tiến độ triển khai một số dự án ngành Y tế còn chậm, điển hình nhất là dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Trung tâm Y tế huyện Ba Tơ. Các dịch vụ y tế vẫn chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; chưa khắc phục được tình trạng quá tải ở một số bệnh viện, trung tâm y tế, đặc biệt là ở Bệnh viện tỉnh.

 

Tỉ lệ gia đình văn hoá; tổ, thôn văn hoá; cơ quan văn hoá còn thấp, chưa đạt so với kế hoạch đề ra. Phong trào thể dục thể thao ở các địa phương, cơ quan chưa mạnh.  Chỉ tiêu thể thao thành tích cao đạt so với kế hoạch, nhưng còn thấp so với các tỉnh trong khu vực.

 

7. Công tác cải cách hành chính có cải thiện nhưng vẫn còn chậm, vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, công việc lẫn nhau; hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao; việc triển khai áp dụng cơ chế một cửa tại UBND cấp xã, một số cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện chưa được đồng bộ; từng lúc, từng nơi kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa thực hiện nghiêm; sự nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân khi phải tiếp xúc giải quyết công việc với các cơ quan công quyền vẫn còn xảy ra.

8. Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp của tỉnh và đặc biệt là Khu kinh tế Dung Quất còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn ở mức thấp (21,5%). Số trẻ em lang thang kiếm sống trên địa bàn và di chuyển vào các tỉnh phía nam vẫn tiếp diển, đặc biệt là huyện Ba Tơ, chưa có đồng bộ các biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Hiện trẻ em lang thang vào các tỉnh phía nam kiếm sống còn 67em (năm 2006: 400 trẻ em).

 

9. Một số cuộc thanh tra thực hiện chưa đúng tiến độ; một số vụ việc giải quyết chưa đúng thời gian theo qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Việc tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý kết luận thanh tra kinh tế - xã hội của một số đơn vị, cá nhân còn rất chậm so với yêu cầu.

 

10. Một số vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết triệt để như: Nhiều dịch vụ văn hóa không lành mạnh vẫn có chiều hướng gia tăng; tình hình mất ổn định, gây rối trật tự, trộm cắp tại Khu kinh tế Dung Quất; số người chết và bị thương do tai nạn giao thông tăng; ...    

 

Nhìn chung:  Năm 2007, trên cơ sở các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy,  Nghị quyết HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã sớm thể chế hóa thành các quyết định quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách trên từng lĩnh vực và tập trung chỉ đạo, điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kịp thời giải quyết các vấn đề đột xuất, nổi cộm... góp phần đưa kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển ở mức cao. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực phát triển kinh tế là rất khả quan. Tốc độ tăng trưởng (GDP) đạt khá cao 14%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng (từ 32,9% năm 2006 lên 36%), giảm dần tỷ trọng nông, lâm và thủy sản (từ 31,9% năm 2006 xuống còn 29,9%). Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 127,79% so với năm 2006, nhiều dự án hoàn thành đưa vào sử dụng có hiệu quả. Nguồn thu ngân sách tăng cao và tạo điều kiện thực hiện hoàn thành nhiều mục tiêu, giải quyết nhiều yêu cầu bức xúc trong công tác điều hành kế hoạch, ngân sách của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu, doanh thu dịch vụ đều tăng, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 57,19 triệu USD, tăng 23,38% so với năm 2006. Các lĩnh vực xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều yêu cầu bức xúc của xã hội được giải quyết góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Trong năm, đã giải quyết việc làm cho khoảng 33 ngàn lao động; giảm số hộ nghèo xuống còn 25,22% tổng số hộ dân cư; tỷ lệ độ che phủ rừng ước đạt 37% ;...

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế. Chất lượng của sự tăng trưởng, nhất là sức cạnh tranh của nền kinh tế tuy có được cải thiện (Chỉ số năng lực cạnh tranh PCI năm 2006 của tỉnh xếp hạng thứ 56/64 tỉnh, thành phố đến năm 2007 là 45/64 tỉnh, thành phố) nhưng vẫn còn thấp so với nhiều tỉnh. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, tác động tiêu cực đến sản xuất - kinh doanh và đời sống nhân dân; tiến độ thực hiện các công trình, dự án còn chậm; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều ách tắc. Một số vấn đề xã hội bức xúc như tình trạng khiếu nại, tố cáo vẫn tăng; tình hình mất ổn định, gây rối trật tự, trộm cắp tại Khu kinh tế Dung Quất; số người chết và bị thương do tai nạn giao thông tăng cao; tình trạng chặt phá rừng ở một số địa phương vẫn diễn biến phức tạp,...    

 

Phần thứ hai

NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008

I. MỤC TIÊU

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2007, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị thành phố, các dự án giao thông thủy lợi, miền núi, đường ven biển... Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

 

II. CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA NĂM 2008

1. Chỉ tiêu kinh tế

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP                         :   14 - 14,5%.

- GDP bình quân đầu người                                           :   9,378 triệu đồng/người/năm

- Giá trị sản xuất (giá so sánh 1994):

+ Nông-lâm-ngư nghiệp tăng                                     :   4,5 - 5%

+ Công nghiệp-xây dựng tăng                                   :   23 - 24%

+ Dịch vụ tăng                                                            :   14 - 15%

- Cơ cấu kinh tế:

+ Nông - lâm - ngư nghiệp                                        :   27% - 28%

+ Công nghiệp - xây dựng                                        :   38% - 39%

+ Dịch vụ                                                                   :   33% - 34%.

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ                        :   10.000 tỷ đồng.

- Kim ngạch xuất khẩu                                                    :   67 triệu USD

- Kim ngạch nhập khẩu                                                   :   25 triệu USD

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn : 1.510 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương                                   :   2.736,54 tỷ đồng.

- Tổng vốn đầu tư phát triển                                             :   20.868 tỷ đồng.

- Sản lượng lương thực có hạt                                      :   435.650 tấn.

- Sản lượng mía cây                                                       :   440.000 tấn.

- Sản lượng thủy sản chế biến                                       :   5.150 tấn.

- Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng :  95.300 tấn.

 

2. Chỉ tiêu xã hội

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,96 %.

- Tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm 33.500 lao động.

- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn 24%.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 20% - 21% (theo chuẩn mới).

- Số giường bệnh/1vạn dân là 15,12 giường.

- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS 91,6%.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia :

             + Tiểu học              : 38,0 %.

             + THCS+THPT      : 23,93%.

- Tỷ lệ đạt chuẩn văn hóa :

             + Gia đình văn hóa : 70-75%.

             + Thôn, tổ dân phố : 55-60%.

             + Cơ quan               : 85-90%.

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện  97 %.

- Tỷ lệ dân cư nông thôn dùng nước sạch 50%.

 

3. Chỉ tiêu tài nguyên và môi trường

-   Diện tích rừng trồng tập trung 6.231 ha, quản lý bảo vệ rừng 105.040 ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 6.000 ha.

- Độ che phủ rừng 36%.

- Tỷ lệ thành phố, thị trấn được gom và xử lý rác thải 28,6%.

- Tỷ lệ dân cư thành thị dùng nước sạch 100%.

- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước sạch 50%.

4. Chỉ tiêu về an ninh quốc phòng:

- Đảm bảo đạt 100% chỉ tiêu tuyển quân.

- Lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,7% so với tổng dân số.

- Xây dựng 85-90% xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng - an ninh.

 

III. CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 2008

Để đạt được tốc độ tăng trưởng (GDP) năm 2008 từ 14 – 14,5% , cần tập trung vào các giải pháp, chính sách chủ yếu sau:

 

1. Tập trung mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2008

 

Quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 17 và Nghị quyết HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 của tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó, tập trung ưu tiên mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ đột phá (phát triển công nghiệp và phát triển nguồn nhân lực) và 8 chương trình trọng điểm.

 

Thực hiện Nguyên tắc bố trí vốn đầu tư năm 2008 theo đúng Quyết định 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 23/2007/QĐ-UBND ngày 13/8/2007 của UBND tỉnh và Chỉ thị số 773/CT-TTg, ngày 12/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2008.

 

Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển, chú trọng việc huy động vốn từ quỹ đất, thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tập trung vốn đầu tư cho các công trình thuỷ lợi, giao thông; hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất, các Khu công nghiệp tỉnh, các Cụm công nghiệp – làng nghề; hạ tầng du lịch, thuỷ sản, y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ,...

 

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ; đề án Quảng Ngãi hội nhập kinh tế quốc tế đã được phê duyệt; tăng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó chủ yếu là nguồn huy động, vốn ngân sách chỉ hỗ trợ một phần để phát triển mạng lưới chợ, đặc biệt là các chợ nông thôn, miền núi.

 

2. Tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch

 

Các ngành và địa phương tiếp tục rà soát lại quy hoạch của ngành và địa phương để điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, quy hoạch Dải ven biển miền Trung và Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung.

 

Hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các huyện, thành phố từ năm 2011 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.

 

Phát triển kinh tế - xã hội dựa trên quy hoạch được duyệt; không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch, kế hoạch. Tăng cường kiểm tra giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch. Nâng cao tính minh bạch, công khai đối với công tác quy hoạch, kế hoạch.

 

3. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thu hút mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, tăng cường công tác quản lý đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư

 

Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư; xây dựng, công bố danh mục dự án gọi vốn đầu tư và các qui định về xác định, lựa chọn nhà đầu tư nhằm minh bạch hóa, công khai qui trình, thủ tục đầu tư; chủ động xúc tiến đầu tư, kêu gọi thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để tập trung đầu tư vào các lĩnh vực ngành nghề mà tỉnh ưu tiên thu hút đầu tư; thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp.

 

Rà soát lại thủ tục cấp các loại giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề kinh doanh, đăng ký kinh doanh, chứng nhận đầu tư, giao đất, thẩm định và phê duyệt dự án, cấp phép xây dựng, nộp thuế, xuất nhập khẩu,... để loại bỏ những thủ tục không hợp lý có khả năng gây chậm trễ, ách tắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

 

Thực hiện đầy đủ và đúng tinh thần Nghị định 16/2005/NĐ-CP về quản lý đầu tư và xây dựng công trình,  Nghị định 112/2006/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 16/2005/NĐ-CP và Nghị định 111/2006/NĐ-CP về công tác đấu thầu. Điều chỉnh cơ chế bồi thường giải phóng mặt bằng phù hợp với điều kiện thực tế.

 

Thực hiện nghiêm công tác giám sát, đánh giá đầu tư theo qui định. Triển khai thực hiện qui chế giám sát cộng đồng. Các chủ đầu tư phải công khai danh mục công trình trên địa bàn địa phương để tạo điều kiện cho các địa phương có công trình tham gia giám sát dự án và báo cáo rõ những nội dung cơ bản của dự án với địa phương trong quá trình khảo sát địa điểm, cấp đất, lập dự toán đền bù.

 

4. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, trước hết là thực hiện tốt cơ chế một cửa và một cửa liên thông; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng

 

Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước các cấp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa X. Triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án đơn giản hoá các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 theo Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện cơ chế một cửa và xây dựng cơ chế một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tuớng Chính phủ.

 

Tập trung chỉ đạo, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ. Tổ chức triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2015 đã được HĐND tỉnh thông qua tại kỳ họp thứ 12 .

 

Duy trì và nâng cao chất lượng công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-UBND của UBND tỉnh. Tập trung xử lý số vụ việc tồn đọng, số vụ việc UBND tỉnh đã có Quyết định giải quyết nhưng các đơn vị, địa phương chưa xử lý. Thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 

             5. Đẩy mạnh phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; giải quyết có hiệu quả các vấn đề văn hoá, xã hội, môi trường

 

Thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo chuyển biến căn bản trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế đi đôi với các biện pháp chống tiêu cực, chống bệnh thành tích. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa đối với lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao, y tế, giáo dục. Tập trung xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với những vùng khó khăn thông qua việc thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu giảm nghèo và các công trình lớn, công trình trọng điểm, giải quyết việc làm, đề án cải thiện nhà ở cho người có công với cách mạng, đề án xoá nhà tạm cho người nghèo một cách tích cực và vững chắc.

 

Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước; vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa; nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần của người có công. Trợ giúp nạn nhân chất độc da cam, người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật.

 

Tiếp tục thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, hạn chế tốc độ tăng dân số và chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý. Đẩy mạnh công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; làm tốt công tác chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

 

             Tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, kết hợp lựa chọn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trẻ có triển vọng để từng bước hình thành đội ngũ cán bộ chiến lược của tỉnh. Thực hiện Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

 

Tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác bảo vệ môi trường vừa kiểm soát và xử lý các loại chất thải phát sinh, đặc biệt ở các đô thị, Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp tỉnh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất đai, khai thác khoáng sản, tài nguyên nước và bảo vệ môi trường; xây dựng Đề án khả thi về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên cát trên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu ổn định giá, tăng thu ngân sách nhà nước, đảm bảo vệ sinh môi trường và trật tự an toàn xã hội.

 

6. Giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội

 

Tăng cường tiềm lực và nâng cao sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Thực hiện có hiệu quả chiến lược và chương trình, kế hoạch về quốc phòng, an ninh, phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý. Xây dựng một xã hội an toàn, lành mạnh, dân chủ và kỷ cương. Tăng cường vận động nhân dân và bằng các biện pháp thích hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thể lực thù địch lợi dụng các vấn đề về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,... để gây mất ổn định chính trị - xã hội.

 

Phần thứ ba

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

1. Hiện nay 06 huyện miền núi phía Tây Quảng Ngãi giáp ranh với các huyện thuộc 02 tỉnh Gia Lai, Kon Tum và có các điều kiện tương đồng về tự nhiên, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Vì vậy, kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho 06 huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi được hưởng cơ chế chính sách ưu đãi áp dụng cho Tây Nguyên và miền núi phía Bắc để bảo đảm sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền, đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định an ninh quốc phòng các huyện này.  

 

2. Tuyến đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh là một trong những công trình trọng điểm của tỉnh giai đoạn 2006-2010, việc triển khai nhanh tuyến đường này sẽ góp phần phát triển Khu kinh tế Dung Quất, phát triển kinh tế các xã ven biển, hình thành các điểm dân cư tập trung và đô thị ven biển. Mặt khác, dự án đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh đáp ứng các tiêu chí qui định tại Văn bản số 6181/VPCP ngày 29/10/2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư đường ven biển do địa phương quản lý nên UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có Tờ trình số 3731/TTr-UBND ngày 12/12/2007 về việc đề nghị bổ sung dự án Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi vào danh mục các dự án đầu tư bằng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ.

 

Ngày 21/12/2007, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản số 9382/BKH-KTĐP< về vấn đề trên. Theo đó, nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu để bố trí cho dự án Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh chưa xác định và trước mắt tỉnh phải chủ động bố trí nguồn lực địa phương để hoàn thành các thủ tục đầu tư và triển khai xây dựng trước đoạn Mỹ Khê - Trà Khúc nhằm tạo nguồn thu lớn từ quỹ đất để huy động vốn cho dự án. Tuy nhiên, hiện nay nguồn lực của tỉnh rất yếu và việc huy động vốn cho dự án này chưa thể thực hiện được. Vì vậy, đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét đưa Dự án Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi vào danh mục các dự án đầu tư từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ với tổng vốn đầu tư là 1.677 tỷ đồng.

 

Để sớm triển khai thi công dự án này góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh và sau khi đã thống nhất với Ngân hàng Phát triển Việt Nam về phương thức đầu tư dự án, tỉnh Quảng Ngãi sẽ phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt Nam chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo hướng ứng vốn cho nhà đầu tư thực hiện. Tỉnh hoàn trả vốn cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ bố trí hàng năm và huy động vốn từ quỹ đất. 

 

3. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính triển khai thực hiện cơ chế cân đối cấp bổ sung từ nguồn thu Ngân sách trên địa bàn Khu kinh tế Dung Quất trong 15 năm đầu cho yêu cầu đầu tư phát triển theo chương trình mục tiêu (theo quy định tại Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Nội dung này là không trái với Luật Ngân sách, nhưng quá trình thực hiện khi cân đối bố trí kế hoạch hằng năm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo yêu cầu phát triển hạ tầng của Khu kinh tế Dung Quất chưa được sự nhất quán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính. 

 

4. Vốn bố trí trong kế hoạch năm 2008 cho yêu cầu đầu tư hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất quá thấp (107 tỷ/267 tỷ năm 2007), trong khi các dự án đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước đang triển khai thực hiện với vốn đăng ký trên 8 tỷ USD. Vì vậy, đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét cấp bổ sung kế hoạch vốn năm 2008 hoặc cho ứng trước kế hoạch năm 2009 cho Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất khoảng 200 tỷ đồng để đáp ứng nhu cầu đầu tư các công trình hạ tầng thiết yếu và quan trọng phải hoàn thành ngay trong năm 2008 nhưng hiện nay đang thiếu vốn; gồm: Dự án xây dựng hạ tầng các khu dân cư (60 tỷ đồng); Dự án các tuyến đường trục KCN Dung Quất phía Đông giai đoạn II (50 tỷ đồng); Dự án Kè chắn cát Cảng Dung Quất (30 tỷ đồng) để hoàn thành dứt điểm vì không thể kéo dài qua năm 2009; kinh phí thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư nước ngoài (60 tỷ đồng).

 

5. Đề nghị Chính phủ đưa dự án Đường Bình Long - Dung Quất (giai đoạn 2) vào danh mục kế hoạch vốn Trái phiếu Chính phủ trong năm 2008 với tổng vốn đầu tư 305 tỷ đồng; trong đó cho phép Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất ứng trước 100 tỷ đồng để bồi thường và triển khai các thủ tục đầu tư dự án này ngay trong năm 2008.

 

6. Đề nghị cho chủ trương triển khai dự án đường Trì Bình - Cảng Dung Quất (vốn đầu tư khoảng 1.600 tỷ đồng) từ nguồn Trái phiếu Chính phủ theo danh mục dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 139/2006/QĐ-TTg ngày 16/6/2006 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. 

 

7. Quỹ đất theo quy hoạch Khu kinh tế Dung Quất (10.300 ha) hiện nay đã cấp cho các Nhà đầu tư triển khai dự án khoảng trên 73% ; vì vậy, kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép mở rộng quy hoạch Khu kinh tế Dung Quất trước mắt về phía Nam khoảng từ 3000 -5000 ha để đáp ứng yêu cầu đầu tư đối với các dự án lọc dầu, hoá dầu của các Nhà đầu tư nước ngoài.

 

8. Đất phát triển hiện nay tại Khu kinh tế Dung Quất còn quá ít, vì vậy Dung Quất bắt đầu lựa chọn nhà đầu tư, để đảm bảo yêu cầu về sử dụng đất có hiệu quả, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh ưu đãi đầu tư tại Khu kinh tế Dung Quất như sau:

 

Cho phép áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư đô thị và thương mại (không áp dụng giao đất nhưng miễn tiền sử dụng đất đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).

 

9. Đề nghị Ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng các Khu nhà ở công nhân trong Khu kinh tế (đang là vấn đề rất bức xúc), theo hướng Ngân sách Nhà nước hỗ trợ đầu tư như sau:

- Hỗ trợ kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng.

- Hỗ trợ đầu tư san nền, hệ thống hạ tầng đến hàng rào (đường, điện, nước).

- Cho vay vốn tín dụng ưu đãi trên 10 năm.

 

10. Dự án luyện cán thép Dung Quất đang trình các Bộ - ngành liên quan về việc đổi tên Công ty làm Chủ đầu tư, vốn đầu tư từ 1,056 tỷ USD tăng lên 3 tỷ USD (100% vốn FDI của nhà đầu tư Đài Loan). Sau khi các Bộ - ngành có ý kiến, trình Thủ tướng Chính phủ cho chủ trương để Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất cấp giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh dự án này, tạo điều kiện cho Chủ đầu tư triển khai xây dựng từ tháng 02/2008 và hoàn thành vào cuối năm 2012.

 

11. Cho phép nghiên cứu chuyển đổi mô hình Khu kinh tế Dung Quất trở thành Đặc Khu kinh tế, phù hợp với tinh thần Nghị quyết đại hội 10 của Đảng và Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ 17.

 

            12. Đồng ý việc chuyển giao Trường Trung cấp nghề Dung Quất thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý./.

 

 

             

 
                                                                                                              TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
                                                                                                                         CHỦ TỊCH
 
                                                                                                                         (Đã ký)    
 

                                                                                                 Nguyễn Xuân Huế

 

 

[ Trở về |  Đầu trang ]

Website Sở Ngành

Thông báo - Báo cáo
Quy định cần biết

Truy cập:7393840

Thông Tin Cần Biết


UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương xây dựng dự án Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn 2008-2015, trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt trước ngày 30/10/2010.

 

Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý cho Ban An toàn giao thông tỉnh mua khoảng 1.000 cặp áo phao để cấp phát cho học sinh nghèo trên địa bàn tỉnh đi học phải qua sông, suối.

 

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở liên quan và UBND các huyện, thành phố kiểm tra tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/9/2010.
 


Get the Flash Player to see this player.
Hình ảnh
Vietnam Software Outsourcing Vietnam Software Development