BÁO CÁO
Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2009
và Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2010
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009
A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2009, tỉnh có những thuận lợi và khó khăn nhất định:
* Thuận lợi:
- Tình hình chính trị, xã hội ổn định, đầu năm lạm phát được kiềm chế, an sinh xã hội được bảo đảm.
- Kinh tế của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá; Nhà máy lọc dầu Dung Quất bắt đầu đi vào hoạt động,…
- Sự hỗ trợ có hiệu quả về nhiều mặt của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương (Các chính sách và giải pháp kích cầu, chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 06 huyện miền núi theo Nghị quyết 30a/2009/NQ-CP của Chính phủ,…).
- Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đoàn kết, nhất trí cao, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội đã được Tỉnh ủy, HĐND tỉnh thông qua.
* Khó khăn:
- Cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu đã dẫn đến những khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư, du lịch; tác động bất lợi tới sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tới việc làm và thu nhập của người lao động,…
- Sự biến đổi khí hậu làm cho thời tiết diễn biến thất thường: Đầu năm mưa kéo dài làm hư hại hoàn toàn 2.420 ha lúa và nhiều diện tích rau màu; cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, lúa đang trong thời kỳ thu hoạch bị ngập úng làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa, nhất là cơn bão số 9 đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân trong tỉnh.
- Dịch bệnh diễn biễn phức tạp, xuất hiện dịch bệnh mới (như cúm A/H1N1,...) gây thêm khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân trong tỉnh.
Trước tình hình trên, được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh uỷ và HĐND tỉnh, ngay từ đầu năm UBND tỉnh đã ban hành Quyết định và tập trung tổ chức thực hiện các giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2009 nên tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2009 vẫn ổn định và có chiều hướng phát triển tốt.
Một số kết quả cụ thể như sau:
I. VỀ LĨNH VỰC KINH TẾ
Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2009 ước đạt 6.431,63 tỷ đồng, tăng 21,0% so với năm 2008; trong đó, khu vực nông- lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.600,53 tỷ đồng, tăng 3,4%; khu vực công nghiệp- xây dựng đạt gần 2.779,47 tỷ đồng, tăng 42,1%; khu vực dịch vụ đạt 2.051,63 tỷ đồng, tăng 13,1%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế của khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 36,2% năm 2008 lên 44,7% năm 2009; tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 31,2% năm 2008 xuống 26,6% năm 2009 và khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 32,6% năm 2008 giảm xuống còn 28,7% trong tổng sản phẩm trong tỉnh.
1. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng khá cao: Giá trị sản suất năm 2009 ước đạt 6.930,1 tỷ đồng, tăng 144,7% so với năm 2008; trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt gần 4.191,73 tỷ đồng, gấp 8,4 lần; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt gần 2.581,87 tỷ đồng, tăng 10,7%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 156,5 tỷ đồng, gấp 182,4 lần so với năm 2008.
Sản xuất công nghiệp tăng cao là do có sản phẩm lọc hoá dầu và một số sản phẩm mới khác được sản xuất trong năm. Mặt khác, để thúc đẩy sản xuất phát triển, UBND tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; trong đó tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện các giải pháp cấp bách của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu nên nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh vẫn duy trì tốc độ tăng khá cao.
Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: thuỷ sản chế biến, nước khoáng và nước tinh khiết, phân bón, dăm gỗ nguyên liệu giấy, tinh bột mỳ,... đã sản xuất được 1.523,8 ngàn tấn sản phẩm lọc hoá dầu và nhiều sản phẩm cấu kiện kim loại của Công ty TNHH 1 thành viên Doosan Việt Nam...
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và tài nguyên - môi trường
Sản xuất nông nghiệp: Thời tiết trong năm thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nhưng không thuận lợi cho việc gieo sạ và thu hoạch lúa. Đầu năm mưa kéo dài làm trên 10.000 ha lúa vừa gieo sạ bị ngập nước, trong đó diện tích bị hư hại hoàn toàn là 2.420 ha phải gieo sạ lại, nhiều diện tích rau màu bị hư hại, tiến độ gieo trồng chậm; cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, lúa đang trong thời kỳ thu hoạch và chuẩn bị thu hoạch bị mưa lớn kéo dài gây ngập úng làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa; từ ngày 03 đến ngày 09/9/2009, mưa lớn kéo dài làm thiệt hại 5.219 ha lúa (trong đó diện tích lúa bị mất trắng là 1.987 ha) và 5.606 ha rau đậu và nhất là cơn bão số 9 kèm theo lũ lớn đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân trong tỉnh nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng với 41 người chết, 2.064 nhà sập đổ hoàn toàn, 59.481 nhà bị tốc mái, hư hại,... tổng giá trị thiệt hại khoảng 4.375 tỷ đồng.
Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.675 tỷ đồng, tăng 4,3% so với năm 2008. Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt cả năm ước đạt 83.320 ha, giảm so với năm trước 1,3%; sản lượng lương thực ước đạt 420,86 ngàn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó, diện tích lúa đạt 72.452 ha, giảm 1,9% với sản lượng ước đạt 370,43 ngàn tấn, tăng 4,5%; diện tích ngô đạt 10.868 ha, tăng 2,2% với sản lượng ước đạt 50,44 ngàn tấn, giảm 6%.
Diện tích trồng mía ước đạt 6.309 ha, giảm 3,4% so với năm 2008; năng suất ước đạt 521,8 tạ/ha, giảm 2,1%; sản lượng đạt gần 329,23 ngàn tấn, giảm 5,4% so với 2008. Các cây còn lại như lạc có diện tích giảm; rau, đậu các loại có diện tích tăng so với năm trước.
Công tác phòng chống dịch gia súc, gia cầm được duy trì thường xuyên. Từ đầu năm đến nay, bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng gia súc xảy ra rải rác trên địa bàn tỉnh nhưng đã được khống chế kịp thời. Bệnh tai xanh ở lợn tuy không xảy ra nhưng đang có nguy cơ tái phát rất lớn. Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01/10/2009, đàn trâu tăng 2,4%, đàn bò giảm 1,0%, đàn lợn tăng 1,9%; đàn gia cầm tăng 20,2% so với thời điểm 01/10/2008,.
Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 98.592 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2008 và bằng 102,2% kế hoạch năm; trong đó, khai thác nước mặn ước đạt 91.617 tấn, tăng 1,9%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 6.975 tấn, tăng 2,3%. Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt gần 794,8 tỷ đồng, tăng 1,5% so với năm 2008.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 1.427 ha, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm 2008. Diện tích tôm đạt 658,3 ha, giảm 15,3% so với cùng kỳ năm 2008. Sản lượng tôm nuôi thu hoạch ước đạt 5.806 tấn, bằng 107,5 % kế hoạch.
Công tác quản lý tàu cá được tăng cường, đã cấp 541 sổ danh bạ thuyền viên và 2.265 giấy phép Khai thác thủy sản. Tàu thuyền đang tiếp tục có sự chuyển biến theo hướng phát triển tàu công suất lớn. Đến nay, tổng số tàu đã đăng ký toàn tỉnh đạt 5.616 chiếc với tổng công suất là 475.667 CV; trong đó, tàu trên 20CV có 4.090 chiếc, tàu dưới 20 CV có 1.526 chiếc.
Công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô được tăng cường. Đã trồng 8.377 ha rừng tập trung, quản lý bảo vệ 107.000 ha rừng, khai thác 181.000m3 gỗ rừng trồng. Tình hình chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng, vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp. Qua kiểm tra, đã phát hiện 299 vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, lâm sản tịch thu gồm 299 m3 gỗ các loại, 264 kg động vật rừng, phá huỷ các hầm than và thu giữ 6.248 kg than...., thu nộp ngân sách trên 01 tỷ đồng.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường được triển khai theo kế hoạch; đã tổng kết công tác đo bản đồ địa chính đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại 6 huyện miền núi, kết quả đo đạc bản đồ địa chính được 126.506 ha, cấp 101.750 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân; đã thẩm định quy hoạch sử dụng đất chi tiết các thị trấn Sông Vệ, La Hà, Sơn Tịnh, Ba Tơ, Châu Ổ, Trà Xuân và 08 phường thuộc thành phố Quảng Ngãi; từ đầu năm đến nay, đã lập hồ sơ thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất với diện tích 2.170,8 ha; xây dựng phương án và dự toán Tổng kiểm kê đất đai năm 2010 toàn tỉnh; đã kiểm tra hồ sơ, xem xét cấp Giấy phép thăm dò khai thác khoáng sản cho 4 đơn vị khai thác cát và 05 đơn vị khai thác đá làm vật liệu xây dựng. Phối hợp với cảnh sát môi trường kiểm tra tình hình bảo vệ môi trường trong hoạt động của 11 đơn vị và phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiểm tra hiện trường nơi phát hiện chất độc hoá học tồn lưu sau chiến tranh tại xã Sơn Nhan, đồng thời phối hợp lập phương án tiêu huỷ,…
3. Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trường
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 13.400 tỷ đồng, tăng 25,1% so với năm 2008; trong đó kinh tế nhà nước đạt 1.222,2 tỷ đồng, tăng 22,7% và chiếm 9,12% thị phần; kinh tế cá thể đạt 9.461,5 tỷ đồng, tăng 28,6%, chiếm 70,61% thị phần; kinh tế tư nhân đạt 2.705,5 tỷ đồng, tăng 15,1%, chiếm 20,19% thị phần.
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm sút so với năm 2008 nhưng có một số sản phẩm mới có giá trị kim ngạch xuất khẩu cao như: propylene, dầu kerosene (KO), thiết bị công nghiệp nặng của Doosan,... nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm tăng cao so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 182,224 triệu USD, tăng 205,9% so với năm 2008.
Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.472,097 triệu USD, tăng 292,5% so với năm 2008. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là dầu thô (1.239 triệu USD), máy móc thiết bị phụ tùng (183,5 triệu USD), sắt thép (38 triệu USD),...
Hoạt động vận tải tiếp tục tăng trưởng khá nhờ một số phương tiện vận tải được trang bị mới. Trong năm ước vận chuyển được 1,77 triệu lượt khách với mức luân chuyển 459,08 triệu lượt khách-km, tăng 11,16% về lượt khách và 11,47% về lượt khách-km so với năm 2008. Vận tải hàng hóa ước đạt 2,83 triệu tấn với mức luân chuyển 516,49 triệu tấn-km, tăng 9,12% về tấn vận chuyển và 11,46% về T-km so với năm 2008. Doanh thu vận tải và các hoạt động dịch vụ liên quan đến vận tải ước đạt 422,48 tỷ đồng, tăng 17,4% so với năm 2008.
Công tác quản lý thị trường được duy trì thường xuyên, các Đội quản lý thị trường tập trung thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, chống vận chuyển, buôn bán hàng lậu, hàng cấm, gian lận thương mại, đầu cơ nâng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống của nhân dân. Kết quả cho thấy tình hình thị trường đã có nhiều diễn biến tích cực, góp phần tích cực phát triển sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2009 tăng 4,13% so với tháng 12/2008 và tăng 3,53% so với cùng kỳ năm 2008. Giá vàng trong năm diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng mạnh. Chỉ số giá vàng tháng 10/2009 tăng 31,51% so với tháng 12/2008 và tăng 24,44% so với cùng kỳ năm 2008.
4. Thu, chi ngân sách và tiền tệ
a) Thu, chi ngân sách nhà nước:
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 4.046,923 tỷ đồng, bằng 190,8% dự toán năm; trong đó thu nội địa đạt 1.857,763 tỷ đồng, bằng 90,5% dự toán năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.189,160 tỷ đồng, bằng 3.219,4% dự toán năm. Hầu hết các khoản thu đều đảm bảo tiến độ, đạt trên 100% dự toán năm và tăng so với cùng kỳ năm 2008; tuy nhiên, tổng thu nội địa đạt thấp hơn so với dự toán là do hai khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhưng phát sinh thấp là thuế tiêu thụ đặc biệt và thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 4.0829 tỷ đồng, bằng 141% dự toán năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 1.690 tỷ đồng; chi thường xuyên ước đạt 1.980 tỷ đồng,.
b) Về tiền tệ:
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng trên địa bàn trong năm 2009 có biến động nhưng biên độ tăng, giảm không lớn so với năm 2008. Tổng nguồn vốn huy động đến ngày 31/12/2009 ước đạt 9.000 tỷ đồng, tăng 71,16% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/12/2009 ước đạt 11.000 tỷ đồng, tăng 31,59% so với cùng kỳ năm 2008. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng trên địa bàn trong những tháng cuối năm đã có tín hiệu khả quan hơn so với 6 tháng đầu năm do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã dần được khôi phục.
Các chương trình cho vay kích cầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tính đến 30/9/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất các khoản vay ngắn hạn đến cuối tháng đạt 2.256 tỷ đồng/1.382 khách hàng, chiếm tỷ trọng 20,24%/tổng dư nợ, số luỹ kế cho vay hỗ trợ lãi suất trong 8 tháng (từ 01/02/2009 đến 30/9/2009) là 19.115 khách hàng với số lãi tiền vay đã hỗ trợ cho khách hàng hơn 36 tỷ đồng; dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất các khoản vay trung, dài hạn đến cuối tháng đạt 430 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,85% tổng dư nợ với số lãi tiền vay đã hỗ trợ cho 4.315 khách hàng là 1,9 tỷ đồng; dư nợ cho vạy ưu đãi lãi suất đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đạt 12 tỷ đồng/858 khách hàng.
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục đẩy mạnh cho vay xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, cho vay nông nghiệp – nông thôn, cho vay đối với thành phần kinh tế dân doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tính đến ngày 20/10/2009, dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 358 tỷ đồng, chiếm 3,21% tổng dư nợ; dư nợ cho vay nhập khẩu 1.913 tỷ đồng, chiếm 17,16% tổng dư nợ; dự nợ cho vay nông nghiệp – nông thôn đạt 4.267 tỷ đồng, chiếm 38,29% tổng dư nợ; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 2.386 tỷ đồng, chiếm 21,41% tổng dư nợ.
5. Đầu tư phát triển, đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp tỉnh và Khu kinh tế Dung Quất
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn trong năm ước đạt 16.390 tỷ đồng, bằng 67,0% so năm trước. Trong đó, vốn khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 10.836 tỷ đồng, bằng 56,3%; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.118 tỷ đồng, tăng 23,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.436 tỷ đồng, bằng 75,6% so năm trước.
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh kế hoạch năm 2009 dùng để cân đối cho các dự án là 1.803,07 tỷ đồng, ngoài ra nguồn vốn thuộc kế hoạch năm 2008 được kéo dài thanh toán đến 30/6/2009 theo chính sách kích cầu của Chính phủ là 232,26 tỷ đồng. Kết quả giải ngân kế hoạch vốn từ đầu năm đến 31/10/2009 đạt 898,4 tỷ đồng, bằng 50% kế hoạch; trong đó Vốn ngân sách đạt 503,2 tỷ đồng, bằng 55,5%, Vốn trái phiếu Chính phủ đạt 203,136 tỷ đồng, bằng 35,2%, Vốn nước ngoài đạt 192 tỷ đồng, bằng 60% kế hoạch. Ước cả năm 2009 giải ngân đạt 94,4% kế hoạch, trong đó Vốn ngân sách nhà nước ước đạt 99,7%, Vốn trái phiếu Chính phủ ước đạt 83%, Vốn nước ngoài ước đạt 98% kế hoạch.
Cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho khoảng 593 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 1.388 tỷ đồng; trong đó có 114 doanh nghiệp tư nhân, 176 công ty TNHH 2 thành viên trở lên, 244 công ty TNHH 1 thành viên và 59 công ty cổ phần; đăng ký hoạt động cho 37 Chi nhánh và 17 Văn phòng đại diện; có 134 lượt doanh nghiệp đến đăng ký tăng vốn với số vốn tăng thêm trên 845 tỷ đồng.
Công tác sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước theo đúng kế hoạch được phê duyệt và tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính, tập trung vào việc thực hiện tốt cơ chế một cửa tại các cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế và khắc con dấu cho doanh nghiệp và đã thực hiện đăng ký nhập mã số thế thành mã số doanh nghiệp.
Về tình hình thu hút đầu tư: Hoạt động xúc tiến đầu tư trong năm 2009 đã có sự chuyển hướng tích cực; dự kiến trong năm 2009, có 02 dự án FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đầu tư đăng ký là 28,5 triệu USD; tính đến cuối năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh còn có 15 dự án có vốn FDI với tổng vốn đăng ký gần 3,392 tỉ USD. Có 44 dự án đầu tư trong nước được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 8.580 tỉ đồng. Trong số các dự án được cấp mới trong năm, có một số dự án có qui mô vốn khá lớn như dự án Nhà máy Giấy Tân Mai-Quảng Ngãi (vốn khoảng 1.948 tỉ đồng), dự án Khu Dân cư Sơn Tịnh (vốn đăng ký 1.237 tỉ đồng), Khu dân cư Phú Mỹ (vốn đăng ký khoảng 1.240 tỉ đồng), Nhà máy Nhiệt điện Lý Sơn (vốn đăng ký 220 tỉ đồng), Nhà máy tuyển quặng sắt Vạn Lợi (vốn đăng ký gần 260 tỉ đồng).
II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Phát thanh truyền hình
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn, mừng Đảng, mừng Xuân và phục vụ các sự kiện lớn, tạo không khí thi đua trong đời sống lao động sản xuất, học tập của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Tỉnh đã tổ chức chu đáo, trọng thể các ngày Lễ lớn, đặc biệt là Lễ chào mừng dòng sản phẩm đầu tiên của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, công bố Quy hoạch chi tiết Khu đô thị Vạn Tường và đặt tên đường Võ Văn Kiệt; kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Quảng Ngãi, 50 năm khởi nghĩa Trà bồng và miền Tây Quảng Ngãi, Hội thảo quốc tế 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh,...
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển đều khắp trong tỉnh, chất lượng phong trào ngày được nâng cao. Dự kiến cuối năm 2009 có 60% tổ, thôn đạt tiêu chuẩn văn hoá (kế hoạch: 60-65%); 75% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá (kế hoạch: 75-80%); 85% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hoá (kế hoạch: 85-90%).
Đã tham gia 8 thi đấu các giải thể thao khu vực và toàn quốc, đạt 5 huy chương vàng, 11 huy chương bạc, 12 huy chương đồng; tổ chức thành công nhiều giải thể thao cấp tỉnh.
Hoạt động du lịch có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, số lượng khách đến tham quan, du lịch tại tỉnh tăng so với cùng kỳ năm 2008. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 170 tỷ đồng, tăng 8,28% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng lượt khách ước đạt 300.000 lượt người, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó khách quốc tế ước đạt 20.000 lượt khách.
Các Chương trình phát thanh, truyền hình ngày càng nâng cao về chất lượng, phản ánh sinh động, toàn diện và kịp thời tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các hoạt động chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh; thực hiện 54 chương trình trực tiếp trên 2 sóng phát thanh và truyền hình; đã xây dựng hoàn chỉnh và ra mắt Trang thông tin điện tử tổng hợp trên mạng Internet,... Bên cạnh, việc đảm bảo tiếp âm đầy đủ các chương trình của Đài TNVN và Đài tỉnh, 14 Đài truyền thanh, truyền thanh – phát lại truyền hình huyện, thành phố đều sản xuất và phát sóng mỗi ngày 1 chương trình thời sự tổng hợp với thời lượng 30 phút, đảm bảo phát sóng định kỳ trang truyền hình và truyền thanh địa phương trên sóng Đài tỉnh. Ước đến cuối năm 2009, sóng phát thanh sẽ phủ được 99%, sóng truyền hình phủ được 96% diện tích toàn tỉnh; 99% số dân được nghe đài và 94% số dân được xem truyền hình.
2. Y tế:
Công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tiếp tục được tăng cường. Đến ngày 26/10/2009, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 43 trường hợp dương tính với cúm A/H1N1, không có tử vong; có 2 chùm ca bệnh được xác định (trường THPT Tư Nghĩa 1 và THPT Ba Gia - Sơn Tịnh). Luỹ tích giám sát dịch tễ là 4.417 ca; trong đó số ca vào viện là 2.063 ca, số ca điều trị khỏi, ra viện là 1.993 ca, hiện còn 70 ca đang cách ly, điều trị, tình trạng sức khỏe ổn định.
Công tác khám, chữa bệnh được quan tâm đúng mức; tuy nhiên công suất sử dụng giường bệnh bình quân chung cả tỉnh trên 100%, Bệnh viện Đa khoa tỉnh tiếp tục trong tình trạng quá tải. UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã khánh thành đưa vào sử dụng, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi bắt đầu điều trị bệnh nhân từ tháng 7/2009.
Trong năm, ngành đã kiểm tra 7.176 lượt cơ sở sản xuất - kinh doanh thực phẩm, có 5.754 cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh; xét nghiệm 3.655 mẫu thực phẩm, có 3.335 mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh.
3. Giáo dục và Đào tạo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kiểm tra và quyết định công nhận tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở thời điểm tháng 12 năm 2008. Tiếp tục triển khai xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, dự kiến đến cuối năm 2009 trường mầm non đạt chuẩn đạt tỷ lệ 8%; trường tiểu học đạt chuẩn đạt tỷ lệ 40%; trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đạt chuẩn đạt tỷ lệ 27%.
Công tác chỉ đạo, tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008-2009 diễn ra nghiêm túc, đúng quy chế; toàn tỉnh có 17.155 thí sinh tham gia dự thi, kết quả có 12.590 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, chiếm tỷ lệ 73,38%, tăng 5,89% so với năm học 2007-2008. Đến ngày 15/9/2009, theo thông báo của các trường, Quảng Ngãi có 5.213 thí sinh trúng tuyển vào các trường đại học và cao đẵng đợt 1. Các đơn vị trong tỉnh đã phối hợp với các trường tổ chức cho 5.413 người học đại học, cao đẵng; trong đó, có 4.312 học hệ tại chức, chuyên tu và 1.101 học từ xa; có 376 người đã tốt nghiệp đại học.
Hiện nay, toàn tỉnh có 7.745 phòng học các cấp; trong đó có 3.486 phòng học kiên cố, 3.677 phòng học bán kiên cố và 582 phòng học tạm thời. Thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012, các địa phương đã hoàn thành việc kiểm tra, rà soát và phê duyệt danh mục đầu tư năm 2009 với 342 phòng học và 132 phòng ở công vụ.
4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác quản lý lao động - việc làm - tiền lương, quản lý đào tạo nghề, chính sách thương binh - liệt sĩ và người có công, bảo trợ xã hội - phòng chống tệ nạn xã hội và công tác trẻ em, hoạt động Quỹ bảo trợ trẻ em được triển khai theo kế hoạch. Ngành đã giải quyết 2.820 hồ sơ người có công với cách mạng được hưởng chính sách theo Nghị định 54/2006/NĐ-CP và 914 hồ sơ theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg; dự kiến đến cuối năm xây dựng và sửa chữa 1.405 nhà ở cho người có công với tổng kinh phí 18.307 triệu đồng và 5.545 nhà thuộc diện 167; giải quyết việc làm cho 34.000 lao động, trong đó tạo việc làm mới cho 14.000 lao động; đào tạo nghề ngắn hạn cho 6.673 lao động và dài hạn cho 2.681 lao động. Ước năm 2009 toàn tỉnh đã có 1.100 người đi xuất khẩu lao động, tăng 144,44% so với năm 2008 và bằng 36,7% kế hoạch; trong đó có khoảng 500 lao động thuộc 6 huyện nghèo đi lao động ở nước ngoài.
Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện tốt các hoạt động kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ; phân bổ 6.100 tấn gạo cho các xã khắc phục hậu quả bão lũ năm 2009; tiếp tục triển khai hỗ trợ thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 06 huyện miền núi theo Nghị quyết 30a/2009/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu 21 xã khó khăn vùng bãi ngang ven biển,...
Thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo, ước đến ngày 31/12/2009 số hộ nghèo toàn tỉnh còn 51.691 hộ và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 18%.
5. Khoa học và Công nghệ
Tiếp tục triển khai chương trình khoa học - công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp và 12 đề tài, dự án khoa học - công nghệ cấp tỉnh chuyển tiếp từ năm 2008 sang; triển khai 02 dự án thuộc chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi. Triển khai thực hiện mới năm 2009 gồm 09 đề tài, dự án. Đã tổ chức nghiệm thu 10 đề tài, dự án (có 01 đề tài cấp cơ sở). Tổ chức phổ biến, chuyển giao kết quả nghiên cứu đề tài khoa học - công nghệ cho các cơ quan, đơn vị,...
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ được tăng cường. Đã thực hiện 09 cuộc thanh tra chuyên ngành tại 161 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh, xử phạt vi phạm hành chính 20 cơ sở với số tiền 91,5 triệu đồng; thực hiện giám sát việc tuân thủ các qui định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường tại 12 doanh nghiệp ở KKT Dung Quất và KCN Tịnh Phong.
6. Thông tin và Truyền thông:
Tiếp tục triển khai có hiệu quả kế hoạch, chương trình làm việc năm 2009 gắn với việc ổn định tổ chức bộ máy và hoạt động của ngành; triển khai một số dự án trong năm: Dự án Hội nghị truyền hình, dự án đưa Điện thoại Internet về nông thôn, dự án Cổng giao tiếp điện tử (Portal), dự án Qui hoạch khu công nghệ cao (trọng tâm là khu CNTT tập trung), dự án về nâng cao nhận thức cộng đồng về Công nghiệp CNTT; tiếp tục ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010. Ngành Viễn thông tiếp tục phát triển khá và ổn định so với cùng kỳ năm 2008.
Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực báo chí, xuất bản đã đi vào ổn định, hoạt động của các cơ quan báo chí phần lớn đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích và quy định của pháp luật, công tác thông tin, tuyên truyền đến người dân được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả. Năm 2009, tổng số máy điện thoại có trên mạng ước đạt 1.115.665 máy, tăng 52,18% so với năm 2008; số điện thoại/100 dân ước đạt 85 máy, tăng 51,8% so với năm 2008; số người sử dụng Internet/100 dân ước đạt 30 người, tăng 87,5% so với năm 2008; số cổng Internet ADSL ước đạt 40.000 cổng, tăng 285% so với năm 2008.
7. Công tác dân tộc và miền núi: Các Chương trình dự án và chính sách đối với đồng bào dân tộc và miền núi được các ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện. UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai áp dụng một số chính sách đang thực hiện tại các tỉnh Tây Nguyên đối với 06 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp tục chỉ đạo xây dựng Đề án thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững; đồng thời phân bổ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ năm 2009 cho 6 huyện miền núi đảm bảo đúng nội dung và mục tiêu của chương trình, trước mắt, ưu tiên các chương trình, dự án đã hoàn tất thủ tục và được cấp thẩm quyền phê duyệt. Đến nay, 06 Đề án của 06 huyện miền núi đã được UBND tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện. Tỉnh cũng đang tập trung chỉ đạo các huyện thực hiện đúng mục tiêu, nội dung Chương trình và nhanh chóng kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức để đáp ứng yêu cầu công việc và thực hiện có hiệu quả Chương trình này.
III. LĨNH VỰC NỘI CHÍNH VÀ TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC
1. Công tác Tư pháp:
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh năm 2009. Trên cơ sở Chương trình đã được phê duyệt; các Sở, ban ngành đã chuyển đến Sở Tư pháp đã thẩm định tính pháp lý của 112 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh và tổ chức góp ý 28 dự án luật và dự thảo 05 Nghị định, 03 Thông tư theo yêu cầu của Bộ Tư pháp và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh đạt chất lượng cao. Tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định về Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2009 và tổ chức 04 Hội nghị cấp tỉnh triển khai 10 luật cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và huyện, thành phố.
Trong năm, trung tâm trợ giúp pháp lý đã tiến hành trợ giúp pháp lý lưu động tại 80 xã trên địa bàn tỉnh, qua đó thực hiện tư vấn pháp luật cho 850 vụ việc các loại; cử Luật sư là cộng tác viên thực hiện đại diện, bào chữa trước toà án 120 vụ việc.
2. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác thanh tra:
Năm 2009 đơn khiếu nại, tố cáo giảm 20% so với năm 2008 (4557/5703), nhưng số vụ khiếu nại đông người tăng hơn so với năm 2008 (25 đoàn) và nhiều nhất vẫn là khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; chiếm tỷ lệ nhiều nhất là khiếu nại về thu hồi đất bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư cả về nội dung chính sách và việc thực hiện quy trình thủ tục; địa bàn tập trung nhiều vụ việc là huyện Bình sơn và thành phố Quảng Ngãi. Đến ngày 10/11/2009, tổng số vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh là 112 vụ, đã giải quyết 93 vụ, đạt 83%; các Sở, ngành giải quyết 50/62 vụ, đạt 80,6%; các huyện, thành phố đã giải quyết 208/381 vụ, đạt 54,6%; cấp xã đã hòa giải, giải quyết 605/813 vụ khiếu nại, tranh chấp đất đai, xử lý 02 vụ tố cáo. Qua giải quyết khiếu nai, tố cáo đã xử lý thu hồi ngân sách nhà nước 256,7 triệu đồng, phục hồi quyền lợi cho 24 trường hợp, trả lại cho công dân 4.618m2 đất, xử lý hành chính 10 người, chuyển sang cơ quan điều tra xem xét 1 trường hợp.
Ngành thanh tra đã triển khai 127 cuộc thanh tra, kiểm tra kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước (112 cuộc theo kế hoạch và 15 cuộc đột xuất) và đã kết thúc 99 cuộc thanh tra hành chính tại 230 đơn vị, 67 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành tại 4.579 đơn vị, cơ sở kinh doanh. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện tổng giá trị sai phạm 39,708 tỷ đồng, 99,95 ha đất; đã kiến nghị thu hồi vào ngân sách Nhà nước 11,494 tỷ đồng, 99,95 ha đất; thu cho tập thể 35,75 triệu đồng; kiến nghị xử lý khác 27,797 tỷ đồng; xử phạt vi phạm hành chính 1.791 trường hợp với tổng số tiền trên 2 tỷ đồng,... và đề xuất nhiều kiến nghị chấn chỉnh việc chấp hành chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước.
3. Công tác phòng, chống tham nhũng:
Các ngành, các cấp tiếp tục thực hiện việc tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng đến toàn thể cán bộ, công chức trong tỉnh. Hầu hết các cơ quan, tổ chức trong tỉnh đã kết thúc việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ quan, đơn vị thực hiện kê khai chưa đầy đủ hoặc đã kê khai xong nhưng chưa giao nộp bản kê khai đúng thời gian qui định, nhất là đối với cấp xã thuộc các huyện miền núi. Trong năm, đã triển khai thực hiện 09 cuộc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại 35 đơn vị. Qua thanh tra, đã phát huy những nhân tố tích cực và chấn chỉnh những yếu kém trong việc triển khai thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng của cơ quan, đơn vị và Thủ trưởng.
4. Về An ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội:
Tỉnh đã duy trì nghiêm các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an toàn các mục tiêu; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác diễn tập vận hành cơ chế được thực hiện an toàn, nghiêm túc, đúng kế hoạch; công tác tuyển quân đảm bảo các bước từ vận động, tuyên truyền đến việc giao nhận quân, đạt 100% kế hoạch đề ra. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia. Ban hành các chỉ thị về chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự năm 2009; phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm trong lứa tuổi thanh, thiếu niên; về tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác gia đình và phòng chống bạo lực gia đình; về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong tình hình mới; trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về việc lập Quỹ Quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh,... Mở đợt cao điểm tuyên truyền, tấn công, trấn áp tội phạm ma tuý và tệ nạn ma tuý; xây dựng kế hoạch tổng truy bắt, vận động đầu thú và thanh loại đối tượng truy nã năm 2009. Bắt và vận động đầu thú 66 đối tượng truy nã, có 9 đối tượng nguy hiểm, đặc biệt nguy hiểm.
Lực lượng Công an toàn tỉnh phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội thực hiện đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, tuần tra kiểm soát trên các tuyến và địa bàn trọng điểm, các tụ điểm phức tạp về tai nạn giao thông, hỗ trợ giải toả và xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm về trật tự an toàn giao thông. Tai nạn giao thông được kiềm chế nhưng chưa cơ bản và vững chắc: tai nạn giao thông đường bộ 183 vụ (giảm 20 vụ), chết 167 người (tặng 2 người), bị thương 114 người (giảm 33 người); tai nạn giao thông đường sắt 06 vụ (giảm 2 vụ), chết 6 người (giảm 2 người); tai nạn giao thông đường thủy không xảy ra.
5. Về công tác ngoại vụ:
Công tác xúc tiến, vận động viện trợ phi chính phủ trong năm tiếp tục được duy trì, mở rộng và đạt nhiều kết quả tốt, tổng giá trị viện trợ phi chính phủ nước ngoài đạt trên 53 tỷ đồng với 45 chương trình, dự án thuộc các lĩnh vực hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo, y tế cộng đồng, nước sạch và vệ sinh môi trường, hỗ trợ trẻ em nghèo, người khuyết tật. Công tác Lễ tân - Lãnh sự - Báo chí được thực hiện nhanh, gọn, đảm bảo tính trọng thị, chu đáo; đã hướng dẫn và quản lý hoạt động của 142 đoàn vào với 488 lượt người đến thăm, làm việc, hoạt động nhân đạo, từ thiện và tác nghiệp báo chí, đặc biệt đã tổ chức đón tiếp 7 đoàn khách ngoại giao; cử 46 đoàn với 83 lượt cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đi nước ngoài tham dự hội nghị, hội thảo, tham quan, trao đổi kinh nghiệm và học tập.
Trong năm, tỉnh có 15 tàu và 193 ngư dân bị phía nước ngoài bắt giữ, 01 tàu và 09 ngư dân bị tàu lạ đâm chìm khi đang hành nghề đánh bắt ở khu vực giữa biển Đông, 01 tàu cùng 11 ngư dân mất liên lạc khi đang hành nghề lưới cản tại vùng biển phía Nam, tiếp giáp Malaysia và 09 ngư dân làm việc trên tàu của tỉnh Tiền Giang gặp nạn tại Indonesia. Để kịp thời bảo hộ nhân thân và tài sản cho ngư dân, Sở Ngoại vụ đã phối hợp với BCH Bộ đội biên phòng và các địa phương xác minh, đề nghị Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao và Cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài can thiệp; kết quả đã giải quyết 8 tàu và 144 ngư dân về nước an toàn. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh vẫn còn 20 tàu và 106 ngư dân bị các nước giam giữ (trong đó có tàu và ngư dân bị bắt giữ trong năm 2007, 2008 chuyển sang), các ngành chức năng của tỉnh đang tích cực can thiệp để sớm đưa tàu thuyền và ngư dân về nước.
6. Về công tác tổ chức nhà nước:
UBND tỉnh tập trung chỉ đạo các Sở, ban ngành trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính theo Nghị quyết 17-NQ/TW ngày 01/8/2008 của Hội nghị Trung ương 5 và Nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Ngãi; thực hiện tốt phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa hiện đại trên các lĩnh vực theo qui định của Chính phủ, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, công dân đến quan hệ công tác.
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành và chỉ đạo các ngành, địa phương tiếp tục rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của một số Sở, ban ngành cho phù hợp; tiếp tục thực hiện xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao; từng bước hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo cho các đơn vị hoạt động có hiệu quả. Tiếp tục triển khai một số chính sách về thu hút người có trình độ cao về công tác tại tỉnh; chính sách thu hút sinh viên có trình độ Đại học về công tác tại xã, chính sách hỗ trợ cán bộ điều động, tăng cường, luân chuyển,... Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được chú trọng, nhất là đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ xã, phường, thị trấn và đào tạo sau đại học nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức.
Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính nhà nước giai đoạn 2007-2010; đến nay tỉnh đã tập trung hoàn thành giai đoạn thống kê, công bố thủ tục hành chính với gần 1.100 thủ tục (giai đoạn 1) và hiện đang triển khai quyết liệt giai đoạn 2 là tiến hành rà soát, loại bỏ các thủ tục, công đoạn trùng lắp,...nhằm thực hiện mục tiêu đơn giản hóa cho được ít nhất 30% theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
7. Công tác phối hợp với Mặt trận, các cơ quan Đảng, HĐND tỉnh và các Hội đoàn thể
Thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo với các giải pháp toàn diện, kết hợp với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, quan tâm và chú trọng đến công tác dân tộc và tôn giáo; phát huy vai trò của mặt trận và các Hội, đoàn thể động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. UBND tỉnh luôn nhận thức và đề cao vai trò giám sát của HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND trong quá trình điều hành phát triển kinh tế - xã hội; phối hợp chặt chẽ với thường trực HĐND trong việc chuẩn bị chương trình, nội dung làm việc của kỳ họp HĐND, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh.
B. MỘT SỐ HẠN CHẾ, YẾU KÉM
1. Ngành công nghiệp có tốc độ tăng khá cao nhưng một số sản phẩm có giá trị sản xuất lớn trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Sản xuất công nghiệp còn chậm đi vào chiều sâu, mức độ đổi mới công nghệ, thiết bị còn thấp; sản phẩm một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sức cạnh tranh còn yếu, chưa đáp ứng tốt cho yêu cầu xuất khẩu; hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có quy mô sản xuất - kinh doanh nhỏ bé.
2. Việc triển khai đầu tư và xây dựng một số công trình, dự án trên địa bàn vẫn còn chậm so với kế hoạch đề ra; chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi đất một số nơi chưa thật sát hợp với thực tế. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các dự án nhất là các dự án trên địa bàn thành phố và các dự án sử dụng vốn ODA; là nguyên nhân đã kéo dài nhiều năm nhưng chưa thể giải quyết triệt để, chỉ có thể khắc phục một phần và xử lý từng trường hợp cụ thể để giải quyết vướng mắc tạm thời.
3. Nông nghiệp, nông thôn còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Các phương thức canh tác tiên tiến, nhiều mô hình sản xuất tốt chậm được áp dụng trên diện rộng. Năng suất một số loại cây trồng, vật nuôi và chất lượng sản phẩm nông nghiệp còn thấp. Tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm đang có chiều hướng gia tăng; xử lý rác thải ở các chợ nông thôn, khu dân cư tập trung vẫn còn nan giải. Tỷ trọng chăn nuôi còn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã nhìn chung phát triển chưa mạnh; nhiều hợp tác xã hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp.
4. Kinh tế thủy sản phát triển chưa toàn diện và vững chắc; nuôi trồng thủy sản phát triển chưa ổn định với quy mô nhỏ lẻ; năng lực sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh chỉ mới đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu nên còn tình trạng nguồn giống chưa qua kiểm dịch được thả nuôi còn nhiều, dễ dẫn đến tình trạng dịch bệnh. Tình trạng vận chuyển, buôn bán, sử dụng chất nổ để đánh bắt hải sản vẫn còn diễn ra. Hiện tượng tàu thuyền ngư dân của tỉnh bị nước ngoài bắt giữ, tịch thu phương tiện và phạt tiền vẫn thường xuyên xảy ra.
5. Công tác bảo vệ môi trường bước đầu có chuyển biến về nhận thức và hành động; tuy nhiên, trong chỉ đạo, quản lý các địa phương vẫn còn lúng túng, nhất là xác định vị trí và triển khai bãi chôn lấp chất thải rắn, xây dựng mô hình tổ chức thu gom, xử lý rác thải, phương thức hoạt động quản lý sử dụng tài sản mua sắm từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các doanh nghiệp đạt tỷ lệ thấp, chưa đi vào nề nếp.
6. Công tác xã hội hóa về giáo dục, y tế, hoạt động văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng, chưa có giải pháp hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Phát triển giáo dục ở miền núi và vùng dân tộc còn nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất trường học tuy có khang trang hơn và có bước tiến rõ rệt song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mạng lưới trường lớp ở các cấp học, ngành học nhất là ở ngành học mầm non tiểu học và THCS ở miền núi. Tỉ lệ huy động trẻ học mẫu giáo còn thấp, thu nhập của giáo viên mẫu giáo ngoài công lập ở vùng nông thôn chưa thực sự đảm bảo cuộc sống. Tỉ lệ đi học bậc THCS và THPT ở các huyện miền núi còn thấp so với các huyện đồng bằng. Hiệu quả đào tạo ở bậc tiểu học và THCS của miền núi cũng thấp chỉ mới đạt từ 41-68 %. Giáo viên THCS và THPT còn thiếu, nên tỉ lệ GV/lớp chưa đủ định mức qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
7. Qui mô, chất lượng, cơ cấu đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Nguồn nhân lực có chất lượng còn thiếu, tác phong và ý thức lao động công nghiệp hạn chế. Chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, tình trạng lao động không có hoặc thiếu việc làm, nhất là thanh niên đến tuổi lao động đang là vấn đề đáng quan tâm. Một số trung tâm dạy nghề thiết bị dạy nghề còn thiếu, lạc hậu chưa theo kịp yêu cầu đổi mới công nghệ của các ngành kinh tế. Mạng lưới dạy nghề tuy có tăng hơn trước về số lượng, nhưng phân bổ không đồng đều. Hầu hết các huyện chưa có trung tâm dạy nghề, trong khi đó nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt đào tạo nghề cho lao động nông thôn chuyển đổi ngành nghề.
8. Chất lượng khám chữa bệnh ở một số cơ sở y tế chưa cao; tinh thần, thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ y tế còn yếu, chậm được khắc phục; cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện khám chữa bệnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của nhân dân. Nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được đẩy lùi và khống chế song lại phát sinh nhiều bệnh dịch mới nguy hiểm như cúm A/H1N1, H5.N1, các bệnh ung thư, bệnh tim mạch, nội tiết, rối loạn chuyển hoá ngày càng gia tăng. Số lương cán bộ vẫn còn thiếu nhiều so với nhu cầu, nhất là bác sỹ và dược sỹ đại học; công tác đào tạo cán bộ y tế tại tỉnh có tăng về mặt số lượng nhưng chỉ số cán bộ đại học trên vạn dân còn thấp.
9. Các hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sản xuất chưa tập trung mạnh vào kinh tế nông nghiệp và nông thôn, chưa thúc đẩy mạnh mẽ việc áp dụng các công nghệ mới, hoạt động chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách Nhà nước. Số đề tài được nghiệm thu đưa vào sản xuất thử để nhân rộng còn quá ít; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên cứu vừa thiếu vừa lạc hậu. Số doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quản lý tiên tiến khác chưa nhiều.
10. Công tác cải cách hành chính có cải thiện nhưng vẫn còn chậm, vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, công việc lẫn nhau; hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao; việc triển khai áp dụng cơ chế một cửa tại UBND cấp xã, một số cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện chưa được đồng bộ; từng lúc, từng nơi kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa thực hiện nghiêm; sự nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân khi phải tiếp xúc giải quyết công việc với các cơ quan công quyền vẫn còn xảy ra.
Nhìn chung, năm 2009 kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá cao; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá: giảm tỷ trọng ngành nông - lâm – ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng; Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã bắt đầu đi vào hoạt động đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh và tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh. Nhiều dự án đầu tư bước đầu phát huy hiệu quả thiết thực, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; các chính sách kích cầu của Chính phủ đã bắt đầu phát huy tác dụng. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, các ngày lễ lớn của tỉnh được tổ chức chu đáo, trọng thể; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững,... đã góp phần làm cho tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm ổn định và có chiều hướng phát triển tốt.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng suy giảm kinh tế thế giới nên tình hình thu hút đầu tư và triển khai các dự án có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn; thời tiết diễn biến thất thường, nhiều đợt mưa lớn kéo dài trong thời gian qua và bão lũ đã gây thiệt hại nặng về người, tài sản và hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh; tình hình tai nạn giao thông vẫn gia tăng; công tác cải cách hành chính tiến hành chưa đồng bộ, một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện theo kế hoạch của UBND tỉnh,... Đây chính là những khó khăn không nhỏ, cần phải tập trung chỉ đạo khắc phục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2010
Năm 2010, kinh tế của tỉnh còn nhiều khó khăn, thách thức. Trước hết là tình hình suy giảm kinh tế năm 2009 vẫn còn ảnh hưởng; lạm phát có nguy cơ tăng lên; đời sống nhân dân nhất là vùng bão lũ còn nhiều khó khăn. Sức cạnh tranh của nền kinh tế và của nhiều doanh nghiệp còn ở mức thấp. Chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu lao động tay nghề cao; kết cấu hạ tầng kinh tế chưa bảo đảm yêu cầu phát triển. Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể còn diễn biến phức tạp. Năm 2010 cũng là năm nhiều cam kết gia nhập WTO đến thời hạn thực thi, nhất là cam kết về mở cửa lĩnh vực dịch vụ, tài chính, bán lẻ, tạo ra thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chỉ đạo và thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", an ninh biển Đông diễn biến phức tạp, hoạt động truyền đạo trái phép trên địa bàn tỉnh,...
Bên cạnh nhưng khó khăn, thách thức trên, bước vào năm 2010 tỉnh cũng có những thuận lợi nhất định: Những kết quả đạt được về phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua; những cơ chế chính sách được ban hành đã đi vào cuộc sống, góp phần giải phóng sức sản xuất, huy động nhiều hơn các nguồn lực cho phát triển và giải quyết tốt hơn các vấn đề về kinh tế, xã hội, môi trường. Sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ có hiệu quả về nhiều mặt của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương (Các chính sách và giải pháp kích cầu, các chương trình hỗ trợ có mục tiêu, chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 06 huyện miền núi theo Nghị quyết 30a/2009/NQ-CP của Chính phủ,…) là điều kiện rất quan trọng để tỉnh ta đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển.
Việc thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2010 sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thành kế hoạch 5 năm 2006-2010 theo các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 17 và Nghị quyết số 30/2006/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh đã đề ra.
I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Tiếp tục triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp đã được Trung ương và UBND tỉnh ban hành về việc thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư, tiêu dùng nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển và bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2010 của tỉnh ở mức 34-35%, đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006-2010 vượt mức 17-18% như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 17 đề ra.
II. CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1. Chỉ tiêu kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng GDP : 34 - 35%.
- GDP bình quân đầu người : 20,4 triệu đồng/người/năm
(1.198 USD/người/năm)
- Giá trị sản xuất (giá so sánh 1994):
+ Nông - lâm - ngư nghiệp tăng : 4 – 4,5%
+ Công nghiệp - xây dựng tăng : 89-90%
+ Dịch vụ tăng : 14 - 15%
- Cơ cấu kinh tế:
+ Công nghiệp - xây dựng : 55 - 56%
+ Dịch vụ : 25 - 26%
+ Nông - lâm - ngư nghiệp : 19 - 20%
- Sản lượng lương thực có hạt : 448.821 tấn.
- Sản lượng mía cây : 344.500 tấn.
- Sản lượng thuỷ sản chế biến : 7.000 tấn.
- Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng: 99.700 tấn.
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ : 16.800 tỷ đồng.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu : 230 triệu USD.
- Giá trị kim ngạch nhập khẩu : 3.500 triệu USD.
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn : 14.310 tỷ đồng.
- Tổng chi ngân sách địa phương : 4.049,52 tỷ đồng.
- Tổng vốn đầu tư phát triển : 16.968 tỷ đồng.
2. Chỉ tiêu xã hội
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên : 0,90 %.
- Tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm 35.000 lao động.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề so với tổng số lao động: 28%.
- Tỷ trọng cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế:
+ Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản : 61 - 62%
+ Công nghiệp - xây dựng : 17 - 18%
+ Dịch vụ : 21 - 22%
- Tỷ lệ trạm Y tế có bác sỹ : 70%
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn 20%.
- Số giường bệnh/1vạn dân là 16 giường.
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS: 100%
- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia:
+ Mầm non : 10%
+ Tiểu học : 50%
+ THCS & THPT : 40%
- Tỷ lệ đạt chuẩn văn hoá:
+ Gia đình văn hoá : 80 - 85%
+ Thôn, tổ dân phố : 70 - 75%
+ Cơ quan : 90 - 95%
- Tỷ lệ phủ sóng phát thanh : 100%
- Tỷ lệ phủ sóng truyền hình : 100%
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện : 99%.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15% (theo chuẩn hiện nay).
3. Chỉ tiêu về môi trường
- Tỷ lệ độ che phủ rừng : 45%.
- Tỷ lệ dân đô thị dùng nước sạch : 100%.
- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh: 85%.
- Tỷ lệ xử lý rác thải, chất thải rắn ở Khu kinh tế, Khu công nghiệp: 55%.
- Tỷ lệ cây xanh đô thị (TP Quảng Ngãi và các thị trấn): 60%.
4. Chỉ tiêu về quốc phòng - an ninh
- Bảo đảm đạt 100% chỉ tiêu tuyển quân.
- Lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,5% so với tổng dân số.
- Diễn tập vận hành cơ chế cho 20% số huyện, 30% xã, phường, thị trấn.
- Xây dựng 85-90% xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng - an ninh.
III. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU
1. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng 19-20%, công nghiệp và xây dựng 55-56%, dịch vụ 25-26%. Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và từng sản phẩm. Bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của toàn ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở mức 4 - 4,5%. Tăng mạnh đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, mở rộng các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của Khu kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp của tỉnh và nhu cầu chung của xã hội.
2. Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đảm bảo tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt trên 16.000 tỷ đồng. Tận dụng nội lực, vận dụng ngoại lực nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh. Tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm của tỉnh, các công trình có khả năng đưa vào sử dụng năm 2010. Đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các dự án trong khu kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp và công trình trọng điểm của tỉnh. Tiếp tục chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng. Sử dụng có hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ giải ngân các nguồn vốn ODA; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham ô, lãng phí, đảm bảo chất lượng công trình.
3. Nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với học sinh, sinh viên. Phát triển nhanh nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh xã hội hóa để huy động tốt hơn các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao.
4. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm. Triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại 6 huyện miền núi của tỉnh theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu Quốc gia; các chương trình, dự án và các giải pháp, chính sách an sinh xã hội đã ban hành để hỗ trợ sản xuất, ổn định đời sống đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng bị thiên tai. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn Quốc gia còn dưới 15% trên tổng số hộ dân cư.
5. Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững đạt mức tăng trưởng bình quân chung cho cả thời kỳ 2006-2010 trên 18%. Đẩy mạnh xã hội hoá và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác bảo vệ môi trường. Tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các khu vực: Khu kinh tế Dung Quất, các Khu công nghiệp của tỉnh, các cụm công nghiệp - làng nghề, các dự án nuôi tôm trên cát,... nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường và có biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường.
6. Thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2008 của Hội nghị Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; từng bước nâng cao chất lượng của cơ chế một cửa liên thông theo hướng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức và công dân; đẩy nhanh tiến trình áp dụng một cửa liên thông trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ, việc vi phạm.
7. Duy trì chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an toàn các mục tiêu trọng điểm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy trong mùa khô, bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy ở các Khu công nghiệp, Khu Kinh tế Dung Quất, đặc biệt là Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Tăng cường công tác bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển, tập trung lực lượng, phương tiện đấu tranh phòng, chống tàu thuyền nước ngoài xâm phạm lãnh hải trái phép và sử dụng vật liệu nổ đánh bắt hải sản. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền những quy định, thông ước quốc tế về khai thác, đánh bắt thuỷ sản đối với ngư dân đánh bắt xa bờ nhằm hạn chế tối đa tình trạng đánh bắt thuỷ sản trái phép dẫn đến nguy hại tính mạng và tài sản của ngư dân.
IV. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh
Tiếp tục thực hiện mạnh mẽ các giải pháp chính sách nhằm cải thiện môi trường, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho đầu tư và sản xuất, kinh doanh phát triển, khắc phục những yếu kém của nền kinh tế, tạo chuyển biến về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả đầu tư và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Có chính sách phù hợp để giải quyết vướng mắc kéo dài trong thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Đơn giản hơn nữa và công khai mọi quy trình, thủ tục hành chính. Rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và đầu tư. Thực hiện có hiệu quả các chính sách, biện pháp hỗ trợ cho hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Quản lý chặt chẽ và tổ chức thực hiện đúng tiến độ các công trình, dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước; tăng cường công tác giám sát, thanh tra nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Tăng cường công tác theo dõi và đánh giá việc thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước. Có cơ chế xử phạt các chủ dự án và cơ quan chủ quản không gửi báo cáo về tình hình thực hiện dự án đầu tư hoặc gửi báo cáo không đầy đủ thông tin theo như quy định.
Ban hành cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của các thành phần kinh tế. Khuyến khích đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nông nghiệp, nông thôn, các ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ cao. Tiến hành đồng bộ sáu nhóm giải pháp về thu hút và quản lý vốn FDI đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 07/4/2009. Tăng cường vận động xúc tiến đầu tư tại địa bàn trọng điểm, tập trung vào các đối tác lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia để kêu gọi đầu tư vào các dự án, lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Chủ động tiếp cận, hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh việc giải ngân các nguồn vốn ODA; tạo điều kiện thuận lợi và thực hiện có hiệu quả các dự án ODA.
Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sức cạnh tranh của sản phẩm.
2. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ xã hội, tăng cường phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính, bảo đảm cho nhiệm vụ quan trọng và là khâu đột phá này có bước tiến mới về chất nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Hoàn thành việc thực hiện Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ.
Các địa phương và các ngành phải tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư và doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính; chủ động giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn và kiên quyết chống những biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu, làm khó cho doanh nghiệp. Rà soát lại các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực như: đầu tư, đăng ký kinh doanh, xây dựng, đất đai, thuế,… để kiến nghị Trung ương sửa đổi, bãi bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, bất hợp lý.
Xây dựng các quy chế, quy định cụ thể để quản lý cán bộ và thuận lợi cho việc kịp thời thay thế, miễn nhiệm cán bộ năng lực, phẩm chất kém, không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín, có sai phạm và phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đề bạt được cán bộ có đức, có tài, trẻ, cán bộ nữ vào các vị trí phù hợp. Chỉ đạo, thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, sắp xếp, bố trí, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa cán bộ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước các cấp để có đủ kỹ năng và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức. Tiếp tục thực hiện việc đổi mới cơ chế sắp xếp và bổ nhiệm nhân sự theo hướng nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức.
Tổ chức thực hiện tốt Luật phòng, chống tham nhũng, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020. Đảm bảo công khai, minh bạch trong trong xây dựng và thực thi các chính sách và pháp luật của nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; phối hợp thật tốt giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, nhất là khi giải quyết các trường hợp có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí. Kiên quyết xử lý nghiêm kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật các vụ việc tham nhũng, tịch thu tài sản tham nhũng. Phát huy vai trò của nhân dân, các đoàn thể chính trị - xã hội, của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; có chính sách, biện pháp bảo vệ người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí...
Xây dựng chương trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết nhanh các vụ khiếu nại, tố cáo có tính chất phức tạp, kéo dài,... Đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong đấu tranh chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quản lý, giám sát thu nhập của cán bộ, công chức, nhất là những người có chức, có quyền. Thực hiện tốt chủ trương chuyển đổi, luân chuyên cán bộ và vị trí công tác của cán bộ, công chức.
3. Thực hiện các giải pháp chính sách để tạo việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và các lĩnh vực xã hội khác.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp chính sách tạo thêm việc làm mới bao gồm các giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thành lập các doanh nghiệp mới, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động; phát triển thị trường lao động; tăng cường cho vay giải quyết việc làm; duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm,...
Triển khai thực hiện đề án dạy nghề cho người lao động, nhất là lao động nông thôn, lao động thất nghiệp; mở rộng các hình thức dạy nghề, hỗ trợ cho vay để học nghề, tạo việc làm.... Tiến hành giám sát tác động xã hội thông qua tiến hành điều tra lao động định kỳ.
Tập trung giảm nghèo nhanh, bền vững ở các huyện có tỉ lệ hộ nghèo cao theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Thường xuyên theo dõi và đánh giá việc thực hiện chương trình này để đảm bảo hỗ trợ đúng mục tiêu và có hiệu quả.
Bảo đảm thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế cho người nghèo. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ các gia đình chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng bị thiên tai, đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương xây dựng nhà ở cho sinh viên từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.
4. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các ngành và vùng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả
4.1. Về phát triển các ngành
Các ngành, các cấp và các địa phương cần triển khai thực hiện tốt Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản, trước hết là việc tiêu thụ nông sản của một số ngành hàng có lượng hàng hoá lớn và sản xuất tập trung như: lúa gạo, thủy sản và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.
Hỗ trợ phát triển ngành, nghề để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa, tăng tỷ trọng chăn nuôi; phát triển các hợp tác xã chuyên canh mía gắn với chăn nuôi bò,... Hình thành và phát triển các vùng sản xuất chuyên canh như mía, mì, gỗ nguyên liệu,.. gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo cho các vùng nguyên liệu phát triển ổn định, bền vững.
Tăng cường việc áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các giống mới cho năng suất, chất lượng cao và đẩy mạnh công tác cải tạo giống vật nuôi làm cho cây trồng vật nuôi phát triển tốt. Mặt khác, cần tăng cường công tác dự tính, dự báo về tình hình sâu, bệnh ở cây trồng và vật nuôi; tiêm phòng cho gia súc, gia cầm; thực hiện tốt công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ gia súc. Đặc biệt chú trọng công tác phòng chống dịch LMLM ở gia súc và dịch cúm gia cầm, hạn chế nguy cơ tái phát.
Trên cơ sở quy hoạch các loại rừng, triển khai thực hiện các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng, chú ý trồng rừng phòng hộ, đẩy mạnh trồng rừng kinh tế. Hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân. Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Xử lý kiên quyết và có hiệu quả nạn phá rừng và chống người thi hành công vụ bảo vệ rừng.
Phát triển toàn diện kinh tế biển của tỉnh theo Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa X và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Phát triển số lượng tàu thuyền theo hướng nâng cao công suất gắn với đầu tư trang thiết bị, ngư lưới cụ tiên tiến nhằm nâng cao năng lực đánh bắt xa bờ. Khai thác thủy sản đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kết hợp bảo vệ chủ quyền lãnh hải tổ quốc. Đẩy mạnh chuyển đổi, đa dạng hóa ngành nghề đánh bắt, hạn chế khai thác ven bờ, không để ngư dân xâm phạm lãnh hải các nước khác.
Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng toàn diện, mở rộng quy mô, đa dạng đối tượng nuôi, chú ý các sản phẩm có giá trị cao, phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo môi trường, tăng nhanh tỷ trọng nuôi trồng trong cơ cấu kinh tế ngành. Phát triển nuôi trồng thủy sản trên cơ sở qui hoạch, diện tích đất có khả năng nuôi trồng theo hướng công nghiệp, bền vững, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Phải tạo bước đột phá để công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – làng nghề phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế do sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất mang lại. Tập trung những sản phẩm có thị trường và khả năng cạnh tranh cao. Khuyến khích phát triển các sản phẩm xuất khẩu. Phấn đấu giảm chi phí sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp. Trên cơ sở vốn đầu tư từ ngân sách cấp, cần tạo thêm nhiều kênh vốn khác nhau để đẩy nhanh tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp của tỉnh để thu hút có lựa chọn các nhà đầu tư đủ năng lực tài chính, công nghệ đảm bảo môi trường,...
Tiếp tục nghiên cứu và rà soát nhu cầu thị trường và biện pháp thu mua nguyên liệu để xây dựng các cơ sở sản xuất thủy, hải sản tại các cảng cá hiện có nhằm phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ, hải sản của tỉnh. Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh các cơ sở chế biến thủy sản, tăng nhanh sản phẩm xuất khẩu; chú trọng khôi phục và phát triển các ngành nghề chế biến thủy sản truyền thống để phục vụ khách du lịch.
Trước mắt, tập trung vào việc xin chủ trương và triển khai quy hoạch mở rộng Khu kinh tế Dung Quất; điều chỉnh các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề; quản lý tốt các quy hoạch phát triển công nghiệp và thực hiện các cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bố trí ngân sách hợp lý cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh, cụm tiểu thủ công nghiệp – làng nghề ở một số địa phương; đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp cần ưu tiên.
Tập trung phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch, coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế để phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính – viễn thông, vận tải, kho bãi, nhà ở và một số dịch vụ khác; đồng thời, đầu tư nâng cấp, mở rộng mạng lưới chợ vùng, chợ nông thôn, miền núi, tiếp tục hình thành các cơ sở thương mại, dịch vụ ở đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế Dung Quất; tập trung đầu tư và khuyến khích đầu tư phát triển các khu, điểm, tuyến du lịch, sản phẩm du lịch,… Hoàn thành các khu du lịch trọng điểm: Mỹ Khê, Khe Hai, Sa Huỳnh và kêu gọi đầu tư các khu du lịch: Vạn Tường, Cà Đam – Nước Trong,…Rà soát các dự án chậm triển khai để có kế hoạch hỗ trợ hoặc thu hồi dự án.
4.2. Về phát triển các vùng kinh tế
Hình thành vùng kinh tế động lực bao gồm thành phố Quảng Ngãi, Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp của tỉnh. Quy hoạch mở rộng Khu kinh tế Dung Quất gắn với quy hoạch mở rộng thành phố Quảng Ngãi về phía Bắc, đầu tư phát triển thị trấn Đức Phổ theo hướng trở thành thị xã trực thuộc tỉnh.
Đẩy mạnh tốc độ đầu tư cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp - làng nghề; rà soát, điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách để thu hút đầu tư phù hợp với tình hình hiện nay theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào các Khu công nghiệp của tỉnh; kêu gọi đầu tư vào khu công nghiệp Phổ Phong.
Vùng đồng bằng, ven biển và hải đảo phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, trọng tâm là hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến
Đối với tiểu vùng đồng bằng: ổn định diện tích sản xuất lương thực (chủ yếu là diện tích lúa đã chuyển đổi). Phát triển cây mía, chú ý ổn định diện tích mì, điều ghép, cao su, cây rau quả...; đẩy mạnh chăn nuôi bò, lợn, gia cầm,… nhằm cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thực phẩm cho các vùng khác; đồng thời hình thành vành đai nông nghiệp phục vụ Khu kinh tế Dung Quất.
Đối với tiểu vùng ven biển và hải đảo: phát triển tổng hợp kinh tế biển, trọng tâm là phát triển đánh bắt xa bờ, phát triển nuôi trồng thuỷ sản; chú trọng khai thác cảng biển, phát triển công nghiệp đóng, sửa chữa tàu thuyền và dịch vụ nghề cá; phát triển ngành sản xuất muối phục vụ cho công nghiệp và tiêu dùng; đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi; thâm canh cây công nghiệp ngắn ngày, trồng các loại rau, đậu, hành, tỏi,...
Nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi là giảm nghèo và nâng cao trình độ dân trí. Lấy phát triển nông-lâm nghiệp làm cơ sở để ổn định kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại. Tiếp tục khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, ngô. Bảo vệ rừng và phát triển rừng kinh tế, nhất là rừng nguyên liệu; đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, chú trọng là giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, phát thanh truyền hình, trường học, trạm xá, nước sinh hoạt, đất sản xuất,...
5. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị định số 152/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về khu vực phòng thủ. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội có hiệu quả. Tăng cường vận động nhân dân và bằng các biện pháp thích hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,...để gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Tăng cường công tác bảo vệ an ninh vùng biển, tập trung lực lượng, phương tiện đấu tranh phòng, chống tàu thuyền nước ngoài xâm phạm lãnh hải trái phép. Đấu tranh ngăn chặn việc sử dụng vật liệu nổ đánh bắt hải sản. Chú trọng công tác phòng, chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn trên biển. Tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.
Trên đây là báo cáo tình hình ước thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2009 và định hướng kế hoạch năm 2010 của tỉnh Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân tỉnh kính báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh./.
- Giới thiệu Tỉnh
- Địa chí Quảng Ngãi
- Dân số lao động
- Cơ sở hạ tầng
- Văn hóa
- Bộ máy Tổ chức
- Sơ đồ tổ chức
- Chức năng
- Nhiệm vụ - quyền hạn
- Tổ chức hoạt động
- Thành viên
- Quy chế làm việc
- Phân công nhiện vụ
- Sơ đồ tổ chức
- Chức năng, nhiệm vụ
- Tổ chức. hoạt động
- Ban thường trực
- Tổ chức thành viên
- Danh sách Chủ tịch
- Sở Ban Ngành
- Huyện, thành phố
- Thông tin chuyên đề
- Hợp tác đầu tư
- Du lịch
- Văn học nghệ thuật

Báo cáo năm 2009

