|
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI |
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
|
|
|
Số: 55/BC-UBND |
|
Quảng Ngãi, ngày 12 tháng 7 năm 2006
|
|
BÁO CÁO
Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
5 năm 2001 - 2005 và phương hướng nhiệm vụ,
chỉ tiêu và giải pháp chủ yếu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH 5 NĂM 2001 -2005
Trong quá trình thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 của tỉnh có những thuận lợi và khó khăn nhất định.
* Thuận lợi:
- Kinh tế thế giới tiếp tục phát triển, kinh tế khu vực được ổn định và phục hồi. Trung ương đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo thuận lợi cho khu vực miền Trung.
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển với tốc độ nhanh, tác động tích cực đến việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư giai đoạn 1995 – 2000 và đang đầu tư đã và sẽ phát huy tác dụng tích cực góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Nhiều cơ chế chính sách để thu hút đầu tư được ban hành trong giai đoạn này, nhất là từ năm 2002, 2003.
* Khó khăn:
- Việc triển khai dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất chậm, gây tâm lý không yên tâm cho cán bộ, nhân dân dân và các nhà đầu tư ảnh hưởng lớn đến quá trình thu hút đầu tư của tỉnh.
- Xuất phát điểm của nền kinh tế tỉnh còn thấp, các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế còn hạn chế; vị trí của tỉnh cách xa các trung tâm kinh tế, thương mại lớn.
- Thiên tai, lũ lụt, hạn hán hàng năm; hậu quả lũ lụt năm 1999 đã tàn phá mùa màng, cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội chưa khắc phục được hết.
- Thiết bị lạc hậu, sản phẩm cùng loại sức cạnh tranh yếu, giá cả một số mặt hàng nông sản, vật tư thiết yếu (thép xây dựng, phân bón,...) biến động không thuận lợi.
- Tính ỷ lại, trì trệ còn lớn; phát huy nội lực chưa cao.
Trước tình hình trên, tỉnh ta đã phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội đã đề ra. Kết quả đạt được thể hiện ở một số mặt như sau:
I. Kết quả đạt được.
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân.
Tốc độ phát triển kinh tế bình quân giai đoạn 2001 – 2005 đạt 10,3%. Tốc độ phát triển kinh tế hàng năm tăng khá, đặc biệt từ năm 2002 trở lại đây tăng ở “2 con số” (năm 2001: 8%, năm 2002: 10,6%, năm 2003: 10,5%, năm 2004: 10,6%, ước năm 2005: 11,7%). GDP bình quân đầu người năm 2000 là 2,628 triệu đồng (192 USD), năm 2005 khoảng 5,139 triệu đồng (325 USD; KH đến năm 2005 từ 280-300 USD).
2. Cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng ngày càng giảm tỷ trọng ngành nông lâm ngư, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng.
- Nông lâm ngư nghiệp: Từ 41,9% giảm còn 34,8% (KH đến năm 2005 : 34-35%).
- Công nghiệp - xây dựng: Từ 21,58% tăng lên 30% (KH đến năm 2005: 30-31%)
- Dịch vụ: Từ 36,5% giảm còn 35,2% (KH đến năm 2005: 34-35%).
3. Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp.
Gía trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng bình quân 6,9% (KH 5-5,5%)
a. Về Nông nghiệp.
Gía trị sản xuất tăng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 5,8%. Tỷ trọng trồng trọt từ 67,8% năm 2001 giảm còn 66,1% năm 2005, chăn nuôi từ 26,7% năm 2001 lên 30% năm 2005.
Từ 2001 - 2005, năng suất các loại cây trồng tăng: Lúa từ 38,5 tạ/ha lên 48,9 tạ/ha. Đạt được kết quả trên là do chủ trương của Tỉnh chuyển diện tích lúa từ 3 vụ sang 2 vụ ăn chắc, đã chuyển đổi 22.065 ha lúa từ 3 vụ sang 2 vụ, vượt 2.065 ha so với kế hoạch. Riêng đối với mía cây giảm qua các năm do tình hình giá cả thị trường giảm nên nông dân chuyển sang canh tác các loại cây khác, sản lượng mía cây năm 2005 khoảng 354,9 ngàn tấn (KH đến năm 2005 từ 850-900 ngàn tấn). Sản lượng lương thực 2005 đạt 411,4 ngàn tấn, tăng bình quân 4,1%/năm, (KH đến năm 2005 từ 370-380 ngàn tấn). Sản lượng lương thực bình quân từ 276,6 kg/người năm 2000 lên 322kg/người. Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất canh tác từ 13,9 triệu đồng năm 2001 tăng lên 18,1 triệu đồng năm 2005.
Đến năm 2005, đàn trâu 48.283 con; đàn bò 243.714 con, tỷ lệ bò lai Sind tăng từ 20% năm 2001 lên 30% năm 2005 so với tổng đàn; đàn lợn 576.602 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 43.831 tấn, tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 8%/năm.
b. Về Lâm nghiệp.
Gía tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 5,5%. Đến năm 2005 đã trồng 32.181 ha rừng tập trung; khoanh nuôi tái sinh 16.325 ha; bảo vệ và chăm sóc là 95.479 ha; độ che phủ rừng năm 2000 là 27,6%, năm 2005 là 34,5% (KH đến năm 2005 là 35%).
c. Về Thủy sản.
Giá trị sản xuất tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 10%. Tổng công suất tàu thuyền tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 17,7%. Sản lượng thuỷ sản (gồm đánh bắt và nuôi trồng) năm 2001 là 70.014 tấn, năm 2005 là 91.199 tấn (KH đến 2005 là 85.000-90.000 tấn). Diện tích nuôi tôm năm 2001 là 629 ha, năm 2005 là 730 ha (KH đến năm 2005: 1.200-1.500 ha); sản lượng tôm năm 2001 là 902 tấn, năm 2005 là 3.005 tấn (KH đến 2005: 2.200-2.500 tấn). Thủy sản chế biến năm 2001 là 2.681 tấn, năm 2005 là 3.611 tấn.
Trong giai đoạn này, đã hình thành được mô hình nuôi tôm trên cát, tuy vậy sản lượng nuôi trồng hằng năm tăng chậm, tình trạng tự phát trong nuôi trồng thủy sản còn phổ biến, dịch bệnh tôm chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu, kịp thời; một số dự án nuôi tôm do vốn ngân sách hỗ trợ phần hạ tầng chính đã triển khai nhưng việc hình thành các tổ chức kinh tế tập thể để huy động các nguồn vốn đầu tư và quản lý vận hành, khai thác rất lúng túng. Năng lực chế biến và dịch vụ thủy sản phát triển chưa tương xứng. Đã và đang triển khai xây dựng các công trình phục vụ cho ngành thủy sản như: Cảng cá Sa Huỳnh, Bến neo đậu tàu thuyền Tịnh Hòa; Vũng neo đậu tàu thuyền và khu dịch vụ hậu cần đảo Lý Sơn, và đang chuẩn bị thủ tục kêu gọi đầu tư một số dự án khác.
d. Kinh tế trang trại.
Kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển. Hiện toàn tỉnh có trên 400 trang trại, với qui mô vừa và nhỏ, thu nhập bình quân 1 trang trại khoảng 50 triệu đồng/năm, trong đó có một số trang trại có mức thu từ 100 - 200 triệu đồng/năm. Kinh tế vườn tiếp tục phát triển
e. Tài nguyên và môi trường.
Đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh giai đoạn 2000-2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 1426/QĐ-TTg ngày 06/11/2001. Đến năm 2005, hoàn thành quy hoạch sử dụng đất 10 huyện, thành phố (Thành phố Quảng Ngãi, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Đức Phổ, Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng).
Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2001-2005 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 514/QĐ-TTg ngày 01/7/2002, giai đoạn 2001-2005 là 44.860 ha, đạt 80,1% kế hoạch.
Từ năm 2001-2005 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đạt 96,75%, đất ở nông thôn đạt 97,7%, đất ở đô thị đạt 78,8%, đất lâm nghiệp đạt 43,2%.
4. Công nghiệp.
Giá trị sản xuất tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 15%, trong đó công nghiệp quốc doanh tăng bình quân 12,3%, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 19,3%, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,5%.
Các sản phẩm tăng khá với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm giai đoạn 2001-2005: Đường RS tăng 4,3%, nước khoáng tăng 5,7%, bia tăng 20,6%, đá xây dựng các loại tăng 26,6%, tinh bột mì tăng 46,4%, thủy sản chế biến tăng 17,5%,...
Qua các cơ chế chính sách để thu hút đầu tư, số lượng dự án triển khai hoạt động ở các khu công nghiệp tỉnh tăng lên hàng năm. Từ năm 2000 trở về trước có 20 dự án đang hoạt động, với 4.202 lao động. Từ 2001-2005 tăng 48 dự án đang hoạt động, đồng thời 28 dự án đang triển khai xây dựng và chuẩn bị xây dựng; tỷ lệ lấp đầy Khu công nghiệp Quảng Phú là 75%, Khu công nghiệp Tịnh phong là 67,8%.
Đến năm 2005, đã phê duyệt qui hoạch 8 cụm công nghiệp – làng nghề ở các huyện, thành phố.
Đến cuối năm 2005, tại Khu kinh tế Dung Quất, số dự án được cấp phép đầu tư là 70 dự án, với tổng vốn đầu tư khoảng 49.757 tỷ đồng; trong đó có 27 dự án đi vào hoạt động sản xuất.
Nhìn chung giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh trong những năm qua có mức tăng khá; công nghiệp quốc doanh tăng trưởng nhanh, góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp của tỉnh phát triển còn chậm, chưa vững chắc. Trong giai đoạn này giá trị sản xuất của ngành còn phụ thuộc nhiều vào giá trị sản xuất của Công ty Đường mà chủ yếu là sản phẩm đường. Cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu tạo hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư; các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh còn ít so với tổng số dự án được cấp phép đầu tư; một số dự án quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, hoạt động chưa hiệu quả.
5. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2001-2005 khoảng 19.289 tỷ đồng tăng bình quân hàng năm 30,4 %. Trong đó vốn kinh tế nhà nước tăng 36,4%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân 22,6%/năm.
Đã tiến hành xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu. Giai đoạn 2001-2005 đã hoàn thành và đang triển khai một số công trình, dự án lớn như: Đường Trà Bồng - Trà Phong (giai đoạn 1 và 2), cầu Cộng Hòa, Nhà máy tinh bột mỳ Sơn Hà, Nhà máy muối Sa Huỳnh; kết cấu hạ tầng đô thị thành phố Quảng Ngãi, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, Quảng trường tỉnh, Bệnh viện Đa khoa 600 giường, các công trình thuộc Chương trình Biển đông Hải đảo, các dự án về nuôi trồng thủy sản, các dự án về giống lúa, mía, mì, tôm, các dự án ODA,… Đã phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương triển khai các dự án khác như: cầu Trà Khúc 2, cầu sông Vệ, cầu Cây Bứa, hồ Núi Ngang, triển khai thực hiện chuẩn bị đầu tư trường Đại học Phạm Văn Đồng,…
Về cơ bản, đầu tư phát triển giao thông nông thông và miền núi đã đạt kế hoạch đề ra. Đến nay 100% tuyến đường từ huyện đến trung tâm các xã đồng bằng được nhựa hóa, cứng hoá; trên 1.300 km đường giao thông được đưa vào sử dụng, trong đó nhựa hoá, cứng hoá đường tỉnh 329 km, đường huyện 412 km và đường xã 484 km. Đã đầu tư gần 400 công trình thuỷ lợi các loại, kiên cố được 395 km kênh mương, 03 Trung tâm Y tế và 1 Bệnh viện Quân dân y với 470 giường bệnh,…Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện từ 79% năm 2001 lên 93% năm 2005.
Tuy nguồn vốn đầu tư toàn xã hội và vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước có tăng hàng năm nhưng chưa đủ sức tác động thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; việc huy động vốn trong dân còn khó khăn, huy động ngày công lao động nghĩa vụ còn thấp.
6. Thương mại dịch vụ và kinh tế đối ngoại.
a. Thương mại dịch vụ.
Thương mại phát triển khá, bảo đảm nhu cầu cung ứng hàng hóa trong tỉnh và các mặt hàng thiết yếu ở miền núi. Hoạt động vận tải, thông tin liên lạc, ngân hàng đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 11,1%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ giai đoạn 2001-2005 tăng 17,2%.
Khối lượng luân chuyển hàng hóa (không kể vận tải đường sắt) giai đoạn 2001-2005 tăng 6,7%, khối lượng luân chuyển hành khách giai đoạn 2001-2005 tăng 0,3%. Số điện thoại bình quân/100 dân từ 2,6 máy năm 2001 lên 10,6 máy năm 2005.
Doanh thu du lịch tăng từ 36,8 tỷ năm 2001 lên 50 tỷ năm 2005 (KH đến năm 2005 từ 60 - 70 tỷ), tăng bình quân hàng năm 2,7%.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 là 6,3 triệu USD, tăng lên 31 triệu USD năm 2005 (KH đến năm 2005 từ 25 - 30 triệu USD), tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 là 30,4%. Kim ngạch nhập khẩu năm 2000 là 6,9 triệu USD, năm 2005 là 9,5 triệu USD.
Hoạt động xuất khẩu tuy còn có mặt hạn chế, nhưng cũng có sự chuyển biến khá tích cực trong giai đoạn này, nhất là những năm nửa nhiệm kỳ còn lại, lần đầu tiên sau nhiều năm đã đạt được kim ngạch xuất khẩu 31 triệu USD. Tuy vậy, giá trị vẫn còn nhỏ bé; các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhìn chung qui mô nhỏ, thiết bị công nghệ lạc hậu, chưa đủ lực để đầu tư các công nghệ hiện đại, chưa năng động tìm kiếm thị trường. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước cho các doanh nghiệp còn quá ít trong công tác xuất nhập khẩu, tìm kiếm thị trường,...
b. Kinh tế đối ngoại.
Đến thời điểm này trên địa bàn tỉnh còn 06 doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp giấy phép, với tổng vốn đăng ký gần 13,4 triệu USD. Trong đó có Công ty Liên doanh đá Quảng Ngãi và Công ty APEX đang hoạt động, 04 Công ty đang trong quá trình triển khai các thủ tục sau cấp phép đầu tư.
Trong giai đoạn 2001-2005, tổng vốn ODA của các dự án đã, đang và sẽ triển khai khoảng 1.540 tỷ đồng, trong đó vốn kế hoạch giai đoạn 2001-2005 khoảng 600 tỷ đồng, thực hiện khoảng 597 tỷ đồng; một số dự án lớn như Chương trình phát triển nông thôn Quảng Ngãi, dự án Hạ tầng Cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng, các dự án sử dụng vốn JBIC, dự án Đa dạng hóa nông nghiệp, dự án ngành CSHT nông thôn ADB, dự án Y tế nông thôn, dự án Giảm nhẹ thiên tai,...
Vốn NGO: Tổng cộng các khoản viện trợ của các cá nhân, tổ chức phi chính phủ giai đoạn 2001-2005 khoảng 50 tỷ đồng.
Nhờ nguồn vốn ODA và NGO, nhiều công trình thuỷ lợi, giao thông, đường điện và trạm biến áp, trường học, cơ sở y tế đã được xây dựng mới hoặc nâng cấp, đáp ứng một phần nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, góp phần nâng cao điều kiện cho sản xuất, nâng cao điều kiện sống của dân cư chủ yếu ở vùng nông thôn.
Tổng vốn các dự án ODA và NGO triển khai trong giai đoạn 2001-2005 khoảng 647 tỷ đồng; trong đó về lĩnh vực nông - lâm nghiệp chiếm 58,5%, giao thông chiếm 25%, y tế - giáo dục chiếm 12%, còn lại là các lĩnh vực khác; về địa bàn miền núi 65%, đồng bằng 34%, khu vực đô thị 1%.
7. Tài chính.
- Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đạt và vượt kế hoạch đề ra, trong đó năm 2005 (không tính ghi thu ghi chi) là 529 tỷ đồng (năm 2001 là 201 tỷ đồng). Tỷ lệ thu ngân sách so với GDP (theo giá hiện hành) năm 2000 là 5,9%, năm 2005 là 8 % (cả nước 23,5%). Đã tạo được một số nguồn thu mới như thu từ xuất nhập khẩu, quỹ đất…
- Chi ngân sách địa phương năm 2005 là 1.561 tỷ đồng (năm 2001 là 851 tỷ đồng), giai đoạn 2001- 2005 tăng 16,1%. Chi ngân sách được thực hiện công khai dân chủ hơn, bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí, đáp ứng yêu cầu chi thường xuyên và tăng chi cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội.
Cơ sở vật chất ngành ngân hàng được tăng cường theo hướng hiện đại, hình thức huy động vốn đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Tốc độ huy động vốn tăng bình quân 17-18%. Doanh số cho vay tăng đều qua các năm, dư nợ tăng từ 1.561 tỷ đồng năm 2001 lên khoảng 3.000 tỷ đồng năm 2005. Công tác thanh toán được thực hiện nhanh chóng, nhờ các hình thức thanh toán truyền thống kết hợp với các hình thức mới, hiện đại như Online, ATM, thanh toán bù trừ điện tử,...
8. Tình hình sắp xếp đổi mới doanh nghiệp.
- Đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của 36 doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3. Một số doanh nghiệp được sắp xếp, đổi mới đã đi vào hoạt động ổn định, mở rộng thêm ngành nghề kinh doanh, đổi mới trang thiết bị để tăng năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động hiệu quả hơn trước.
Nhìn chung tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước đảm bảo theo quyết định phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước của Thủ Tướng Chính phủ, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại ở các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá và sắp xếp đổi mới như giải quyết tồn đọng về tài chính, công nợ, tổ chức bán tiếp cổ phần và phát hành thêm cổ phiếu, công tác quản lý Nhà nước tại doanh nghiệp còn lúng túng,....
- Đã cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho 29 doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là ưu đãi về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và có một số dự án xin ưu đãi vay vốn tín dụng Quỹ Hỗ trợ phát triển để trồng rừng, chăn nuôi bò, nuôi tôm,...
- Đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 891 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 1.995 tỷ đồng, trong đó 418 Doanh nghiệp tư nhân, 412 Công ty Trách nhiệm hữu hạn, 57 Công ty Cổ phần; đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 190 chi nhánh và 25 văn phòng đại diện; đã đăng ký thay đổi nội dung kinh doanh cho 1.050 lượt doanh nghiệp, trong đó có 215 lượt doanh nghiệp tăng vốn với số vốn tăng 365 tỷ đồng; giải thể 171 doanh nghiệp. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh là 970 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư 2.215 tỷ đồng.
Một số doanh nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã mạnh dạn đầu tư thiết bị mới, áp dụng tiến bộ khoa học; đầu tư vào những lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích như trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản, đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn các chủ doanh nghiệp trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt nên vi phạm Luật doanh nghiệp, Luật thuế và các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, quản lý doanh nghiệp còn yếu nhất là khâu hạch toán kế toán, thống kê; chưa chú ý đến vấn đề môi trường như xử lý nước thải, rác, bụi, tiếng ồn,...
- Đã chuyển đổi 270 Hợp tác xã, trong đó có 189 Hợp tác xã nông nghiệp, 81 Hợp tác xã phi nông nghiệp. Các Hợp tác xã sau khi chuyển đổi đã xác định rõ được công nợ, hoạt động hướng vào các dịch vụ theo nhu cầu của xã viên; đã định hình được hướng hoạt động. Tuy vậy, chỉ có một số Hợp tác xã kinh doanh dịch vụ hoạt động hiệu quả; loại hình Hợp tác xã nông nghiệp phần lớn hoạt động còn lúng túng, hiệu quả rất hạn chế. Luật Hợp tác xã đã ra đời nhưng chưa đi sâu vào thực tiễn.
9. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội.
a. Về Giáo dục Đào tạo.
Tiếp tục giữ vững kết quả xóa mù chữ và phổ cập Tiểu học, triển khai phổ cập THCS. Đến năm 2005, có 07 huyện, thành phố đồng bằng và huyện Lý Sơn, Minh Long được phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi với tỷ lệ xã, phường được công nhận đạt 80,5% (đối với 9 huyện, thành phố nói trên); có 7/7 huyện, thành phố đồng bằng và huyện miền núi Minh Long được phổ cập THCS với tỷ lệ xã, phường đạt 81,7%; như vậy đạt chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2005 là cơ bản hoàn thành phổ cập THCS, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi ở các huyện đồng bằng. Trong giai đoạn 2001-2005, số học sinh phổ thông đầu năm học giảm bình quân 0,5% chủ yếu số lượng học sinh tiểu học giảm do thực hiện chính sách giảm sinh và một phần chuyển đi nơi khác, bỏ học, ốm đau kéo dài,...(trong đó THPT tăng 8,5%; THCS tăng 5,3%; Tiểu học giảm 7,1%).
Chủ động thực hiện đề án xoá 400 phòng học tranh tre nứa lá; triển khai thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp học. Chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đạt khá; năm 2000: Tiểu học đạt 99,3%, THCS đạt 97,3%, THPT đạt 84,4%; năm 2005: Tiểu học xét công nhận 97,3%, THCS đạt 98,3%, THPT đạt 97,7%. Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học và cao đẳng ngày càng tăng, năm 2000 đạt 9%, năm 2005 đạt 15% so với số thí sinh dự thi. Trong những năm gần đây, số lượng học sinh giỏi của tỉnh đạt giải trong các kỳ thi Olimpic 30/4, Quốc gia có bước phát triển khá.
Đến năm 2005, tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia là 28,51% đối với cấp Tiểu học (KH đến 2005: 25%) và 17,14% đối với cấp THCS + THPT (KH đến năm 2005: 15%). Đến năm 2005, đạt tỷ lệ chuẩn hoá đội ngũ giáo viên: Mầm non là 87,4%, tiểu học 98,1%, trung học cơ sở 98,7%, trung học phổ thông 97,7%.
Công tác xã hội hóa giáo dục chuyển biến khá rõ, đến nay các huyện đồng bằng đều có trường THPT bán công, ngoài ra còn có 03 trường THPT dân lập ở Sơn Tịnh và thành phố Quảng Ngãi. Hệ trường mầm non dân lập được phát triển. Hầu hết các trường lớp được xây dựng ở đồng bằng đều có sự đóng góp của phụ huynh.
Tuy vậy, tình trạng học sinh bỏ học vẫn còn, riêng miền núi học sinh bỏ học có xu hướng tăng, việc dạy thêm, học thêm không đúng qui định vẫn còn xảy ra nhiều nơi.
b. Về Y tế - Dân số KHHGĐ.
Tỉnh đã chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện các Chương trình Quốc gia về y tế. Trong những năm qua tỉnh đã quan tâm đến việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác y tế, có những cơ chế chính sách khuyến khích đưa đội ngũ bác sĩ về các trạm y tế xã, phường để tăng cường công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Tỷ lệ số bác sĩ/10.000 dân tăng từ 3,71 bác sĩ năm 2001 lên 4,7% năm 2005; số trạm y tế có bác sĩ tăng từ 41% năm 2001 lên 70% năm 2005 (KH đến năm 2005 là 90%). Đã đầu tư xây dựng mới và đưa vào sử dụng 3 trung tâm y tế cấp huyện, đang triển khai xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh quy mô 600 giường, 02 bệnh viện chuyên khoa, một số Trung tâm y tế huyện và các cơ sở y tế khác. Tỷ lệ xã, phường có trạm y tế tăng từ 95% năm 2000 lên 98,9% năm 2005 (KH đến năm 2005: 100%).
Công tác khám chữa bệnh không ngừng được nâng cao, chú trọng hơn trong việc khám chữa bệnh miễn phí đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Tỉnh đã chỉ đạo kịp thời, chặt chẽ trong việc phòng chống bệnh SARS, dịch cúm gà; khống chế được các bệnh dịch nguy hiểm. Đến nay trên địa bàn tỉnh chưa có trường hợp nào tử vong do các loại dịch này gây ra.
Công suất sử dụng giường bệnh bình quân hàng năm khoảng 80%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 37% năm 2001 còn 29,4% năm 2005 ( KH đến năm 2005 dưới 30%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,35% năm 2001 còn 1,0% năm 2005 (KH đến năm 2005 là 1,15%).
Trong những năm qua, cơ sở vật chất ngành y tế được tăng cường, đội ngũ cán bộ làm công tác y tế thường xuyên được tỉnh quan tâm đào tạo, bồi dưỡng. Tuy vậy, vẫn còn một số mặt cần phải khắc phục, nhất là chất lượng khám chữa bệnh và y đức một số cán bộ của ngành, hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt là ở tuyến xã còn nhiều hạn chế.
c. Về văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao:
Chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình được đa dạng hóa về nội dung, phong phú về hình thức, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của địa phương và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư và gia đình văn hóa được phát triển sâu rộng, có tác dụng giáo dục, hình thành nếp sống văn hoá cá nhân, cộng đồng, đẩy lùi dần các tập tục lạc hậu. Phát huy qui chế dân chủ ở cơ sở, tạo sự đoàn kết thống nhất cao để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tỷ lệ đạt chuẩn văn hóa đến năm 2005: Hộ gia đình là 80% (KH đến năm 2005 từ 50 - 60%); thôn, tổ dân phố là 60% (KH đến năm 2005 từ 50 - 55%); cơ quan là 90% (KH đến năm 2005 trên 90%).
Hằng năm, bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn quảng cáo truyền hình, vốn hỗ trợ có mục tiêu của Trung ương, Tỉnh đã đầu tư cơ bản về cơ sở vật chất cho ngành Phát thanh Truyền hình. Tỷ lệ phủ sóng phát thanh từ 95% năm 2001 lên 97% năm 2005; tỷ lệ phủ sóng truyền hình từ 87% năm 2001 lên 92% năm 2005 (KH đến năm 2005 là 85%).
Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển khá. Số người thường xuyên tham gia luyện tập thể dục thể thao năm 2005 đạt 18,5% so với dân số toàn tỉnh; số gia đình thể thao năm 2005 đạt 14,2%.
Trong những năm qua, số lượng vận động viên của tỉnh đạt huy chương cấp Quốc gia không ngừng tăng lên, số huy chương các loại đạt 299 chiếc, trong đó 93 vàng, 93 bạc, 113 đồng. Đặc biệt các vận động viên của tỉnh đạt 7 huy chương tại các kỳ Seagames 21 và 22, Paragames 2.
d. Lao động - Thương binh xã hội.
Trong giai đoạn này, tỉnh đã xét duyệt và cho vay vốn quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm với tổng số tiền trên 32 tỷ đồng, cùng với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội khác, bình quân hàng năm tạo việc làm mới và thêm việc làm cho khoảng 30.000 lao động (KH bình quân hàng năm từ 30.000-32.000 lao động).
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2001 là 13,5% tăng lên 18,7% năm 2005. Tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm từ 24,7% năm 2000 còn 8,78% năm 2005 (KH đến năm 2005 còn từ 12-15%); đối với miền núi tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 60% năm 2000 còn 25,5% năm 2005 theo chuẩn cũ.
Hoạt động đền ơn đáp nghĩa, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt,... được triển khai dưới nhiều hình thức, kết hợp giữa chính sách của Nhà nước với sự hỗ trợ của nhân dân trong tỉnh, các tỉnh bạn, sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài. Qua 5 năm đã giải quyết hưởng các chế độ trợ cấp ưu đãi trên 35.000 người, nâng tổng số người đã được giải quyết hưởng chính sách người có công toàn tỉnh trên 120.000 người. Thông qua cuộc vận động “Toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và người có công với nước”, toàn tỉnh đã xây dựng mới và sửa chữa trên 1.600 nhà tình nghĩa (KH 1.600 nhà), với tổng số tiền trên 20 tỷ đồng.
10. Khoa học công nghệ.
Trong giai đoạn này, đã triển khai 64 đề tài nghiên cứu khoa học. Một số đề tài có giải quyết những vấn đề thiết thực trong sản xuất như: Nuôi tôm, trồng hành tỏi, sản xuất nấm,...Hỗ trợ các doanh nghiệp có thể tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng đã chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.
Mặt hạn chế của hoạt động khoa học công nghệ là chưa thật sự tập trung mạnh vào kinh tế nông nghiệp và nông thôn, chưa thúc đẩy mạnh mẽ việc áp dụng các công nghệ mới, hoạt động chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách Nhà nước, chưa tạo được nguồn kinh phí từ việc áp dụng các đề tài nghiên cứu khoa học. Số đề tài được nghiệm thu đưa vào sản xuất thử để nhân rộng còn quá ít.
11. Về an ninh quốc phòng.
Đã kịp thời quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về quốc phòng - an ninh, nhất là về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới và chiến lược an ninh quốc gia.
Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân tiếp tục được củng cố. Việc kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng và an ninh được gắn chặt. Công tác huấn luyện, phòng thủ sẵn sàng chiến đấu luôn được tăng cường.
Đã tập trung chỉ đạo xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Chỉ tiêu tuyển quân hằng năm đạt 100% kế hoạch. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm được chỉ đạo thực hiện kiên quyết, nhờ đó tội phạm hình sự giảm 46% so với nhiệm kỳ trước, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội quan trọng của địa phương.
Giáo dục ý thức cho nhân dân trong công tác an ninh trật tự, triển khai thực hiện tháng an toàn giao thông hằng năm, tuyên truyền Luật giao thông đường bộ trong các trường học, cơ quan,... Đến nay, về cơ bản ý thức chấp hành pháp luật, tham gia phòng chống tội phạm của nhân dân được nâng lên; hoạt động trấn áp tội phạm, ngăn chặn truyền đạo trái phép được tăng cường, các vụ án hình sự nguy hiểm được phát hiện và xử lý kịp thời. Số vụ tai nạn giao thông giảm từ 857 vụ năm 2001 còn 297 vụ năm 2005, nhưng số người chết tăng từ 99 người lên 167 người.
Đánh giá thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.
* Những chỉ tiêu đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch.
a. Về kinh tế:
- Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2005 khoảng 10,3% (KH bình quân từ 10 - 11%). GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt khoảng 325 USD (KH bình quân từ 280 - 300 USD).
- Giá trị sản xuất nông-lâm-ngư tăng bình quân 6,9 % (KH tăng bình quân: 5 - 5,5%).
- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 18,3 % (KH tăng bình quân: 18 -19%.
- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 10% (KH tăng bình quân: 9 - 10%).
- Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP đến năm 2005 :
+ Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp: 34,8% (KH đến năm 2005: 34 - 35%).
+ Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng: 30% (KH đến năm 2005: 30 - 31%).
+ Tỷ trọng các ngành dịch vụ: 35,2% (KH đến năm 2005: 34 - 35%)
- Sản lượng lương thực năm 2005 khoảng 411.400 tấn (KH đến năm 2005 từ 370.000 - 380.000 tấn).
- Độ che phủ của rừng đến năm 2005 khoảng 34,5% xấp xỉ đạt kế hoạch (KH đến năm 2005: 35%).
- Sản lượng thuỷ sản năm 2005: 91.199 tấn (KH đến năm 2005 từ 85.000 - 90.000 tấn).
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2005: 31 triệu USD (KH đến năm 2005 từ 25 - 30 triệu USD).
- Thu ngân sách đạt đạt Kế hoạch.
- Vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 19.289 tỷ đồng, (kế hoạch vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm từ 28.000 - 30.000 tỷ đồng, trong đó vốn nước ngoài trên 20.000 tỷ đồng (theo phương án có nhà máy lọc dầu)).
b. Chỉ tiêu xã hội:
- Giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm xuống khoảng 0,8%o (KH từ 0,4 - 0,5%0), tốc độ phát triển dân số vào năm 2005 còn 1,0% (KH đến năm 2005 còn 1,15%)
- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm mỗi năm khoảng 30.000 lao động (KH mỗi năm từ 30.000 - 32.000 lao động).
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 8,78% (chuẩn cũ) (KH đến năm 2005 còn 12 - 15%).
- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 5 tuổi 95% (KH thực hiện tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 5 tuổi).
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi xuống 29,4% vào năm 2005 (KH đến năm 2005 dưới 30%).
- 98,9% xã, phường có trạm y tế vào năm 2005 (KH đến năm 2005: 100%).
- 100% dân số đô thị (KH 100%) được dùng nước hợp vệ sinh vào năm 2005.
- Đến năm 2005, có 07 huyện, thành phố đồng bằng và huyện Lý Sơn, Minh Long được phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi với tỷ lệ xã, phường được công nhận đạt 80,5%; có 7/7 huyện, thành phố đồng bằng và Minh Long được phổ cập THCS với tỷ lệ xã, phường đạt 81,7% (KH đến năm 2005 cơ bản hoàn thành phổ cập THCS, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi ở các huyện đồng bằng). Xây dựng 28,51% trường tiểu học (KH đến năm 2005: 25%), 17,14% trường THCS + THPT đạt chuẩn quốc gia (KH đến năm 2005: 15%).
- Đến năm 2005, 100% xã có điện (KH đến năm 2005 là 100% xã); sử dụng máy điện thoại bình quân/100 dân là 10,6 máy (KH đến năm 2005: 3 - 3,5 máy)
- Đến năm 2005, Phủ sóng phát thanh 97%, truyền hình 92% toàn tỉnh (KH đến năm 2005: 85%).
- Đến năm 2005, đạt 80% hộ gia đình văn hoá (KH đến năm 2005: 50 - 60%), 60% thôn khối phố văn hoá (KH đến năm 2005: 50 - 55%), 90% cơ quan, đơn vị văn hoá (KH đến năm 2005: 90%).
* Những chỉ tiêu không đạt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.
a. Về kinh tế:
- Sản lượng mía cây năm 2005 khoảng 354.900 tấn (KH đến năm 2005 từ 850.000 - 900.000 tấn).
b. Chỉ tiêu xã hội: (chỉ 1 vế của chỉ tiêu)
- Đến năm 2005, 70% trạm y tế có bác sỹ (KH đến năm 2005: 90%).
- Đến năm 2005, 75% dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh (KH đến năm 2005: 80%).
* Đánh giá chung những thành tựu đã đạt được và nguyên nhân.
Quá trình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2005 của tỉnh, đã đạt được những kết quả quan trọng, các chỉ tiêu chủ yếu về cơ bản đạt kế hoạch đề ra, có 20/23 chỉ tiêu đạt và vượt chỉ tiêu, có 02 chỉ tiêu hoàn thành một vế so với kế hoạch đề ra.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao, đặc biệt là từ năm 2002 trở lại đây tốc độ tăng ổn định “2 con số”; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng.
Sản lượng lương thực tăng ổn định, do chủ trương của tỉnh kiên quyết chuyển đổi lúa từ 3 vụ sang 2 vụ, công tác giống cây trồng vật nuôi được chú trọng. Đây là một chỉ tiêu phát triển nổi trội về chất trong phát triển kinh tế của tỉnh. Sản lượng thủy sản khai thác hàng năm tăng lên, ngư dân đã chủ động đầu tư tàu thuyền có công suất lớn, mở rộng ngư trường đánh bắt. Trong lâm nghiệp, ngoài nguồn vốn Chương trình 661, vốn JBIC, vốn ODA, các doanh nghiệp dân doanh đã bắt đầu quan tâm đến việc trồng rừng, nên độ che phủ rừng được tăng lên và từng bước đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dăm xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ khá lớn.
Tỉnh đã phát triển công nghiệp lên miền núi để tận dụng tối đa vùng nguyên liệu, lao động tại chỗ, đồng thời tạo điều kiện từng bước giảm dần khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng. Đây là chủ trương đúng đắn của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh. Các Nhà máy công nghiệp được đầu tư, mở rộng nâng công suất để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhiều sản phẩm công nghiệp của tỉnh đã có chỗ đứng trên thị trường ngoài tỉnh. Thông qua các cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư của Tỉnh, các khu công nghiệp tỉnh, Khu Kinh tế Dung Quất đã từng bước thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp.
Kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, đến nay cơ bản các xã có đường ô tô đến trung tâm xã, đã có 100% tuyến đường từ trung tâm huyện đến các xã đồng bằng được nhựa hoá, cứng hoá, phong trào làm đường giao thông nông thôn, vỉa hè theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đang được nhân dân hưởng ứng. Nhiều công trình quan trọng của Tỉnh và Trung ương đã được triển khai trên địa bàn tỉnh. Song song với việc đầu tư phát triển kinh tế, Tỉnh còn chú trọng đến công tác xã hội, chăm lo đời sống sức khỏe, tinh thần của nhân dân, nhiều công trình phúc lợi xã hội được đầu tư; cơ sở vật chất trường lớp, chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng học sinh trong ngành giáo dục được quan tâm. Việc chăm lo cho các đối tượng chính sách, gia đình khó khăn ngày càng được chú trọng, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Thực hiện đề án nhà ở người có có công, đến cuối năm 2005 đã xây mới và sửa chữa trên 1.600 nhà. An ninh quốc phòng được giữ vững, công tác tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu trên giao.
Đạt được những thành tựu trên là kết quả của sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân trong tỉnh; là kết quả của sự cố gắng lớn trong đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy; sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, sự giúp đỡ của Bộ, ngành Trung ương. Những thành tựu đó đã tạo ra thế và lực mới, làm tiền đề cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở những năm tiếp theo.
* Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân.
Kinh tế tuy tăng trưởng với nhịp độ khá cao, nhưng chất lượng chưa cao, thiếu bền vững, chưa có sự chuyển biến rõ nét và có tính đột phá, giá trị sản xuất các ngành kinh tế còn nhỏ bé, cơ cấu kinh tế tuy đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng vẫn còn chậm.
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, việc phát triển vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tuy được quan tâm nhưng chưa có giải pháp hiệu quả nên diện tích, năng suất nhiều cây nguyên liệu chưa đạt chỉ tiêu, đặc biệt là cây mía, diện tích giảm, năng suất bình quân còn quá thấp; kinh tế biển có tiềm năng nhưng giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản vẫn chưa có vị trí xứng đáng trong tổng giá trị sản xuất của tỉnh, ngành công nghiệp phát triển chậm, chưa thật sự trở thành động lực của nền kinh tế.
Việc thu hút đầu tư vẫn còn khó khăn; đầu tư một số mục tiêu còn dàn trải. Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật tuy phát triển nhưng nhìn chung chưa đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; quản lý Nhà nước về qui hoạch, đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý đô thị còn nhiều yếu kém; nhiều dự án đầu tư xây dựng còn kéo dài, lãng phí, thất thoát.
Hoạt động xuất nhập khẩu tuy có phát triển, nhất là từ năm 2003 đến nay nhưng kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé.
Bên cạnh đó, lực lượng lao động hằng năm khá dồi dào nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp so với mức bình quân của cả nước, nhiều người phải đi tìm việc làm ở các thành phố lớn, lao động xuất khẩu còn rất thấp. Một số vấn đề bức xúc trên lĩnh vực xã hội chậm được giải quyết; đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, bãi ngang và một số khu tái định cư còn gặp nhiều khó khăn. Tệ nạn xã hội, quan liêu, tham nhũng chưa được đẩy lùi, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân.
* Nguyên nhân của những tồn tại trên:
- Các cấp, các ngành, các địa phương chưa phát huy hết vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mối quan hệ phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương chưa chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao.
Kết quả thực hiện cải cách hành chính còn hạn chế, kỷ luật kỷ cương hành chính chưa được thực hiện nghiêm túc.
Năng lực của một số cán bộ chưa đáp ứng trước yêu cầu đổi mới hiện nay, tính chủ động trong triển khai thực hiện còn thấp. Phát huy nội lực trong cán bộ và nhân dân chưa cao.
- Điểm xuất phát nền kinh tế của tỉnh thấp, những biến động không có lợi của giá cả, thị trường; tiến độ xây dựng Nhà máy lọc Dung Quất chậm.
- Quá trình tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án còn chậm.
- Trong đầu tư, một mặt do phải đảm bảo việc phát triển kinh tế-xã hội chung của tỉnh và thực hiện công bằng xã hội, mặt khác phải đầu tư cho các chương trình, dự án trọng điểm nhưng nguồn vốn có hạn, thị trường vốn chưa phát triển nên chưa bố trí vốn thoả đáng để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xác định. Một số công trình lớn kéo dài thời gian thực hiện làm giảm hiệu quả đầu tư.
II. Những bài học kinh nghiệm.
Qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 của tỉnh, rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:
Một là, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, phát huy vai trò trách nhiệm của tổ chức và cá nhân: Phải thường xuyên chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết trong Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; phát huy đồng bộ vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn với vai trò trách nhiệm cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý nhất là người đứng đầu; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ với chống chủ nghĩa cá nhân, phê phán mạnh trông chờ, ỷ lại, đề cao kỷ luật, kỷ cương, gắn với tinh thần và thái độ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của từng cán bộ công chức.
Hai là, đề ra chủ trương đúng, kịp thời chọn giải pháp hữu hiệu: Phải căn cứ vào các nguồn lực hiện có, khả năng sẽ có và xu hướng phát triển của đất nước, của thời đại để xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp hữu hiệu, đặc biệt chọn những nhiệm vụ đột phá để từ đó tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, tạo ra bước phát triển mạnh mẽ, làm đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ba là, tổ chức chỉ đạo thực hiện: Ngay từ năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 phải khẩn trương cụ thể hóa kế hoạch 5 năm bằng việc ban hành các cơ chế chính sách gắn với đẩy mạnh công tác tuyên truyền tạo sự nhất trí cao trong Đảng bộ và sự đồng thuận trong toàn xã hội. Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện phải bám vào nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát, đôn đốc, trực báo, sơ kết, tổng kết, gắn liền với chế độ khen thưởng, kỷ luật kịp thời, công bằng và nghiêm minh, đồng thời bổ sung những giải pháp nhằm khắc phục khiếm khuyết, uốn nắn những lệch lạc, bảo đảm cho kế hoạch 5 năm được thực hiện thắng lợi.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010
Năm năm đến, tình hình thế giới và khu vực sẽ diễn ra như nhận định của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, song tác động trực tiếp của tình hình trong nước và hoàn cảnh cụ thể của tỉnh là có tính quyết định. Đảng và Nhà nước đã có các chủ trương sát đúng để phát triển vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, đẩy nhanh tốc độ phát triển Khu Kinh tế Dung Quất, nhất là đã tập trung chỉ đạo xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Tuy nhiên, chúng ta phải tiếp tục đối mặt và phấn đấu vượt qua vượt qua những khó khăn thách thức do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, sự tác động của thiên tai, chất lượng và tính bền vững của sự tăng trưởng kinh tế chưa cao; trong khi đó nguồn lực mà trọng tâm là nguồn lực tài chính và đội ngũ cán bộ còn nhiều hẫng hụt, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
A. PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
I. Phương hướng mục tiêu tổng quát.
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng ngày càng cao; tiếp tục huy động mọi nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa tỉnh ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội cao và trình độ đạt mức trung bình so với cả nước, trong đó công nghiệp có bước phát triển nhảy vọt, đặc biệt là công nghiệp nặng, dịch vụ phát triển mạnh, nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hoá đa dạng và chất lượng. Cùng với Trung ương đẩy mạnh xây dựng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất, trọng tâm là hoàn thành đúng tiến độ xây dựng Nhà máy lọc dầu. Giảm nhanh các hộ nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp; phát triển văn hoá xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, giữ vững chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
II. Các chỉ tiêu chủ yếu.
1. Về kinh tế:
- Phấn đấu đạt mức tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 17-18%. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 950 - 1.000 USD.
- Giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng bình quân 4,5 - 5 %.
- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 32-33 %, trong đó:
+ Công nghiệp 41-42%;
+ Xây dựng 13-14%.
- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13 - 14 %.
- Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010:
+ Công nghiệp - xây dựng : 62-63%.
+ Dịch vụ : 22-23%.
+ Nông - lâm - ngư nghiệp : 15-16%.
- Tỷ trọng cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế chủ yếu đến năm 2010: Công nghiệp 14,61%, dịch vụ 21,59% và nông nghiệp 63,8%.
- Sản lượng lương thực năm 2010 đạt 420.000 tấn.
- Sản lượng mía cây năm 2010 đạt 500.000 tấn.
- Sản lượng thuỷ sản năm 2010 đạt 95.000 tấn.
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010: trên 100 triệu USD.
- Thu ngân sách năm 2010 trên 1.500 tỷ đồng.
- Vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 68.000 - 70.000 tỷ đồng.
- Số thuê bao điện thoại bình quân/100 dân năm 2010 đạt 30 máy.
2. Chỉ tiêu xã hội:
- Giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm xuống khoảng 0,4 - 0,5%0. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,02%.
- Đến năm 2010 có 80 - 85% hộ gia đình; 70 - 75% thôn, tổ dân phố; 90 - 95% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hoá.
- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm mỗi năm 33.000 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 28 - 30%.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 20% vào năm 2010 (theo chuẩn mới).
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20% vào năm 2010.
- 100% trạm y tế có bác sỹ vào năm 2010.
- Đến năm 2007 hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Tiến hành phổ cập THPT những nơi có điều kiện, riêng thành phố Quảng Ngãi đạt chuẩn phổ cập giáo dục THPT vào năm 2010. Xây dựng 10% trường mầm non, 50% trường tiểu học, 50% trường THCS, 50% trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
- Đến năm 2010 phủ sóng phát thanh và truyền hình 100% toàn tỉnh.
- Hoàn thành xoá 17.000 nhà tạm cho hộ nghèo.
3. Chỉ tiêu về tài nguyên môi trường:
- Độ che phủ của rừng đến năm 2010 khoảng 45%.
- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước sạch 85%.
- Tỷ lệ cây xanh ở thành phố 80%, các thị trấn và trung tâm huyện lỵ đạt 50% (theo quy hoạch chi tiết).
- 100% đô thị và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề được thu gom và có biện pháp xử lý rác thải, nước thải.
- Hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp ngay từ những năm đầu kế hoạch.
4. Chỉ tiêu quốc phòng - an ninh:
- Đảm bảo 100% chỉ tiêu giao quân hàng năm.
- Xây dựng 85 - 90% xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng, an ninh.
- Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ổn định 2% so với dân số.
B. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU:
I. Tập trung phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1. Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh, đi đôi với nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế là nhiệm vụ đột phá của tỉnh.
Tập trung thúc đẩy phát triển Khu kinh tế Dung Quất, trọng tâm là xây dựng hoàn thành đúng tiến độ Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất, nhà máy đóng tàu,…tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tiếp tục đầu tư phát triển các Khu công nghiệp Tịnh Phong và Quảng Phú, hình thành, phát triển Khu công nghiệp Phổ Phong, các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vừa và nhỏ ở các địa phương.
Đối với Khu Kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp tỉnh, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu như lọc hóa dầu và công nghiệp hóa chất, cơ khí luyện kim và đóng tàu biển; khai thác mỏ và vật liệu xây dựng; chế biến đường và sản phẩm sau đường; chế biến thủy, hải sản, súc sản; sản xuất hàng tiêu dùng; phát triển một số ngành công nghiệp phụ trợ, phục vụ công nghiệp của tỉnh và khu kinh tế Dung Quất.
Đối với các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương, tập trung phát triển các ngành nghề sử dụng tài nguyên, nguyên liệu và lao động tại chỗ như sản xuất vật liệu xây dựng, da giày, may mặc; chế biến nông lâm thủy sản; phục hồi và phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống.
Coi trọng đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp, tạo được nhiều mặt hàng chủ lực có sức cạnh tranh cao đối với thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu.
2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo bước chuyển về chất, về nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng hàng hóa bền vững.
Phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm nền tảng để đảm bảo nhu cầu lương thực, tạo nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo; cải thiện đời sống của nhân dân trong tỉnh.
Phấn đấu bình quân hằng năm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 4-4,5%, lâm nghiệp tăng 9,5%, thuỷ sản tăng 7,6%.
Tập trung nâng cao trình độ thâm canh và ứng dụng công nghệ cao trên một số lĩnh vực nhằm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi. Bảo đảm nhu cầu lương thực trong tỉnh; hướng mạnh vào việc hình thành và nâng cao chất lượng các vùng nguyên liệu tập trung như mía, mì, điều ghép, quế và các loại cây khác phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu của thị trường. Chú trọng phát triển các vùng cây rau quả, tạo vùng rau an toàn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Phát triển chăn nuôi theo hướng trở thành ngành sản xuất chính; đến năm 2010, tỷ trọng chăn nuôi đạt 32,4%. Tăng nhanh số lượng, gắn với nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm và tăng cường phòng chống dịch bệnh; đặc biệt là phòng chống gia cầm (H5N1). Khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung với qui mô lớn. Phấn đấu đến năm 2010, đàn trâu đạt 46.000 con, bò 250.000 con (bò lai đạt 50-60%), lợn 650.000 con. Phát triển cụm công nghiệp - làng nghề và dịch vụ thương mại ở nông thôn, nhằm chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn. Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, chợ, các thiết chế văn hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới và thực hiện đô thị hóa nông thôn theo qui hoạch. Tổ chức sản xuất đa dạng, coi trọng và có chính sách hỗ trợ để kinh tế hợp tác phát triển, khuyến khích mở rộng kinh tế trang trại, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ trong sản xuất kinh doanh.
Điều chỉnh, bổ sung qui hoạch đất lâm nghiệp, xác định rõ diện tích, ranh giới các loại rừng, bảo đảm diện tích rừng phòng hộ, tăng diện tích rừng sản xuất, nhất là rừng nguyên liệu giấy. Tăng cường công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp, chấn chỉnh việc quản lý đất của các lâm trường, đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho dân, tăng nhanh diện tích rừng có chủ, hạn chế tối đa các vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, nhất là nạn phá rừng. Khuyến khích, bảo đảm cho người trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng có lợi ích thỏa đáng và làm giàu từ nghề rừng. Phấn đấu đến năm 2010, diện tích rừng trồng mới 58.000 ha, khoanh nuôi, tái sinh 8.000 ha, quản lý, bảo vệ rừng 143.000 ha.
Phát triển kinh tế thủy sản đồng bộ, bền vững, gắn kết giữa khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị nuôi trồng và chế biến. Khai thác thủy sản đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kết hợp bảo vệ chủ quyền lãnh hải Tổ quốc. Phát triển nuôi trồng thủy sản trên cơ sở qui hoạch hợp lý mặt nước, diện tích đất có khả năng nuôi trồng theo hướng công nghiệp, bền vững, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đến năm 2010, sản lượng khai thác 95.000 tấn, trong đó nuôi trồng 5.500 tấn (tôm nuôi 4.200 tấn).
Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh các cơ sở chế biến thủy sản, tăng nhanh sản phẩm xuất khẩu. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thủy sản, trước hết là cảng cá Sa Huỳnh, vũng neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá Lý Sơn, bến neo đậu tàu thuyền Tịnh Hòa, cảng cá Sa Cần, Sa Kỳ; chuẩn bị và triển khai xây dựng cảng cá Mỹ Á, Cửa Đại - Cổ Lũy.
3. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng ngành thương mại dịch vụ và du lịch.
Tập trung phát triển các loại hình dịch vụ trên các lĩnh vực ăn, ở, nhà hàng, khách sạn, vui chơi, giải trí, du lịch, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải kho bãi, khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sự phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất.
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, chú trọng phát triển du lịch sinh thái gắn với hệ thống di tích văn hóa lịch sử; trước mắt tập trung đầu tư và thu hút đầu tư để sớm khai thác có hiệu quả các khu du lịch trọng điểm: Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Khe Hai, Vạn Tường, Cà Đam - Nước Trong. Tạo môi trường hấp dẫn thu hút khách du lịch bằng việc phát triển số lượng và chất lượng các cơ sở lưu trú, sản phẩm du lịch, dịch vụ phục vụ du lịch, hình thành các điểm, khu, tuyến du lịch của tỉnh trong mối liên kết với các tỉnh trong khu vực và cả nước.
Tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển các loại thị trường, huy động các nguồn lực để đầu tư mở rộng mạng lưới chợ ở nông thôn, miền núi, gắn với hình thành các trung tâm dịch vụ thương mại ở các thị trấn; xây dựng một số siêu thị, trung tâm thương mại ở thành phố Quảng Ngãi; hình thành hệ thống dịch vụ thương mại, đáp ứng nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa thông suốt trên địa bàn tỉnh; liên kết với các trung tâm thương mại lớn ở các tỉnh trong khu vực.
Tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhanh các loại hình dịch vụ; tăng cường quản lý Nhà nước về thương mại, cung ứng kịp thời, chủ động hàng hóa và mặt hàng thiết yếu cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa và trong các tình huống thiên tai.
4. Cùng với Trung ương đẩy mạnh xây dựng và phát triển Khu Kinh tế Dung Quất.
Phối hợp với Bộ ngành Trung ương đẩy nhanh việc xây dựng phát triển Khu Kinh tế Dung Quất trong mối liên kết chặt chẽ với các Khu Kinh tế và vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, văn hóa xã hội trong Khu Kinh tế như: Hệ thống giao thông, cảng biển, hạ tầng phân khu công nghiệp, trường học, trường đào tạo nghề, bệnh viện, trung tâm văn hóa thể thao. Hoàn thành đúng tiến độ xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy đóng tàu giai đoạn 1, tạo tiền đề xây dựng các nhà máy hóa dầu, cơ khí, luyện kim,…Thu hút đầu tư vào các phân khu công nghiệp, chú trọng công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng và đầu tư phát triển các ngành dịch vụ.
Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước của tỉnh và Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất; bảo đảm phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, thực hiện có hiệu quả qui chế hoạt động của Khu Kinh tế Dung Quất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tạo môi trường thông thoáng, lành mạnh để thu hút đầu tư, tạo bước chuyển đột phá về sự phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất.
Thực hiện tốt trách nhiệm của tỉnh trong việc cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, gắn liền với việc lập khu tái định cư, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân; phát triển các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của Khu Kinh tế Dung Quất và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu về lao động và chuẩn bị đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất và thành phố Vạn Tường.
5. Đẩy mạnh kinh tế đối ngoại, tăng cường quản lý tài chính, tiền tệ, huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện đề án hội nhập kinh tế quốc tế, có chính sách ưu đãi đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, tranh thủ các thời cơ nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và các sản phẩm trong tỉnh, tạo các nguồn hàng có chất lượng cao hướng vào thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu; nhập khẩu có chọn lọc phù hợp với xu thế phát triển.
Thông qua nhiều hình thức huy động vốn đa dạng các nguồn vốn như vốn ngân sách, phát hành trái phiếu công trình, vay ngân hàng,… khắc phục triệt để tư tưởng ỷ lại nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; chủ động có phương án, kế hoạch vay vốn để đầu tư phát triển. Trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cân đối một phần ngân sách vốn thu hút đầu tư (chủ yếu để đền bù, giải phóng mặt bằng).
Phấn đấu thực hiện vượt chỉ tiêu thu ngân sách do Nhà nước giao hàng năm; thu ngân sách nội địa đạt trên 1.500 tỷ đồng vào năm 2010. Bảo đảm tính hiệu quả, minh bạch, công khai, dân chủ trong chi ngân sách, đáp ứng yêu cầu chi thường xuyên và ưu tiên chi để thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phát triển thị trường tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng và các tổ chức tín dụng huy động vốn, nâng cao năng lực và hiệu quả kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vay của các thành phần kinh tế. Phấn đấu nguồn vốn huy động tăng 25-30%/năm; tốc độ tăng trưởng tín dụng từ 20-25%, trong đó dư nợ trung hạn và dài hạn chiếm 37-42%.
6. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Chủ động thực hiện và tích cực phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương, khẩn trương triển khai thực hiện các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng theo qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010.
Tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng khu kinh tế Dung Quất, các Khu Công nghiệp, Cụm Công nghiệp, hạ tầng đô thị và giao thông, thủy lợi, điện ở nông thôn miền núi và hải đảo. Ưu tiên các nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn của tỉnh. Phấn đấu hoàn thành các công trình trọng điểm như: Đường nối các huyện miền núi, đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh, đường Dung Quất - Trà Bồng - Trà My nối đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, Hồ chứa nước Nước Trong, Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Trường Cao đẳng Kỹ nghệ tỉnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh.
Chú trọng công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt là nơi ở và việc làm cho những hộ di dời.
7. Phát triển các vùng kinh tế.
7.1. Vùng kinh tế động lực bao gồm các thành phố, thị xã, Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp của tỉnh.
a. Đối với thành phố Quảng Ngãi, thành phố Vạn Tường và đô thị khác:
- Qui hoạch đầu tư, mở rộng Thành phố Quảng Ngãi về phía Bắc sông Trà Khúc. Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng. Cải tạo nâng cấp giao thông nội thành, hệ thống cấp, thoát nước, bưu điện và viễn thông. Từng bước chỉnh trang quản lý đô thị theo quy hoạch. Phấn đấu đạt một số tiêu chí cơ bản đô thị loại 2.
- Thành phố Vạn Tường hình thành và phát triển với quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất. Đây là một trong những thành phố công nghiệp, du lịch và dịch vụ hiện đại của miền Trung.
- Đối với đô thị phía Nam, phấn đấu tạo cơ sở vật chất đạt các tiêu chí cần thiết để nâng thị trấn Đức Phổ thành đô thị loại IV, hướng đến trở thành thị xã trực thuộc tỉnh.
b. Đối với các khu công nghiệp:
- Hoàn chỉnh đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm các dịch vụ hỗ trợ Khu công nghiệp Tịnh Phong và Quảng Phú nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư. Từng bước triển khai đầu tư xây dựng, phát triển khu công nghiệp Phổ Phong, các cụm công nghiệp - làng nghề.
+ Khu công nghiệp Tịnh Phong: Lấp đầy 100% đất công nghiệp, thu hút mới 25 dự án, nâng tổng số dự án được cấp phép đến năm 2010 là 48 dự án, giải quyết việc làm thêm cho 5.000 người.
+ Khu công nghiệp Quảng Phú: Rà soát, đánh giá kết quả thực hiện để điều chỉnh qui hoạch, chỉ thực hiện hoàn tất những phần dở dang, trong đó chú ý đến hạ tầng cho Nhà máy bia Sài Gòn - Quảng Ngãi, giao thông, hệ thống xử lý nước thải và cấp nước.
+ Khu công nghiệp Phổ Phong: Thành lập và xây dựng Khu công nghiệp Phổ Phong với quy mô 130 ha và tiến hành thu hút đầu tư mạnh vào khu công nghiệp này.
- Khu kinh tế Dung Quất: Hoàn thành Nhà máy lọc dầu Dung Quất đúng tiến độ, triển khai xây dựng một số nhà máy hoá dầu, hoá chất, hoàn thành nhà máy đóng tàu giai đoạn 1, Nhà máy luyện cán thép, nhà máy chế tạo thiết bị công nghiệp nặng,...Phát triển các ngành công nghiệp có quy mô lớn gắn với cảng biển nước sâu Dung Quất. Cấp phép mới từ 100 -120 dự án. Quy hoạch mở rộng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất về hướng Tây và hướng Nam với quy mô 50.000 ha, trong đó có 10.000 ha mặt nước.
7.2. Vùng đồng bằng, ven biển và hải đảo theo hướng sản xuất hàng hoá, trọng tâm là hình thành các vùng cây, con nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến.
Phát triển nông nghiệp toàn diện; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ trên cơ sở hình thành và phát triển các cụm công nghiệp địa phương.
- Đối với tiểu vùng đồng bằng: Ổn định diện tích sản xuất lương thực (chủ yếu là diện tích lúa đã chuyển đổi). Phát triển cây mía, mì, điều ghép, cao su,…cây rau quả; đẩy mạnh chăn nuôi bò, lợn, gia cầm,…nhằm cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thực phẩm cho các vùng khác; đồng thời hình thành vành đai nông nghiệp phục vụ Khu kinh tế Dung Quất.
- Đối với tiểu vùng ven biển và hải đảo: Phát triển tổng hợp kinh tế biển, lấy ngành thuỷ sản, du lịch làm chính. Đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Chú trọng khai thác cảng biển, phát triển công nghiệp đóng, sửa chữa tàu thuyền và dịch vụ nghề cá. Phát triển ngành muối phục vụ cho công nghiệp và tiêu dùng. Đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi; thâm canh cây công nghiệp ngắn ngày, trồng các loại rau, đậu, hành, tỏi,...
Xây dựng các thị trấn, huyện lỵ trở thành các trung tâm kinh tế - xã hội của từng huyện có các ngành dịch vụ phát triển. Từ nay đến năm 2010 chuẩn bị các điều kiện để hình thành các thị trấn mới ở các huyện: Lý Sơn; Thạch Trụ (Mộ Đức), Sa Huỳnh (Đức Phổ) và khu đô thị Dốc Sỏi (Bình Sơn); tiến hành quy hoạch, xây dựng mới thị trấn Sơn Tịnh (vì thành phố Quảng Ngãi mở ra phía Bắc sông Trà Khúc).
7.3. Vùng miền núi.
Nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi là xoá đói giảm nghèo và nâng cao dân trí. Đến năm 2010, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 35% theo chuẩn mới, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở.
Lấy phát triển nông-lâm nghiệp làm cơ sở để ổn định kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại. Tiếp tục khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, ngô. Bảo vệ rừng và phát triển rừng kinh tế, nhất là rừng nguyên liệu; đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, chú trọng là giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, phát thanh truyền hình, trường học, trạm xá, nước sinh hoạt, đất sản xuất,...
Đầu tư phát triển các thị trấn hiện có; hình thành các thị trấn ở huyện Minh Long, Sơn Tây, Tây Trà; củng cố và xây dựng các trung tâm cụm xã.
8. Các nhiệm vụ đột phá, những chương trình và dự án trọng điểm:
8.1. Các nhiệm vụ đột phá:
- Phát triển công nghiệp.
- Phát triển nguồn nhân lực.
8.2. Chương trình trọng điểm:
- Chương trình phát triển Khu kinh tế Dung Quất và các ngành nghề phục vụ nhu cầu của khu kinh tế này.
- Chương trình phát triển toàn diện ngành thuỷ sản.
- Chương trình phát triển vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
- Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng.
- Chương trình phát triển dịch vụ, du lịch .
- Chương trình xúc tiến đầu tư và thị trường.
- Chương trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp.
- Chương trình xoá đói giảm nghèo và xoá nhà tạm cho hộ nghèo.
8.3. Các dự án trọng điểm do tỉnh quản lý:
|
|
Tên dự án |
Quy mô |
Địa điểm |
|
1 |
Đường nối các huyện miền núi |
180 km |
6 huyện miền núi |
|
2 |
Hỗ trợ CSHT các Khu công nghiệp tỉnh: - Khu công nghiệp Tịnh Phong - Khu công nghiệp Quảng Phú - Khu công nghiệp Phổ Phong |
141 ha 99,5 ha 130 ha |
Huyện Sơn Tịnh Thành phố Quảng Ngãi Huyện Đức Phổ |
|
3 |
Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh |
110 km |
Các huyện |
|
4 |
Trường Đại học Phạm Văn Đồng |
5.000-6.000 sinh viên |
Thành phố Quảng Ngãi |
|
5 |
Trường Kỹ nghệ tỉnh |
1.500-2.500 học viên |
Thành phố Quảng Ngãi |
|
6 |
Bệnh viện đa khoa tỉnh |
600 giường |
Thành phố Quảng Ngãi |
|
7 |
Hợp phần di dân tái định cư hồ chứa nước Nước Trong |
680 hộ |
Các huyện |
8.4. Phối hợp với các Bộ, ngành TW thực hiện đầu tư vào các dự án:
|
|
Tên dự án |
Quy mô |
Địa điểm |
|
1 |
Hồ chứa nước Nước Trong |
293 triệu m3 |
Huyện Sơn Hà - Trà Bồng - Tây Trà |
|
2 |
Đường Dung Quất - Trà Bồng - Trà My nối đường Hồ Chí Minh |
69 km |
Huyện Bình Sơn - Trà Bồng - Trà My |
|
3 |
Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi |
133 km |
Đà Nẵng-Quảng Ngãi |
|
4 |
Đường tránh Quốc lộ IA qua thị trấn La Hà |
4,7 km |
Huyện Tư Nghĩa |
8.5. Tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư hoàn thành các công trình trọng điểm:
|
|
Tên dự án |
Quy mô |
Địa điểm |
|
1 |
Nhà máy lọc dầu |
6,5 triệu tấn |
Huyện Bình Sơn |
|
2 |
Liên Hiệp đóng sửa tàu biển |
đóng tàu dầu 100 ngàn tấn |
Huyện Bình Sơn |
|
3 |
Cảng Dung Quất |
Tàu 3 vạn DWT |
Huyện Bình Sơn |
|
4 |
DA đầu tư vào TP Vạn Tường |
200 ha |
Huyện Bình Sơn |
|
5 |
DA đầu tư khai thác du lịch Khe Hai-KKT Dung Quất |
150 ha |
Huyện Bình Sơn |
|
6 |
Dự án chế tạo thiết bị công nghiệp nặng (Doosan) |
110ha |
Huyện Bình Sơn |
|
7 |
Nhà máy luyện cán thép |
5 triệu tấn/năm |
Huyện Bình Sơn |
|
8 |
Nhà máy PolyPropylen |
150.000 tấn/năm |
Huyện Bình Sơn |
|
9 |
Nhà máy Bia Sài Gòn-Quảng Ngãi |
100 triệu lít/năm |
Thành phố Quảng Ngãi |
|
10 |
Dự án khai thác mỏ Graphít Hưng Nhượng |
|
Huyện Sơn Tịnh |
|
11 |
Đường tránh Quốc lộ IA qua thị trấn Đức Phổ |
7 Km |
Huyện Đức Phổ |
|
12 |
Nhà máy thuỷ điện Dakrink |
20 MW |
Huyện Sơn Hà |
8.6. Các dự án đầu tư chủ yếu giai đoạn 2006-2010 (có danh mục kèm theo).
8.7. Những công trình trọng điểm giai đoạn 2011-2025:
-. Các dự án sau dự án hồ chứa nước Nước Trong:
+ Dự án du lịch Cà Đam - Nước Trong.
+ Dự án hệ thống cấp nước phục vụ Khu Kinh tế Dung Quất.
+ Dự án Nuôi trồng thuỷ sản.
- Dự án chỉnh trị cửa Mỹ Á.
- Dự án chỉnh trị cửa Đại.
II. Phát triển văn hóa – xã hội để thực sự là nền tảng tinh thần trong cuộc sống của nhân dân, tập trung xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tạo động lực phát triển kinh tế.
1. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; tiếp tục mở rộng qui mô và thực hiện xã hội hóa giáo dục.
Tăng cường quản lý giáo dục, trọng tâm là nâng cao chất lượng dạy và học; chú trọng rèn luyện đạo đức, giáo dục pháp luật cho học sinh. Củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ; hoàn thành phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS vào năm 2007; thực hiện phổ cập THPT ở những nơi có điều kiện. Khắc phục có hiệu quả bệnh thành tích, tình trạng dạy thêm, học thêm sai qui định,…
Đến năm 2010, các trường ở các cấp học, ngành học được bảo đảm thiết bị giáo dục tối thiểu, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh. Tiếp tục xây dựng trường chuẩn quốc gia, đến năm 2010 có 10% trường mầm non, 50% trường tiểu học, 50% trường THCS và THPT đạt chuẩn quốc gia; phát triển nhà trẻ, mẫu giáo ở các thôn, tổ dân phố. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để đến năm 2010 có 100% giáo viên được chuẩn hóa. Chuẩn bị tốt các điều kiện để hoàn thành đổi mới chương trình giáo dục phổ thông vào năm 2009.
Thực sự chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng. Đối với dân, tập trung đào tạo nghề; đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, đào tạo có trình độ đại học; đối với cấp huyện, đào tạo chuyên môn; đối với cấp tỉnh, đào tạo cán bộ chủ chốt. Mở rộng phù hợp qui mô các trường, ngành ở 4 cấp học là Đại học, Cao đẳng, THCN, Dạy nghề. Sớm hoàn thành việc xây dựng giai đoạn I Trường Đại học Phạm Văn Đồng, nâng cao chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất các trường chuyên nghiệp; củng cố, mở rộng và hình thành mới các trường, trung tâm dạy nghề và tư vấn việc làm nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là Khu Kinh tế Dung Quất. Đa dạng hóa loại hình đào tạo. Đầu tư đúng mức hệ thống trường công, tạo điều kiện để phát triển mạnh trường ngoài công lập.
Thực hiện công bằng xã hội về giáo dục và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục; tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình chính sách, gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa,…Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài và triển khai thực hiện nghiêm túc quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010.
2. Phát triển khoa học và công nghệ tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Nhiệm vụ của khoa học và công nghệ phải nắm vững cơ sở lý luận, đi sâu nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc ban hành các chủ trương, chính sách, qui hoạch, kế hoạch và các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đẩy mạnh nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong quản lý, sản xuất kinh doanh sát với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phấn đấu đến năm 2010 có trên 60% số đề tài nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất và đời sống; khoảng 150 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, 150 sản phẩm và dịch vụ được cấp bằng bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp; 100% số huyện, thành phố ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý; 50% số xã, phường, thị trấn được hưởng thụ thông tin khoa học và công nghệ qua mạng internet.
Xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của tỉnh, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ; nâng cao trình độ quản lý Nhà nước; tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, tăng đầu tư và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư. Đẩy mạnh quản lý về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, nghiên cứu phát triển các đơn vị sự nghiệp về khoa học và công nghệ.
3. Nâng cao chất lượng hoạt động của ngành y tế, chú trọng công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình - trẻ em.
Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật ở các cơ sở khám chữa bệnh nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh theo các tuyến, tạo sự công bằng cho người dân được hưởng các dịch vụ y tế cộng đồng và từng bước tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng cao. Hạ thấp tỷ lệ mắc các bệnh xã hội, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ cho nhân dân. Giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh như: sốt xuất huyết, sốt rét, tả, thương hàn; chủ động phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm,…Phấn đấu trong giai đoạn 2006-2010 xây dựng hoàn thành Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện lao và bệnh phổi, Bệnh viện tâm thần, Bệnh viện Dung Quất, một số trung tâm y tế huyện và phòng khám đa khoa khu vực,…; đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực y tế, khuyến khích việc đầu tư phát triển các dịch vụ y tế ngoài công lập.
Chú trọng công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực y tế, nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả và chất lượng thuốc chữa bệnh, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế khác, nhất là nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần, thái độ phục vụ bệnh nhân của đội ngũ cán bộ y tế.
Tăng cường công tác truyền thông dân số và KHHGĐ, vận động mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh từ một đến hai con, chú trọng chăm sóc sức khỏe sinh sản. Nâng cao trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội trong chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ em, giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng.
4. Phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao.
Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, bảo đảm nhu cầu hưởng thụ văn hóa đa dạng ngày càng tăng của nhân dân.
Tập trung xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong toàn xã hội, trước hết là xây dựng văn hóa trong hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, quản lý của chính quyền các cấp, trong hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục xây dựng gia đình, thôn, tổ dân phố, xã, phường, thị trấn, cơ quan văn hóa.
Phát huy hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa hiện có, tiếp tục đầu tư xây dựng mới và trang bị phương tiện cho các thiết chế văn hóa, nhất là ở cấp huyện và cơ sở. Phấn đấu đến năm 2010, các huyện trong tỉnh đều có các thiết chế văn hóa như: Trung tâm văn hóa thông tin, thư viện, nhà truyền thống, đội thông tin lưu động; chú ý xây dựng nhà sinh hoạt văn hóa ở các thôn, tổ dân phố.
Tiếp tục đầu tư tôn tạo, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, tạo vẻ đẹp cảnh quan môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhằm phát huy các giá trị văn hóa vào nhiệm vụ giáo dục truyền thống, phát triển kinh tế du lịch,…
Mở rộng phủ sóng phát thanh, truyền hình để đến năm 2010 phủ sóng trên địa bàn toàn tỉnh; tăng kỳ báo và số lượng phát hành tờ báo Quảng Ngãi; phát triển trang thông tin điện tử, nâng cao chất lượng báo chí, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, giáo dục và thông tin cho nhân dân. Thông qua hoạt động của Hội Nhà báo, Hội Văn học - Nghệ thuật, phát huy vai trò của đội ngũ phóng viên báo chí, văn nghệ sĩ nhằm sáng tạo các tác phẩm báo chí, văn hóa - nghệ thuật có giá trị tương xứng với truyền thống cách mạng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đẩy mạnh xã hội hóa thể dục thể thao, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng; khôi phục và lựa chọn thêm một số môn thể thao mà tỉnh có thế mạnh để đầu tư phát triển nhằm đạt thành tích cao trong các giải quốc gia. Đến năm 2010, phấn đấu đạt 22% số người tập luyện thể dục thể thao; duy trì đội bóng đá thi đấu giải hạng nhất quốc gia.
5. Giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp và thực hiện tốt các chính sách xã hội.
Khai thác lợi thế Khu Kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp tỉnh, các cụm công nghiệp - làng nghề ở các huyện, thành phố, các khu, điểm du lịch và triển khai thực hiện lồng ghép, kết hợp các chương trình, dự án của Trung ương, của tỉnh,…để giải quyết việc làm và tạo thêm việc làm mới cho người lao động, người bị thu hồi đất, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo và làm giàu.
Thực hiện tốt chính sách đối với người có công với nước. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công, phấn đấu 100% xã, phường, thị trấn được công nhận làm tốt chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công; bảo đảm 100% gia đình chính sách có cuộc sống vật chất, tinh thần bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân nơi cư trú.
Quan tâm giúp đỡ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi, lang thang, người già neo đơn, nạn nhân chất độc màu da cam,…Triển khai thực hiện hoàn thành xóa nhà tạm cho hộ nghèo. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
III. Bảo đảm giữ vững quốc phòng - an ninh, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan nội chính.
Dưới sự lãnh đạo của các cấp Đảng, chính quyền, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân.
Xây dựng Quân đội và Công an theo hướng chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, gắn bó mật thiết với nhân dân; lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ đủ số lượng, bảo đảm chất lượng. Nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, chủ động ứng phó trong mọi tình huống, không để xảy ra bị động, đột xuất, bất ngờ. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng – an ninh, quan tâm chỉ đạo ngay từ công tác qui hoạch, kế hoạch và hình thành các dự án.
Đảm bảo tuyệt đối an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “ diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; không để xảy ra “điểm nóng”. Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhất là tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại và tội phạm ma tuý, tệ nạn mại dâm; thực hiện tốt phòng cháy, chữa cháy; ngăn ngừa có hiệu quả tai nạn giao thông. Tổ chức thực hiện công tác tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ, phòng chống thiên tai, thảm họa.
Tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp và chiến lược cải cách tư pháp. Chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nội chính, nhất là cấp huyện. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và bổ trợ tư pháp; tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án dân sự, khắc phục cơ bản tình trạng án tồn đọng kéo dài. Đẩy mạnh thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, chú trọng các lĩnh vực quản lý về đầu tư xây dựng, đất đai, ngân sách và quản lý doanh nghiệp, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm mọi vi phạm. Tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thực hiện đồng bộ công tác đấu tranh phòng và chống tham những trong bộ máy công quyền.
C. THỰC HIỆN ĐỒNG BỘ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
1. Triển khai thực hiện có hiệu quả 2 nhiệm vụ đột phá và 8 chương trình trọng điểm.
Tập trung ưu tiên mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ đột phá và 08 chương trình trọng điểm. Trong đó nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực có trình độ ngày càng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới là chìa khoá thực hiện thắng lợi 2 nhiệm và 8 chương trình trên.
2. Xây dựng, điều chỉnh bổ sung qui hoạch.
Lấy qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm căn cứ điều chỉnh, bổ sung hợp lý các qui hoạch ngành, vùng kinh tế, các huyện, thành phố và xác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm. Hoàn thành và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước năm 2009 qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2011 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh, xu hướng phát triển của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và của cả nước. Quản lý và tổ chức thực hiện theo các qui hoạch đã được phê duyệt.
3. Tăng cường công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, định canh.
Về chính sách, thực hiện đúng các quy định của Nhà nước; đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng các khu tái định cư, quy hoạch đất sản xuất, đào tạo nghề, tạo việc làm đối với những hộ bị di dời, những hộ bị mất đất.
Công khai hoá từ bước lập phương án đến phương án đền bù được phê duyệt và thực hiện chi trả.
Đối với thành phố và các đô thị khác, dự án phải thực hiện xong đền bù, giải toả mới tiến hành thi công.
4. Hoàn thiện cơ chế chính sách, đi đôi với đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.
Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung đồng bộ các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đẩy mạnh cải cách hành chính, đồng thời coi trọng khâu tổ chức thực hiện, đưa chính sách vào cuộc sống, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng và tin cậy để thu hút các nhà đầu tư ở các thành phần kinh tế. Chú trọng nâng cao hiệu quả của kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác; đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp đa sở hữu.
5. Tăng cường xúc tiến đầu tư, huy động các nguồn lực phát triển đồng bộ các loại thị trường.
- Tăng cường công tác xúc tiến, kêu gọi đầu tư; động viên mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh, nhất là về vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, trong đó ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, tạo cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế, đặc biệt tranh thủ tạo mọi thuận lợi tối đa có thể để các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn trong và nước ngoài đầu tư vào Khu Kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp của tỉnh.
- Phát triển đồng bộ các loại thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính tín dụng, thị trường bất động sản. Chú trọng gắn kết thị trường trong tỉnh và mở rộng thị trường ngoài tỉnh. Kết hợp giữa cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp về nắm bắt thông tin thị trường để phát triển sản xuất kinh doanh.
6. Phát huy vai trò động lực của giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
- Tăng cường đầu tư phát triển mạnh giáo dục đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với ngân sách Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các ngành học, cấp học. Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về giáo dục, nhất là quản lý chất lượng dạy học của đội ngũ giáo viên, khắc phục có hiệu quả những mặt yếu kém, bảo đảm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Bố trí kinh phí thoả đáng, lựa chọn cán bộ trẻ có triển vọng phát triển, học sinh giỏi ở các Trường THPT để đào tạo hình thành đội ngũ cán bộ chiến lược của tỉnh. Dự báo nhu cầu lao động trong và ngoài tỉnh để xác lập qui mô, hình thức và nội dung đào tạo phù hợp gắn với đẩy mạnh phát triển các dịch vụ tư vấn giải quyết việc làm nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động đã được đào tạo.
- Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà Khoa học, các doanh nghiệp và hộ sản xuất trong việc nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ vào tất cả các lĩnh vực sản xuất, đời sống và hoạt động lãnh đạo quản lý. Có cơ chế chính sách tôn vinh những cán bộ, đội ngũ trí thức khoa học, văn nghệ sĩ,… có những công trình khoa học đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư ứng dụng công nghệ mới, nhất là hệ thống quản lý tiên tiến, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin,… vào quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
7. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng niềm tin của quần chúng, giữ vững ổn định chính trị xã hội.
Thường xuyên giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức và thực hiện đúng pháp luật, qui định, qui chế có liên quan đến chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện tự phê bình và phê bình, đấu tranh mạnh mẽ nhằm ngăn ngừa phát hiện và chống tham nhũng.
Chỉ đạo xây dựng các cơ chế quản lý nhằm phòng chống tham nhũng, lãng phí, trước hết trong một số lĩnh vực trọng điểm như: Quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, doanh nghiệp nhà nước, ngân sách Nhà nước và tài sản công. Xây dựng qui chế phối hợp hành động chống tham nhũng giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật
Nghiêm túc thực hiện qui định về công khai tài sản của cán bộ công chức; qui chế dân chủ cơ sở; qui chế giám sát của mặt trận và các đoàn thể nhân dân; qui định những điều đảng viên không được làm. Phát huy vai trò của quần chúng và các cơ quan báo chí trong việc phát hiện và tố giác các hành vi tham nhũng, lãng phí, đồng thời bảo vệ người phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.
Kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm minh công khai kịp thời các vụ việc tham nhũng, lãng phí kể cả trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi xảy ra tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng.
8. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phát huy truyền thống cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, cần cù sáng tạo, đoàn kết thống nhất, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, không cam chịu nghèo nàn, tụt hậu; kêu gọi và phát huy tình yêu quê hương của mọi người dân Quảng Ngãi đang làm việc, sinh sống ngoài tỉnh cùng tham gia đóng góp trí tuệ, tinh thần, vật lực, hỗ trợ nhân dân trong tỉnh phấn đấu đưa tỉnh ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đạt trình độ phát triển khá trong khu vực cùng với cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
|
|
|
TM.ỦY BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH |
|
|
( Đã ký) Nguyễn Xuân Huế
|
- Giới thiệu Tỉnh
- Địa chí Quảng Ngãi
- Dân số lao động
- Cơ sở hạ tầng
- Văn hóa
- Bộ máy Tổ chức
- Sơ đồ tổ chức
- Chức năng
- Nhiệm vụ - quyền hạn
- Tổ chức hoạt động
- Thành viên
- Quy chế làm việc
- Phân công nhiệm vụ
- Sơ đồ tổ chức
- Chức năng, nhiệm vụ
- Tổ chức. hoạt động
- Ban thường trực
- Tổ chức thành viên
- Danh sách Chủ tịch
- Sở Ban Ngành
- Huyện, thành phố
- Thông tin chuyên đề
- Hợp tác đầu tư
- Du lịch
- Văn học nghệ thuật



