Trang chủ  Trang chính  Kinh tế - xã hội

 Báo cáo năm 2001 - 2005 
 Báo cáo năm 2006 
 Báo cáo năm 2007 
 Báo cáo năm 2008 
 Báo cáo năm 2009 

 

ỦY BAN NHÂN DÂN

 TỈNH QUẢNG NGÃI

 Số:   97/BC-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
           Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quảng Ngãi, ngày 24 tháng 11 năm 2006

 

 

 

BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2006 VÀ NHIỆM VỤ NĂM 2007

 

Phần thứ nhất

Tình hình thực hiện kế hoạch Kinh tế - xã hội năm 2006

 

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006, cùng với nhiều thuận lợi rất cơ bản, những khó khăn thách thức cũng rất lớn như những thiệt hại về người và tài sản trong các cơn bão số 1 và số 6; dịch bệnh ở gia súc, gia cầm và cây trồng; sản lượng một số sản phẩm công nghiệp giảm mạnh như đường, xi măng; những biến động bất thường về giá cả, nhất là giá xăng dầu,… Bằng sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, chúng ta đã khắc phục khó khăn trở ngại, đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Nghị quyết của HĐND tỉnh vào cuộc sống, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực. 

 

1. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt                                   12,3%

  - Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP:

+ Công nghiệp - xây dựng                  :                33,5% (KH 32% - 33%)

+ Nông lâm ngư nghiệp                      :                32% (KH 31%-32%)

+ Dịch vụ                                          :                34,5% (KH 36%-37%)

 

2. Giá trị sản xuất (giá so sánh 1994) các ngành:

+ Công nghiệp xây dựng tăng             :                  25,7%

+ Nông - lâm - ngư tăng                     :                    4,3%

+ Dịch vụ tăng                                   :                  11,2%

 

          I. Về lĩnh vực kinh tế:

1. Sản xuất công nghiệp:

 

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 ước đạt 2.095 tỷ đồng (giá so sánh 1994), bằng 100,7% kế hoạch, tăng 16,8% so với năm 2005. Trong đó kinh tế Nhà nước đạt 232,9 tỷ đồng, bằng 19% kế hoạch, giảm 76,9%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 1.859 tỷ đồng, bằng 221,6% kế hoạch, tăng 138,6%.

 

 

Sản lượng một số một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng khá so với năm 2005 như: Quần áo may sẵn đạt 7,5 triệu sản phẩm, tăng 78,6%; tinh bột mỳ đạt 90.000 tấn, tăng 44,9%; đá xây dựng các loại 1.020.000  m3, tăng 27,5%; phân hóa học 23.112 tấn, tăng 19,8%; nước khoáng và nước tinh lọc 32 triệu lít, tăng 14,3%; bia các loại 38,750 triệu lít, tăng 11,2%…; trong khi đó sản lượng đường chỉ đạt 50 ngàn tấn, giảm 28,6%,...

 

2. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tài nguyên môi trường:

 

Giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản năm 2006 ước đạt 2.399 tỷ (giá so sánh 1994), bằng 100,08% kế hoạch và tăng 4,3% so với năm 2005.

 

Sản xuất nông nghiệp: Sản lượng lương thực năm 2006 đạt 426.684 tấn, tăng 3,6% so với năm 2005 và tăng 2,3% so kế hoạch cả năm. Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chủ yếu đều tăng, trong đó:

 

Diện tích lúa gieo trồng đạt 75.254 ha, năng suất đạt 50 tạ/ha;

Diện tích cây ngô đạt 10.226 ha, tăng 439 ha, năng suất đạt 49,2 tạ/ha;

Diện tích trồng sắn đạt 19.214 ha, tăng 3.178 ha.

Riêng cây mía mặc dù diện tích giảm (6.888/7014 ha) nhưng năng suất tăng (513/503,8 tạ/ha) nên sản lượng vẫn giữ mức như năm 2005 và đạt trên 353 ngàn tấn.

 

Năm 2006, đàn trâu đạt 47.419 con, giảm 1,8%; đàn bò đạt 284.564 con, tăng 16,8% so với năm 2005. Công tác phòng và chữa bệnh được chú trọng thực hiện thường xuyên nhưng dịch bệnh lở mồm long móng gia súc và bệnh cúm gia cầm vẫn ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của ngành chăn nuôi.

 

Lâm nghiệp: Trong năm đã trồng 5.121 ha rừng tập trung; quản lý bảo vệ 99.514 ha rừng phòng hộ, bằng 100% kế hoạch; khoanh nuôi đạt 3.951 ha rừng tái sinh, bằng 100% kế hoạch; chăm sóc rừng: 15.935 ha, đạt 100% kế hoạch.

 

Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được các đơn vị lâm nghiệp thực hiện tốt. Tình trạng chặt phá rừng trái phép vẫn còn diễn ra ở một số địa phương với tổng diện tích rừng bị chặt phá là 51,9 ha, trong đó huyện Sơn Hà là 39,9 ha.

 

Thủy sản: Hoạt động khai thác thủy sản gặp nhiều khó khăn do giá xăng dầu biến động thất thường làm tăng chi phí khai thác, đặc biệt là sự ảnh hưởng của các cơn bão lớn vừa qua. Sản lượng thuỷ sản năm 2006 ước đạt 93.280 tấn (trong đó khai thác 88.210 tấn, nuôi trồng 5.070 tấn), tăng 1% so với năm 2005, đạt 100,6% kế hoạch; sản lượng tôm nuôi đạt 4.160 tấn, tăng 38,4% so với năm 2005, đạt 122,4% kế hoạch.

 

Tài nguyên - môi trường: UBND tỉnh đã phê duyệt đề cương quy hoạch sử dụng đất ở 07 huyện (Đức Phổ, Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng, Lý Sơn). Công tác đo đất lâm nghiệp đối với hộ gia đình và cá nhân đạt 11.907 ha, đạt 100% kế hoạch, các tổ chức đạt 25.000 ha, bằng 64,24% kế hoạch. Cấp chứng quyền sử dụng đất 34.000 giấy, bằng 71% kế hoạch.

 

Công tác giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất đạt thấp, việc lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất ở cấp xã phường, thị trấn triển khai chậm, thiếu đồng bộ làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất. Vấn đề xử lý môi trường tại các khu công nghiệp, các vùng nuôi tôm trên cát chưa được khắc phục một cách triệt để, gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

 

Phòng chống thiên tai: UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp triển khai phương án phòng, chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tại các đơn vị, địa phương; kiểm tra các công trình thủy lợi và thực hiện kiên quyết việc di chuyển khẩn cấp dân các vùng sạt lở ven sông, ven biển, sạt lở núi đến các khu tái định cư nhằm đảm bảo an toàn về người và tài sản của nhân dân trong mùa mưa bão.

 

3. Thương mại, dịch vụ:

 

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 6.530 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2005 và vượt 0,5% kế hoạch năm. Trong đó thành phần kinh tế Nhà nước đạt 549 tỷ đồng, bằng 109,8% kế hoạch và tăng 23% so với năm 2005.

 

- Doanh thu du lịch ước đạt 90 tỷ đồng, bằng 90% kế hoạch, tăng 15% so với năm 2005. Trong năm có khoảng 195.000 lượt hành khách đến tham quan, du lịch tại tỉnh. Đến nay, đã xây dựng được 11 chợ, sửa chữa và nâng cấp 04 chợ trên địa bàn 07 huyện, thành phố, với tổng kinh phí là 17 tỷ đồng. Tuy nhiên hiện vẫn còn nhiều chợ tạm, tranh tre nứa lá, chợ tự phát chưa đúng qui hoạch.

 

- Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 41,5 triệu USD, tăng 34% so với năm 2005, bằng 104% kế hoạch. Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng khá so với 2005 như: hàng dệt may tăng 163%, tinh bột mỳ tăng 42%, hàng thuỷ sản tăng 23,8%,...

 

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 13,5 triệu USD, tăng 42% so với năm 2005, bằng 54% kế hoạch. Hàng nhập khẩu chủ yếu là vải may mặc, bao bì, gỗ nguyên liệu,…

 

- Doanh thu vận tải và các hoạt động dịch vụ vận tải (không kể vận tải đường sắt) ước đạt 229,6 tỷ, tăng 24% so với năm 2005. Trong năm, ước vận chuyển được 1.128.000 lượt hành khách, tăng 6,7% so với năm 2005. Vận tải hàng hoá đạt 2.090.000 tấn, tăng 74,7% so với năm 2005.

- Ngành Bưu chính Viễn thông có bước phát triển mạnh, trong năm 2006 đã phát triển mới gần 90.000 thuê bao, tăng 64% so năm 2005. Tính đến nay, thuê bao điện thoại trên địa bàn tỉnh khoảng 230.000 thuê bao. Mật độ điện thoại 17 máy/100 dân (năm 2005 là 10,6 máy/100 dân).

 

4. Tài chính, tiền tệ và giá cả thị trường:

 

Thu chi ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 925 tỷ đồng, bằng 151,6% kế hoạch, tăng 74,8% so với năm 2005. Trong đó, nguồn thu chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (393 tỷ đồng), khu vực ngoài quốc doanh (105 tỷ đồng),… Chi ngân sách địa phương ước đạt 1.903,295 tỷ đồng, bằng 112,7% kế hoạch, tăng 9,6% so với năm 2005. Trong đó chi thường xuyên 881,701 tỷ đồng, bằng 113,6% kế hoạch, chi đầu tư phát triển 753,2 tỷ đồng, bằng 124,7% kế hoạch.

 

Tiền tệ: Ước năm 2006, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 4.000 tỷ đồng, tăng 54% so với năm 2005. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 4.500 tỷ đồng, tăng 30,4% so với cuối năm 2005; trong đó cho vay ngắn hạn đạt 2.100 tỷ, chiếm 46,7% dư nợ và tăng 4,6% so với cuối năm 2005; cho vay trung, dài hạn đạt 2.400 tỷ đồng, chiếm 53,3% tổng dư nợ và tăng 66,4% so với cuối năm 2005.

 

Giá cả thị trường: Trong năm qua, giá xăng dầu biến động thất thường theo chiều hướng gia tăng, cuối năm có điều chỉnh giảm, dẫn đến làm biến động giá cả của một số mặt hàng khác, nhưng nhìn chung giá cả hàng hóa không có sự biến động lớn, chủng loại phong phú, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân.

 

5. Đầu tư phát triển, xây dựng cơ bản:

 

Thực hiện vốn đầu tư: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 9.819 tỷ đồng, tăng 65% so năm 2005. Trong đó vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý ước đạt 3.182,6 tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2005, bao gồm vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước (đạt 1.063,47 tỷ đồng, tăng 49,8%); vốn ngoài nhà nước (đạt 2.119,13 tỷ đồng, tăng 4,6%).

 

Riêng phần vốn xây dựng cơ bản tập trung 582,4 tỷ đồng, đã bố trí cho 33 dự án (105 tỷ đồng); khởi công mới 32 dự án (35,6 tỷ đồng); qui hoạch 26 dự án (4,35 tỷ đồng); chuẩn bị xây dựng 18 dự án (1,6 tỷ đồng); chuẩn bị đầu tư 61 dự án (3,3 tỷ đồng) và các dự án hạ tầng KCN, các dự án theo Nghị quyết 39-NQ/TW … Dự kiến đến cuối năm có 44 dự án hoàn thành đưa vào sử dụng.

 

Các Khu công nghiệp tỉnh: Ngoài việc tập trung đầu tư mặt bằng Nhà máy Bia Sài Gòn - Quảng Ngãi, trong năm đã cấp giấy phép đầu tư cho 06 dự án với tổng mức đầu tư trên 60 tỷ đồng, dự kiến giải quyết cho 1.115 lao động. Tính đến nay, tại 02 khu công nghiệp của tỉnh đã có 73 dự án (trong đó có 48 dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết 8.000 lao động) với tổng vốn đăng ký trên 1.400 tỷ đồng.

 

Khu Kinh tế Dung Quất: UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tích cực phối hợp cùng Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất trong việc đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư dự án Nhà máy luyện cán thép Tycoons, Liên hợp công nghiệp nặng Doosan Việt Nam, Nhà máy Polypropylen,...

 

Trong năm, cấp phép cho 15 dự án, với tổng vốn đăng ký 14.699 tỷ đồng; chấp thuận đầu tư 27 dự án, vốn đăng ký 77.000 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2006, đã cấp phép và chấp thuận đầu tư 102 dự án. Hiện nay có 31 dự án trong số 61 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký 58.734 tỷ đang hoạt động; giải quyết việc làm mới cho khoảng 4.000 lao động; hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng đạt 750.000 tấn, tăng 2,7% so với năm 2005.

 

Hiện nay do chưa được quy hoạch và đầu tư đồng bộ các bãi chứa đất thải, bãi chứa chất thải rắn cũng như hệ thống xử lý nước thải công nghiệp nên vấn đề ô nhiễm môi trường tại Khu kinh tế Dung Quất chưa được khắc phục triệt để. Việc khai thác tài nguyên thiếu sự quản lý chặt chẽ, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm chưa kịp thời.

 

 

Đăng ký và sắp xếp doanh nghiệp: Từ khi sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước đến nay, tỉnh đã sắp xếp 25 doanh nghiệp, đến cuối năm 2006 còn 04 doanh nghiệp phải sắp xếp theo lộ trình của Chính phủ đó là: Công ty Quản lý Bến và Dịch vụ Vận tải, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dược và vật tư Y tế, Công ty Xổ số kiến thiết, Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi.

 

Trong năm, đã cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho 02 doanh nghiệp và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 300 doanh nghiệp, với tổng vốn khoảng 395 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 05 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký khoảng gần 560,680 triệu USD. Trong đó, 02 dự án đang họat động (Công ty liên doanh đá và Công ty Apex);  01 dự án đang chuẩn bị xây dựng nhà xưởng (Công ty Nobel); 02 dự án vừa mới được cấp phép (Công ty Tycoons và Doosan Việt Nam). 02 doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên địa bàn tỉnh đều có quy mô nhỏ, ước tính tổng doanh thu trong năm 2006 này khoảng 500.000 USD, trong đó, doanh thu xuất khẩu khoảng 350.000 USD.

 

II. Các lĩnh vực xã hội:

 

1. Giáo dục đào tạo:

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp năm học 2005-2006 đạt khá, trong đó THCS đạt 98,56%, THPT đạt 97,79%; có 16% trong tổng số thí sinh thi đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng năm 2006, tăng 1% so với năm 2005.

        

Đến cuối năm 2006 có 14/14 huyện, thành phố; 180/180 xã, phường, thị trấn hoàn thành Phổ cập Giáo dục Tiểu học - chống mù chữ; 8/14 huyện, thành phố với 158/180 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS. Trong năm, đã công nhận 4 trường tiểu học, 11 trường THCS, 1 trường THPT đạt chuẩn Quốc gia; nâng tổng số trường đạt chuẩn Quốc gia đến cuối năm 2006 lên 103 trường, trong đó Mầm non: 01, Tiểu học: 71/233(tỷ lệ 30,47%); THCS: 27/129(tỷ lệ 15,5%); THPT: 4/32(tỷ lệ: 12,5%).

 

Cơ sở vật chất trường học được đựơc tiếp tục tăng cường bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục, vốn sự nghiệp của ngành, vốn xây dựng cơ bản. Từ năm 2003 - 2006, đã xây dựng được 861 phòng học bằng nguồn vốn Chương trình kiên cố hoá, với tổng kinh phí là 100 tỷ đồng, riêng năm 2006 đã xây dựng hoàn thành 211 phòng học, nâng tổng số phòng học hiện có trên toàn tỉnh lên 7.530 phòng.

 

Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được triển khai tích cực, cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục đã có một số chuyển biến, tạo sự đồng thuận của xã hội. Trường Đại học Phạm Văn Đồng đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư xây dựng, đến nay đã triển khai việc lập dự án đầu tư cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào và đào tạo nguồn nhân lực cho trường.

 

Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo vẫn còn hạn chế, đó là chất lượng giáo dục toàn diện còn thấp, phong trào xã hội học tập chưa được đẩy mạnh; tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định, bệnh thành tích vẫn còn xảy ra ở một vài nơi và đang được tập trung khắc phục.

 

2. Khoa học công nghệ:

 

        Đã triển khai thực hiện 29 đề tài, trong đó có 23 đề tài năm 2006 và 6 đề tài năm 2005 chuyển tiếp. Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp từng bước nâng cao chất lượng theo chiều sâu, chú trọng công tác nghiên cứu ứng dụng theo định hướng đáp ứng kịp thời chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là quan tâm đến ứng dụng khoa học vế giống cây trồng, vật nuôi nhằm tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

 

Công tác quản lý tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng, thực hiện giám sát tiêu chuẩn chất lượng sau công bố cho 23 sản phẩm hàng hóa, tại 22 doanh nghiệp trên địa bàn. Kiểm định 8527 phương tiện đo các loại, bằng 106% kế hoạch; kiểm nghiệm 404 mẫu các loại (nước, nước thải, thực phẩm...), bằng 112,5% kế hoạch.

 

3. Về Y tế:

 

Công tác y tế dự phòng được chủ động triển khai, tình hình dịch bệnh ổn định, tăng cường đầu tư các trang thiết bị phục vụ công tác khám, chữa bệnh; công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được duy trì. Thực hiện các biện pháp tránh thai đạt 101% kế hoạch năm, tăng 10% so cùng kỳ năm 2005. Đã phẫu thuật cho 200 em bệnh tim bẩm sinh, 77 em tật môi, 233 em tật mắt, 12 em tật vận động với kinh phí trên 1.000 triệu đồng.

 

Các công trình của ngành Y tế đang được đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào phục vụ việc khám, chữa bệnh cho nhân dân như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh 600 giường, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Tâm thần,…

 

4. Hoạt động văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục - thể thao:

 

Các hoạt động văn hoá - thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình có nhiều tiến bộ thông qua việc đổi mới về chương trình, chất lượng các kênh thông tin nâng cao đáp ứng yêu cầu tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị và phục vụ các ngày lễ lớn của tỉnh và cả nước.

 

         Toàn tỉnh hiện có 14 Đài truyền thanh cấp huyện sử dụng sóng FM công suất từ 100W đến 300W; có 8 trạm phát lại truyền hình huyện, 12 trạm phát lại truyền hình xã; 162 trạm thu vệ tinh TVR-DTH; 172 Đài truyền thanh cơ sở xã, phường, thị trấn. Đến nay, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 98%, tỷ lệ phủ sóng  truyền hình đạt 93% diện tích toàn tỉnh; có 96% dân số được nghe đài, 88% dân số được xem truyền hình.

 

         Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ ở các địa phương, đơn vị; tạo nên khí thế rèn luyện, thi đua sôi nổi, góp phần nâng cao thể lực, tạo tiền đề đạt kết quả tốt trong học tập, lao động sản xuất. Trong năm, số người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 19% bằng 103,3% KH, tăng 1,1% so với năm 2005; số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao đạt 13%, bằng 103,2% KH, tăng 0,5% so với năm 2005.  

 

         Phong trào TDĐKXDĐSVH phát triển đều khắp trong tỉnh, chất lượng phong trào ngày được nâng cao; thường trực BCĐ phong trào đã được kiện toàn, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên và đi vào hoạt động, bước đầu đã phát huy tác dụng. Kết quả phong trào đã đem lại nhiều mặt tích cực trong đời sống văn hóa, khơi dậy tình đoàn kết dân tộc và tinh thần yêu quê hương, yêu tổ quốc, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh.

 

5. Các hoạt động chính sách, xã hội:

 

Công tác xóa đói giảm nghèo, lao động và việc làm được tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện. Trong năm đã giải quyết việc làm và tăng thêm việc làm cho khoảng 32.600 lao động, đạt 101,8% kế hoạch; tuyển sinh 1.450 học sinh nghề dài hạn, 4.785 học sinh nghề ngắn hạn; cuối năm 2006, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 20,6%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 16%; giảm 8.946 hộ nghèo đạt 100% kế hoạch, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 31,94% xuống còn 28,44%. Thông qua các doanh nghiệp đã đưa 320 người đi xuất khẩu lao động ở các nước Nhật, Hàn Quốc, Đài loan, MaLaysia, đạt 71,1% kế hoạch năm.

 

Tiếp tục tiếp nhận và giải quyết 16.264 hồ sơ thương binh, liệt sĩ và người có công cách mạng; phong tặng mới danh hiệu BMVNAH cho 80 trường hợp; tổ chức thăm hỏi nhân ngày Tết Nguyên đán, ngày thương binh liệt sỹ với tổng kinh phí gần 8 tỷ đồng cho 59.000 đối tượng. Đã hoàn thành việc cấp 210.765 thẻ Bảo hiểm Y tế và 146.454 thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo trong toàn tỉnh theo phương thức thực thanh - thực chi. Đang nuôi dưỡng 113 đối tượng chính sách xã hội tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh.

 

Thực hiện đề án hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở cho hộ gia đình có công cách mạng và hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006-2010, trong năm 2006 đã hỗ trợ xây dựng mới và sửa chữa 5.981 ngôi nhà cho 5.981 hộ gia đình tăng 19,6% so với Nghị quyết HĐND tỉnh giao, trong đó 911 nhà cho gia đình người có công và 5.070 ngôi nhà cho người nghèo và hộ dân tộc, với tổng kinh phí là 40,2 tỷ đồng.

 

6. Công tác miền núi:

 

Các Chương trình, dự án hỗ trợ cho đồng bào miền núi tiếp tục được triển khai. Năm 2006, Chương trình 135 tiếp tục được thực hiện giai đoạn 2, tại 43 xã với tổng vốn đầu tư trên 22 tỷ đồng, dự kiến đến cuối năm đưa vào sử dụng 69 công trình giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, điện,…đồng thời nguồn vốn này cũng đã hỗ trợ sản xuất thông qua việc cấp giống, trợ giúp kỹ thuật cho đồng bào, đào tạo cán bộ…;Chương trình 134 được triển khai đồng bộ với kinh phí 23 tỷ đồng, dùng để hỗ trợ cải tạo 152,35ha đất, xây dựng 3189 nhà, xây dựng 160 công trình nước sinh hoạt, cải tạo 1,5ha đất ở. Cùng với 2 chương trình trên, nguồn vốn thực hiện Nghị quyết 39 - NQ/TW đã đầu tư cho các công trình giao thông thủy lợi lớn trên địa bàn các huyện với tổng kinh phí 50 tỷ đồng, tạo tiền đề hết sức quan trong trong việc triển khai thực hiện đề án phát triển kinh tế - xã hội miền núi giai đoạn 2006-2010.

 

 

Có thể đánh giá một cách khách quan rằng, việc triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn các huyện miền núi đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi của tỉnh. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào thiểu số được nâng lên rõ rệt. Hầu hết các xã đều có trạm y tế phục vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đồng thời góp phần ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế, đó là cơ chế hướng dẫn thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 chậm ban hành, tiến độ thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số huyện còn chậm; một số nơi thực hiện việc hỗ trợ nhà cho đồng bào theo Chương trình 134 thông qua đơn vị thi công chưa chặt chẽ, không đảm bảo được nguồn vốn hỗ trợ, chưa thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở,…

 

III. Lĩnh vực nội chính, tổ chức nhà nước và đối ngoại:

 

1. An ninh, quốc phòng, an toàn xã hội:

 

Tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về quốc phòng - an ninh, nhất là chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới và chiến lược an ninh quốc gia. Do vậy,  tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội năm 2006 cơ bản giữ được ổn định, các lực lượng vũ trang tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ các mặt công tác theo kế hoạch, hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao, tuyển quân giáo dục quốc phòng. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân.

 

Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tình hình trật tự, an toàn giao thông có chiều hướng tốt hơn, tai nạn giao thông giảm so với năm 2005 cả về số vụ và số người bị chết, bị thương. Từ đầu năm đến ngày 31/10/2006, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra  215 vụ tai nạn giao thông, làm chết 145 người, bị thương 220 người (giảm 34 vụ, 02 người chết và 55 người bị thương so với năm 2005); trong đó, tai nạn giao thông đường sắt là 02 vụ, chết 02 người (giảm 05 vụ, 05 người chết và 03 người bị thương so với năm 2005).

 

2. Tổ chức Nhà nước và cải cách hành chính:

 

UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp triển khai Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ qui định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh; phân bổ kế hoạch biên chế hành chính, sự nghiệp, biên chế công chức dự bị năm 2006; điều chỉnh chế độ chính sách cho số lao động hợp đồng làm công tác kiểm lâm trên địa bàn các xã miền núi; qui định tiêu chuẩn, cấp độ nâng lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức; điều chỉnh, bổ sung đội ngũ cán bộ,…Quyết định phê chuẩn bầu bổ sung 14 thành viên UBND 5 huyện và miễn nhiệm 5 thành viên UBND 2 huyện, lập hồ sơ thủ tục trình HĐND tỉnh bầu bổ sung 02 thành viên UBND (CT, 01 Uỷ viên) tỉnh nhiệm kỳ 2004-2009.

 

Công tác qui hoạch, thi tuyển, điều động, thuyên chuyển, tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, công chức ngày càng đi vào nề nếp. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở các ngành, các cấp thực hiện thường xuyên, nhất là cán bộ xã, phường, thị trấn. Qua đó từng bước chuẩn hóa và nâng cao trình độ, năng lực thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh.

Công tác cải cách hành chính từng bước được cải thiện, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho tổ chức, công dân đến liên hệ công tác. Đến nay, có 32 đơn vị (19/28 Sở, ngành và 13/14 huyện, thành phố) và trên 116 xã, phường, thị trấn áp dụng cơ chế “một cửa’ trong quan hệ giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính Nhà nước với tổ chức và công dân. Tuy vậy, hiện nay công tác cải cách hành chính vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu chính đáng của tổ chức và công dân, việc triển khai áp dụng cơ chế “một cửa” tại UBND cấp xã, một số cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện chưa đem lại hiệu quả như mong muốn; từng lúc, từng nơi kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa thực hiện nghiêm, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý điều hành của các cơ quan Nhà nước.

 

3. Công tác đối ngoại:

 

Trong năm có 127 đoàn với 553 lượt khách quốc tế đến thăm, làm việc với lãnh đạo tỉnh và các đơn vị nhằm khảo sát thị trường, tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư và kinh doanh tại tỉnh, tăng 27 Đoàn với 153 lượt khách so với năm 2005.

 

Hoạt động kinh tế đối ngoại có nhiều tiến bộ trong việc tích cực, chủ động làm việc với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để kêu gọi tài trợ trên nhiều lĩnh vực như:  Dự án Nước sạch và vệ sinh môi trường (PLAN), Dự án Giảm nhẹ tính dễ tổn thương do bão lũ gây ra, dự án Giảm nhẹ thiên tai của Chính phủ Úc, các dự án hỗ trợ trẻ em khó khăn do tổ chức PLAN tài trợ,…

 

Về cơ bản, giá trị viện trợ và dự án được tiếp nhận từ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Quảng Ngãi trong năm 2006 vẫn duy trì ở mức ổn định. Đến cuối năm 2006, trên địa bàn tỉnh có 11 tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động với tổng giá trị cam kết viện trợ khoảng 58 tỷ đồng.

 

4. Công tác tư pháp:

 

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoạt động thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản được tiến hành thường xuyên. Đã thẩm định tính pháp lý 186 dự thảo văn bản qui phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh, bằng 266% kế hoạch (kế hoạch 70 dự thảo), tăng 35 văn bản so năm 2005. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến cán bộ và nhân dân được đẩy mạnh. Thi hành án dân sự với số lượng 3.323 việc, trong đó đã giải quyết xong 2.376 việc, đạt 72% so với án có điều kiện thi hành, tăng 10% so với năm 2005… Tuy nhiên, chất lượng thẩm định văn bản qui phạm pháp luật ở các huyện, nhất là huyện miền núi còn yếu, nguyên nhân là do biên chế Phòng Tư pháp còn ít, năng lực chuyên môn của cán bộ còn hạn chế.

 

5. Tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác thanh tra:

 

Các cơ quan hành chính của tỉnh đã tiếp 5.205 lượt công dân (tăng 33% so năm 2005), tiếp nhận 4.792 đơn của 4.024 vụ việc, trong đó 3.906 đơn của 3.338 vụ khiếu nại, 263 đơn của 194 vụ tố cáo, 533 đơn của 422 vụ phản ánh. Số vụ việc thuộc thẩm quyền là 549 vụ, đã xác minh 282 vụ (có 38 vụ tố cáo); kết luận, kiến nghị giải quyết 214 vụ đạt tỷ lệ bình quân 76%. Nhìn chung tình hình khiếu nại, tố cáo không có đột biến, không xảy ra điểm nóng, nhưng so với năm 2005 số lượng đơn có tăng hơn (3,8%), tuy nhiên số vụ lại giảm (11,2%).

 

Công tác thanh tra kinh tế - xã hội đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực quản lý Nhà nước. Trong năm, ngành Thanh tra đã triển khai 233 cuộc thanh tra, kiểm tra và đã kết thúc 214 cuộc tại 2.302 lượt đơn vị, cơ sở kinh doanh; phát hiện sai phạm về kinh tế trị giá 23,735 tỷ đồng; kiến nghị thu hồi vào ngân sách Nhà nước 4,378 tỷ đồng; xuất toán khỏi giá trị công trình 204,29 triệu; kiến nghị Chủ tịch UBND các cấp xử lý theo thẩm quyền 353 triệu đồng,…xử phạt hành chính 2.041 trường hợp với số tiền là 2,168 tỷ đồng,…

 

6. Công tác phối hợp với Mặt trận và các Hội đoàn thể:

 

Thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo với các giải pháp toàn diện, kết hợp với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, quan tâm và chú trọng đến công tác dân tộc và tôn giáo; phát huy vai trò của mặt trận và các Hội, đoàn thể động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

 

 

Tóm lại: Năm 2006, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) vẫn giữ ở mức cao 12,3%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Công tác qui hoạch, kế hoạch, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từng bước được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng khá so năm trước (tăng 65%), nhiều dự án hoàn thành đưa vào sử dụng có hiệu quả. Nguồn thu ngân sách tăng cao và tạo điều kiện thực hiện hoàn thành nhiều mục tiêu, giải quyết nhiều yêu cầu bức xúc trong công tác điều hành kế hoạch, ngân sách của tỉnh. Doanh nghiệp Nhà nước được tiếp tục sắp xếp đổi mới. Lĩnh vực kinh tế ngoài Nhà nước phát triển khá theo hướng đa dạng hoá sở hữu các hình thức cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp.

 

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp vượt kế hoạch và tăng 16,8% so với năm 2005. Ngành nông lâm ngư nghiệp phát triển ổn định, giá trị sản xuất toàn ngành đạt chỉ tiêu kế hoạch và tăng 2,5% so với năm 2005, dịch cúm gia cầm tiếp tục được khống chế, bệnh lở mồm long móng ở gia súc được ngăn chặn, dập tắt. Các ngành dịch vụ phát triển khá, trong đó kim ngạch xuất khẩu vượt kế hoạch và tăng 34% so với năm 2005. Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 74,8% so năm 2005.

 

Các hoạt động văn hoá - xã hội thực hiện có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ được chỉ đạo theo hướng gắn với thực tiễn. Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được triển khai tích cực; cơ sở vật chất nhà trường được củng cố, tăng cường; cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục đã có một số chuyển biến, được sự đồng thuận của xã hội. Công tác đền ơn đáp nghĩa, các chính sách đối với người có công cách mạng, người cao tuổi, người tàn tật, nạn nhân chất độc màu da cam, đối tượng già yếu cần chăm sóc trong xã hội tiếp tục được thực hiện tốt; việc hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở cho hộ gia đình có công với cách mạng và hộ nghèo đạt kết quả khá. Công tác miền núi tiếp tục được quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn vốn.

 

An ninh quốc phòng được củng cố, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác phòng chống tham nhũng lãng phí được đẩy mạnh; tai nạn giao thông giảm so với năm 2005 cả về số vụ và số người chết, bị thương.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được chúng ta cũng nghiêm túc nhìn nhận rằng, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn yếu kém, bất cập. Tốc độ tăng GDP tuy đạt kế hoạch nhưng chưa xứng với tiềm năng. Chất lượng của sự tăng trưởng thiếu bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Công nghiệp và thủy sản có tăng so với năm 2005 nhưng vẫn chưa tương xứng tiềm năng của tỉnh. Sản phẩm công nghiệp giá trị vẫn còn nhỏ, chỉ xuất khẩu cho một số thị trường truyền thống, chưa mở rộng được thị trường nên tính ổn định không cao; tiểu thủ công nghiệp - làng nghề phát triển chậm; nuôi trồng thủy sản còn manh mún, nhỏ lẻ; xuất khẩu giá trị không cao. Việc huy động vốn từ quỹ đất chưa đạt kế hoạch.

 

Công tác xã hội hoá về giáo dục, y tế, hoạt động văn hoá vẫn còn lúng túng, chưa có giải pháp hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Phát triển giáo dục ở miền núi và vùng dân tộc còn nhiều khó khăn. Công tác khám chữa bệnh vẫn còn nhiều tồn tại, từng lúc, từng nơi vấn đề “y đức” của một số cán bộ, viên chức còn có dư luận không tốt. Nhân lực đầu tư cho hệ thống y tế, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu. Nguồn nhân lực được đào tạo có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp của tỉnh và đặc biệt là Khu kinh tế Dung Quất còn thấp.

 

Việc triển khai đầu tư các công trình trọng điểm trên địa bàn vẫn còn chậm so với kế hoạch và tiến độ đề ra . Việc phân bổ quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và xã hội còn kém hiệu quả. Quản lý quy hoạch đô thị, kiến trúc và đầu tư xây dựng vẫn còn nhiều yếu kém; Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư một số dự án còn quá chậm như: Bảo tàng tỉnh, Hợp phần di dân, tái định cư Hồ chứa nước Nước Trong, một số công trình, dự án kết cấu hạ tầng thành phố Quảng Ngãi,... Chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư một số nơi chưa thật sát hợp với thực tế; chính sách chuyển đổi ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi đất chưa được quan tâm đúng mức. Công tác giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt thấp. Tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra ở nhiều nơi với thủ đoạn ngày càng tinh vi chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Vấn đề xử lý môi trường tại các Khu công nghiệp, các vùng nuôi tôm trên cát chưa được khắc phục một cách triệt để. Công tác phòng, chống lụt bão, dịch bệnh gia súc, gia cầm mặc dù được tập trung chỉ đạo một cách quyết liệt nhưng một số ngành, địa phương còn chủ quan, chấp hành chưa nghiêm những quy định của cấp trên, đặc biệt công tác khắc phục chậm triển khai, chưa kịp thời, nhất là công tác phân bổ kinh phí hỗ trợ và các chính sách hỗ trợ cho người bị thiệt hại sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống. Việc thực hiện cơ chế "một cửa" ở một số cơ quan, đơn vị còn mang tính hình thức, thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, phức tạp, gây phiền hà cho tổ chức, công dân, đã làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và kinh doanh tại tỉnh: Chỉ số năng lực cạnh tranh về môi trường kinh doanh ở Việt Nam năm 2006 của tỉnh xếp hạng 56/64 tỉnh, thành phố, độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin xếp hạng 40/60 tỉnh, thành phố. Kỷ luật, kỷ cương hành chính vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc ở một số nơi.

 

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm chỉ đạo tuy nhiên khiếu kiện kéo dài và khiếu kiện đông người đang là thực tế đáng báo động; một số nơi các cơ quan, đơn vị còn chậm giải quyết, đùn đẩy hoặc có giải quyết nhưng chưa triệt để, nhất là cấp huyện, thành phố và cấp xã, phường, thị trấn.

 

Phần thứ hai

Những nhiệm vụ và định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội

 

I. Mục tiêu:

 

Phấn đấu đạt tốc độ phát triển kinh tế cao hơn năm 2006; huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội mang tính đột phá; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ; nâng cao hiệu quả đầu tư, ưu tiên kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề và đô thị thành phố Quảng Ngãi. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao; tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Bảo đảm an ninh quốc phòng, ổn định trật tự an toàn xã hội.

  

II. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2007:

 

1. Chỉ tiêu kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP: từ 13% - 13,5%;

- Giá trị sản xuất (giá so sánh 1994):

+ Công nghiệp - xây dựng                            : tăng từ 26% - 27%;

+ Nông - lâm - ngư nghiệp                            : tăng từ 4,5% - 5%;

+ Dịch vụ                                                    : tăng từ 11% - 12%;

- Cơ cấu kinh tế:

+ Công nghiệp- xây dựng                             : 36% – 37%

+ Nông - lâm - ngư nghiệp                            : 29% – 30%

+ Dịch vụ                                                    : 33% – 34%.

 

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 1.162 tỷ đồng

- Tổng chi ngân sách 1.967 tỷ đồng (Hỗ trợ có mục tiêu + CT mục tiêu 464 tỷ đồng).

- Sản lượng lương thực 429.500 tấn.

- Sản lượng mía cây 423.000 tấn.

-  Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng 93.820 tấn (nuôi trồng 5.410 tấn, trong đó tôm nuôi 4.500 tấn).

- Sản lượng thuỷ sản chế biến 5.000 tấn.

- Kim ngạch xuất khẩu 55 triệu USD.

 

2. Chỉ tiêu xã hội:

 

-   Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,01 %.

-   Tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm 33.000 lao động (trong đó số lao động có việc làm mới trong năm 13.500 người).

-   Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 25,44% (theo chuẩn mới).

-   Hỗ trợ nhà ở cho hộ có công với cách mạng là 850 nhà, hộ nghèo là 1.280 nhà, hộ theo QĐ 134/TTg là 4.903 nhà.

-   Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn 26 %.

-   Số giường bệnh/vạn dân 15,1 giường.

-   Tiếp tục duy trì kết quả  xoá mù chữ; tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi 93,9%.

-   Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS 95%.

-   Tỷ lệ huyện đạt chuẩn phổ cập THCS 100%.

         - Tỷ lệ đạt chuẩn văn hoá:

 

+ Gia đình 90%.

+ Thôn, khối phố 65%.

+ Cơ quan 97%.

 

-   Tỷ lệ hộ sử dụng điện  96%.

-   Tỷ lệ số xã có điện  100%.

-   Tỷ lệ dân quân tự vệ đạt 1,6% dân số toàn tỉnh.

 

3. Chỉ tiêu tài nguyên và môi trường:

 

-   Diện tích rừng trồng tập trung 7.260 ha, quản lý bảo vệ rừng 103.934 ha, khoanh nuôi tái sinh 5.054 ha.

- Độ che phủ rừng 37%.

- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh 77%; trong đó tỷ lệ dân nông thôn dùng nước sạch 49 %.

- Hoàn thành chỉ tiêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các loại.

- 100% xã, phường, thị trấn hoàn thành quy hoạch sử dụng đất.

 

III. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực:

 

1. Ngành công nghiệp:

 

        Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 1994) tăng 16 - 17%. Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp ở mức cao và bền vững. Tập trung đầu tư những sản phẩm có thị trường và khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Khuyến khích phát triển các sản phẩm xuất khẩu; giảm chi phí sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm.

 

1.1. Ngành công nghiệp chế biến:

 

Ngoài công suất và các sản phẩm hiện có của ngành công nghiệp chế biến, thực hiện việc bàn giao mặt bằng và tạo điều kiện để Sabeco đầu tư xây dựng Nhà máy bia Sài Gòn - Quảng Ngãi công suất  100 triệu lít/năm theo tiến độ. Các nhà máy sản xuất tinh bột mì giữ nguyên công suất, tập trung xử lý môi trường; các nhà máy đường cần ổn định, tăng tỷ lệ sử dụng công suất nhà máy qua giá thu mua và đầu tư giống.

 

Tiếp tục nghiên cứu nhu cầu thị trường và biện pháp thu mua nguyên liệu để xây dựng các nhà máy có công nghệ và thiết bị hiện đại sản xuất thuỷ, hải sản tại các cảng cá hiện có nhằm phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ, hải sản của tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng và chế biến..

 

1.2. Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng:

 

Trong năm 2007 và những năm tiếp theo, tốc độ xây dựng trên địa bàn tỉnh có tính đột phá, nhu cầu cung cấp vật liệu xây dựng địa phương như: gạch,cát, đá, sỏi, xi măng lớn, vì vậy phải mở rộng và phát triển các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở chế biến đá xây dựng vừa phải đảm bảo chất lượng, số lượng vừa đảm bảo giảm thiểu đến mức thấp nhất tình trạng ô nhiễm môi trường.

 

2. Ngành nông, lâm, ngư nghiệp:

 

Trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp phải tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tăng tỷ trọng chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản trong cơ cấu nội bộ ngành. Hỗ trợ phát triển ngành, nghề để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các hợp tác xã mía gắn với chăn nuôi bò,... Hình thành và phát triển các vùng sản xuất chuyên canh tạo nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến. Đối với cây mía nâng cao năng suất và tăng đầu tư qua giá thu mua mía; nâng năng suất cây mì và chỉ trồng trong vùng qui hoạch và thực hiện quy trình trồng xen cây họ đậu để chống xói mòn và tăng độ phì cho đất. Trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng, chú ý trồng rừng phòng hộ, hỗ trợ trồng rừng kinh tế, phát triển các loại cây có giá trị cao đáp ứng được nhu cầu trong tương lai. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản, trọng tâm là nuôi tôm, đồng thời mở rộng nuôi cá nước ngọt ở những vùng có điều kiện. Hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho dân. Phấn đấu giá trị sản xuất nông lâm ngư tăng khoảng 4,5-5%, trong đó nông nghiệp tăng 4-4,5%, lâm nghiệp tăng 6-7%, thuỷ sản tăng 6,5-7,5%

 

3. Phát triển các ngành dịch vụ:

 

Trong năm 2007 phải tạo được sự phát triển mạnh mẽ các ngành dịch vụ cả về số lượng và chất lượng. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 20% (khoảng 7.900 tỷ đồng) so với năm 2006, tổng doanh thu du lịch tăng 33% (120 tỷ đồng). Tổ chức thực hiện Đề án Phát triển du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2006-2010.

 

Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng tại các Khu du lịch Mỹ Khê, Sa Huỳnh và tuyến du lịch theo dòng nhật ký Đặng Thuỳ Trâm. Nghiên cứu các giải pháp thu hút nhiều nhà đầu tư vào các khu du lịch này. Các huyện, thành phố chủ động đầu tư và xúc tiến thu hút đầu tư vào các khu, điểm du lịch thuộc địa bàn địa phương mình trên cơ sở quy hoạch được duyệt.

 

Tiếp tục phát triển nhanh các loại dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ công nghệ thông tin, đồng thời có biện pháp chấn chỉnh một số loại hình dịch vụ này. Ngoài ra cần chú trọng thêm những loại hình dịch vụ mới để phục vụ nhu cầu cho sự phát triển mạnh mẽ Khu kinh tế Dung Quất.

 

Thường xuyên rà soát, đánh giá tình hình cung cầu hàng hoá trên thị trường. Chú trọng đầu tư phát triển hệ thống chợ trong tỉnh.

 

4. Kinh tế đối ngoại:

 

Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng cường công tác xúc tiến kêu gọi đầu tư, thực hiện Đề án hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh xuất khẩu. Khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, nâng tỷ trọng hàng hoá qua chế biến có chất lượng cao để xuất khẩu, giảm dần tỷ trọng hàng hoá gia công và hàng hoá bán qua thị trường trung gian.

 

5. Đầu tư phát triển:

 

         5.1. Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển, chú trọng việc huy động vốn từ quỹ đất. Tập trung vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp tỉnh, cụm công nghiệp, làng nghề , cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố Quảng Ngãi, hạ tầng các khu du lịch, các dự án giảm nhẹ tác động của thiên tai.

 

Dự kiến tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội năm 2007 khoảng 16.900 tỷ đồng. Bao gồm:

 

1. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước: 1.933 tỷ đồng, trong đó:

 

a) Tỉnh quản lý 1.233 tỷ đồng:

 

- Vốn trong nước 1.008 tỷ đồng: Trung ương giao 573,7 tỷ đồng, địa phương cân đối 40 tỷ đồng, vốn xổ số kiến thiết 17 tỷ đồng, vốn trái phiếu chính phủ 413,3 tỷ đồng (đường Di Lăng - Trà Trung 43,9 tỷ đồng, Tái định cư Hồ Nước Trong: 100 tỷ đồng, 8 hồ thuỷ lợi khác: 60,4 tỷ đồng, đường giao thông đến trung tâm xã: 9 tỷ đồng, Đường Trà My - Trà Bồng - Dung Quất: 200 tỷ đồng).

- Vốn ngoài nước (ODA) 225 tỷ đồng, trong đó phần Trung ương giao 111 tỷ đồng.

 

b) Trung ương đầu tư trên địa bàn 700 tỷ đồng (Khu Kinh tế Dung Quất, Hồ Nước trong và các dự án khác).

 

2. Vốn đầu tư thuộc các doanh nghiệp nhà nước khoảng 12.700 tỷ đồng, trong đó nhà máy lọc dầu 12.000 tỷ đồng.

 

3. Vốn dân cư và các thành phần kinh tế khác 1.800 tỷ đồng.

 

4. Vốn tín dụng đầu tư phát triển khoảng 300 tỷ đồng.

 

5. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khoảng 200 tỷ đồng.

 

- Dự kiến những công trình trọng điểm năm 2007:

 

1.   Công trình Bệnh viện đa khoa tỉnh.

 

2.       Kết cấu hạ tầng đô thị thành phố Quảng Ngãi.

 

3.       Hợp phần Di dân tái định cư và đường Di lăng - Trà Trung thuộc Dự án Hồ chứa nước Nước Trong.

 

4.       Hạ tầng 2 khu công nghiệp Tịnh Phong và Quảng Phú và một số cụm công nghiệp, làng nghề có khả năng phát huy hiệu quả.

5.  Trường Cao đẳng dạy nghề tỉnh.

 

6.  Trường Đại học Phạm Văn Đồng.

 

7.  Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh.

 

8.  Khu dân cư trục đường Bàu Giang - Cầu Mới.

 

9.  Đường Dung Quất - Trà Bồng - Trà My.

 

Tập trung làm việc với các Bộ, ngành Trung ương để sớm triển khai một số công trình lớn như Thuỷ điện Dakring, Trường Đại học Tài chính - Kế toán trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán; Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh, Trường Đại học Phạm Văn Đồng (Tỉnh thực hiện có sự hỗ trợ vốn của Trung ương).

 

5.2. Các Khu công nghiệp tỉnh: Đẩy nhanh tốc độ đầu tư cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp, nhanh chóng đầu tư hệ thống cấp nước và xử lý nước thải tại các Khu Công nghiệp; khẩn trương hoàn thành bàn giao mặt bằng cho Nhà máy Bia Sài Gòn - Quảng Ngãi.

 

Rà soát, điều chỉnh bổ sung cơ chế chính sách thu hút đầu tư vào các KCN phù hợp với tình hình hiện nay, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

 

5.3. Khu Kinh tế Dung Quất: Phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất trong việc tăng cường công tác xúc tiến đầu tư; tăng cường quản lý nhà nước về đất đai đúng pháp luật; có giải pháp và chính sách hỗ trợ, di dân và tái định cư để các hộ dân trong diện di dời, giải phóng mặt bằng khi đến nơi tái định cư có cuộc sống ổn định và cải thiện hơn trước, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sớm có mặt bằng để triển khai dự án đã được cấp phép. 

 

6. Thu chi ngân sách:

 

Năm 2007 là năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách mới theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Phấn đấu thu ngân sách 1.162,1 tỷ đồng; trong đó các nguồn thu chủ yếu như: Từ DNNN TW 215 tỷ đồng (tăng 7,5%), từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 540 tỷ đồng (tăng 38,6%), từ khu vực ngoài quốc doanh 127 tỷ đồng (tăng 21%),… Chi ngân sách địa phương 1.967,177 tỷ đồng (trong đó hỗ trợ có mục tiêu và Chương trình mục tiêu 463,98 tỷ đồng).

 

 

7. Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước:

 

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân, trọng tâm là cổ phần hoá theo đề án bổ sung được phê duyệt tại Quyết định số 134/2005/QĐ-TTg ngày 06/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2007, hoàn thành dứt điểm sắp xếp đổi mới 4 doanh nghiệp còn lại theo lộ trình sắp xếp do Chính phủ quy định; thành lập khoảng 400 doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh khoảng 1.600 doanh nghiệp.

 

 

8. Về phát triển Kinh tế tập thể:

 

Năm 2007, phát triển thêm 07 HTX, nâng tổng số hợp tác xã toàn tỉnh lên 273 đơn vị. Tiếp tục chấn chỉnh và có những hỗ trợ cần thiết, phấn đấu thực hiện trong năm có 36% HTX đạt loại khá, 55% đạt trung bình và 9% yếu. Thu nhập bình quân trong năm của một lao động khoảng 5,5 triệu đồng.

 

9. Các lĩnh vực xã hội:

 

9.1. Giáo dục và đào tạo: Tiếp tục củng cố kết quả và duy trì phổ cập GDTH và chống mù chữ trong những năm qua; kế hoạch tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi năm 2007: Tiểu học đạt 91%, THCS đạt 90%, THPT đạt 51% học sinh.Chú trọng phát triển giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

 

Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về sách giáo khoa, sách giáo viên, đồ dùng dạy học, thiết bị thực hành phục vụ cho triển khai đại trà thay sách giáo khoa lớp 5 và lớp 10; tăng cường công tác hướng nghiệp, dạy nghề, phát triển giáo dục THCN.

 

         Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục, phấn đấu xây dựng trường chuẩn ở tất cả các ngành học. Nâng cao chất lượng giảng dạy và đội ngũ giáo viên đáp ứng xây dựng trường chuẩn Quốc gia đúng tiến độ (kế hoạch năm 2007, tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia  Mầm non 4,5%, Tiểu học 38,1%, THCS và THPT  22,3%). Hoàn thành phổ cập THCS trong toàn tỉnh. Đẩy mạnh thực hiện đề án kiên cố hoá trường, lớp học (giai đoạn II).

 

 9.2. Dân số - Y tế:

 

Tiếp tục thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,01%, mức giảm tỷ lệ sinh 0,05%, quy mô dân số đạt 1.306.000 người. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàn dân; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 26%. Hoàn thành Bệnh viện đa khoa tỉnh 600 giường, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Tâm thần,…

 

9.3. Giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, chính sách người có công và bảo trợ xã hội:

 

Tiếp tục triển khai các chương trình, dự án cho vay giải quyết việc làm và đề án xuất khẩu lao động. Phấn đấu tạo việc làm và tăng thêm việc làm cho khoảng 33.000 lao động. Thực hiện tốt các chính sách thương binh - xã hội, các hoạt động cứu trợ xã hội, thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng đối tượng chính sách xã hội. Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 25,44%.

 

9.4. Văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình và thể dục thể thao:

 

Tiếp tục thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Phấn đấu có 90% hộ gia đình,  65% thôn- tổ dân phố, 97% cơ quan đạt chuẩn văn hoá; 21% dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, 15% gia đình thể thao. Hoàn thành Khu lưu niệm bác Phạm Văn Đồng.

           

Nâng cao thời lượng, chất lượng các chương trình phát thanh và truyền hình; tăng cường cơ sở vật chất, hiện đại hoá hệ thống kỹ thuật, công nghệ; đảm bảo năm 2007 tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 99%, tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 94%; tỷ lệ số dân được nghe đài 97%, xem truyền hình 90%.

 

 

9.5. Khoa học công nghệ:

 

Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học, lựa chọn đề tài theo các mục tiêu ưu tiên của tỉnh; thực hiện đề tài theo đơn đặt hàng để khi đề tài được nghiệm thu có thể áp dụng vào thực tiễn, đặc biệt là ứng dụng các kết quả nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi, có năng suất và gía trị kinh tế cao, phục vụ cho yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn; khuyến khích các thành phần kinh tế ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và thành tựu khoa học - công nghệ cho các địa bàn nông thôn,vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

 

10. An ninh quốc phòng:

 

Chấp hành nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời, hiệu quả; giữ vững an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn các mục tiêu trọng điểm, địa bàn đóng quân,… Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, tổ chức kiểm tra, kiểm soát địa bàn, tiến hành công tác vận động quần chúng ở các vùng trọng điểm; xây dựng thực lực chính trị cơ sở. Tuyển chọn công dân nhập ngũ đúng qui trình, đạt 100% chỉ tiêu. Tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ để tiến tới ngăn chặn và giảm tai nạn giao thông. Tiếp tục quan tâm chỉ đạo công tác phòng chống ma túy, mại dâm, AIDS, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em.

 

IV. Các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch 2007:

 

         Quán triệt Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII, các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy và Nghị quyết HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 của tỉnh. Trong đó, phải tập trung ưu tiên mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ đột phá (phát triển công nghiệp và phát triển nguồn nhân lực) và 8 chương trình trọng điểm. Trên tinh thần đó, trong kế hoạch năm 2007, cần triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

 

1. Tiếp tục giữ vững sự thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Kiểm tra đôn đốc thường xuyên trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện các công tác trọng điểm của tỉnh.

 

2. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước và sự phối hợp giữa UBND tỉnh với Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất trong quá trình quản lý đầu tư phát triển Khu Kinh tế Dung Quất, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động của các nhà đầu tư nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển Khu Kinh tế Dung Quất theo đúng Qui hoạch, kế hoạch được phê duyệt; tích cực phối hợp với các ngành liên quan sớm bàn giao mặt bằng cho các dự án lớn như Tycons, Doosan; chủ động phối hợp cùng chủ đầu tư khắc phục khó khăn để bù phần chậm  tiến độ xây dựng NM lọc dầu số 1 Dung Quất.

 

Thành lập Ban quản lý phát triển các Khu đô thị mới tại Dung Quất, làm cơ sở để tổ chức thực hiện quản lý khu đô thị mới Vạn Tường và Dốc Sỏi theo đúng tinh thần Nghị định 02/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Tăng cường cán bộ chuyên trách phục vụ Khu kinh tế Dung Quất. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo công nhân có trình độ kỹ thuật cao.

 

3. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh công tác xúc tiến kêu gọi đầu tư; thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp. Rà soát lại các loại giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề kinh doanh, đăng ký kinh doanh, chứng nhận đầu tư, giao đất, thẩm định và phê duyệt dự án, cấp phép xây dựng, nộp thuế, xuất nhập khẩu,... để loại bỏ những quy định phiền hà, gây chậm trễ, ách tắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

 

4. Tiếp tục đổi mới chính sách đầu tư và công tác qui hoạch, kế hoạch,  chấn chỉnh các ban quản lý dự án đầu tư và xây dựng, các tổ chức tư vấn đầu tư của tỉnh theo hướng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, bố trí cán bộ đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất và năng lực điều hành. Chủ đầu tư phải thực hiện nghiêm túc chế độ trực báo công trình, báo cáo tiến độ thực hiện các dự án đầu tư.

 

          Thực hiện nghiêm công tác giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định. Triển khai thực hiện quy chế giám sát cộng đồng. Để tạo điều kiện cho các địa phương có công trình tham gia giám sát dự án, các chủ đầu tư phải công khai danh mục công trình trên địa bàn địa phương đó. Báo cáo rõ những nội dung cơ bản của dự án với địa phương trong quá trình khảo sát địa điểm, cấp đất lập dự toán đền bù.

 

         Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các khu tái định cư để giải quyết nơi ở mới cho người dân trong khu vực bị giải toả trước khi xây dựng các công trình.

 

5. Tận dụng mọi cơ hội trong điều kiện nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO) để mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đối phó với những thách thức đang đến, nhất là vấn đề cạnh tranh, thị trường và thể chế, chính sách. 

 

6. Về Công nghiệp: Thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư vào Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để thu hút các nhà đầu tư. Đầu tư hạ tầng kỹ thuật các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp - làng nghề truyền thống để thu hút các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất ra hàng hoá có tính cạnh tranh cao.

 

7. Về nông, lâm, ngư nghiệp: Ổn định diện tích lúa từ 03 vụ sang 02 vụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong thâm canh, chọn giống mới để tăng năng suất, chất lượng, giữ vững diện tích lúa, mì, vận động nhân dân và có cơ chế để tăng diện tích mía, đồng thời đẩy mạnh việc thâm canh để tăng năng suất, chất lượng cung ứng đủ cho công nghiệp chế biến. Tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.

 

         Đẩy mạnh trồng mới và chăm sóc rừng đầu nguồn, mở rộng diện tích rừng nguyên liệu. Đẩy nhanh việc sắp xếp lại nông, lâm trường, gắn với việc giao rừng và đất lâm nghiệp. Hoàn thành việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, gắn với việc thực hiện chương trình 5 triệu ha rừng. Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển trồng rừng. Xử lý kiên quyết và có hiệu quả nạn phá rừng và chống người thi hành công vụ bảo vệ rừng.

 

8. Trực báo thường xuyên, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo và các công trình lớn, công trình trọng điểm, giải quyết việc làm, đề án cải thiện nhà ở cho người có công với cách mạng, đề án xoá nhà tạm cho người nghèo. Tiếp tục thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực y tế, giáo dục,... Triển khai hoàn thành phổ cập THCS. Tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, kết hợp lựa chọn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trẻ có triển vọng để từng bước hình thành đội ngũ cán bộ chiến lược của tỉnh. 

 

         9. Đẩy mạnh việc thực hiện tốt Nghị quyết 01- NQ/TU của Tỉnh uỷ trên cơ sở xây dựng cơ chế, chính sách nhất quán và đồng bộ các biện pháp như: thực hiện phân cấp mạnh mẽ về quản lý cán bộ và quản lý kinh tế; quản lý ngân sách trong đầu tư phát triển và chi thường xuyên trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của chính quyền các cấp; xây dựng chính sách đổi mới, thay thế cán bộ, trước mắt thực hiện ở một số địa phương, đơn vị như xã, phường, ngành giáo dục, ngành y tế và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

 

         Tăng cường xây dựng kỷ luật, kỷ cương hành chính. Chỉ đạo tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, trước hết là thực hiện tốt cơ chế “một cửa”; từng bước nghiên cứu xây dựng cơ chế “một cửa” liên thông thực hiện điểm ở một số đơn vị. Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng./.

 

 

                   TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

                        CHỦ TỊCH                         

(Đã ký)

 

 

 

Nguyễn Xuân Huế

 

 

 

[ Trở về |  Đầu trang ]

Website Sở Ngành

Thông báo - Báo cáo
Quy định cần biết

Truy cập:7393614

Thông Tin Cần Biết


UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương xây dựng dự án Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn 2008-2015, trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt trước ngày 30/10/2010.

 

Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý cho Ban An toàn giao thông tỉnh mua khoảng 1.000 cặp áo phao để cấp phát cho học sinh nghèo trên địa bàn tỉnh đi học phải qua sông, suối.

 

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở liên quan và UBND các huyện, thành phố kiểm tra tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/9/2010.
 


Get the Flash Player to see this player.
Hình ảnh
Vietnam Software Outsourcing Vietnam Software Development