BÁO CÁO
Đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 09/01/2009
của Chính Phủ và dự kiến các giải pháp thực hiện kế hoạch 2010
Bước vào thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2009, bên cạnh những những thuận lợi đã đạt được trong năm 2008, kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi cũng gặp không ít khó khăn, thách thức lớn do ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng tài chính toàn cầu, suy giảm kinh tế thế giới, thiên tai, lũ lụt. Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định và tập trung tổ chức thực hiện các giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2009, trong đó tập trung thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị Quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 và Nghị quyết số 01/NQ-CP, ngày 09/01/2009 của Chính phủ.
PHẦN I
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 01/NQ-CP
I. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển, ngăn chặn suy giảm kinh tế
1. UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị Doanh nghiệp đầu năm 2009; đã chỉ đạo các Sở, Ban, ngành tỉnh và các đơn vị liên quan triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; giao Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Quảng Ngãi, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Quảng Ngãi tổ chức tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, thực hiện bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, phát triển, hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm và kiểm tra việc thực hiện hỗ trợ lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng theo quy định của Chính phủ.
Tính đến 30/9/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất các khoản vay ngắn hạn đến cuối tháng đạt 2.256 tỷ đồng/1.382 khách hàng, chiếm tỷ trọng 20,24%/tổng dư nợ, số luỹ kế cho vay hỗ trợ lãi suất trong 8 tháng (từ 01/02/2009 đến 30/9/2009) là 36 tỷ đồng /19.115 khách hàng; dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất các khoản vay trung, dài hạn đến cuối tháng đạt 430 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,85% tổng dư nợ với số lãi tiền vay đã hỗ trợ cho 4.315 khách hàng là 1,9 tỷ đồng; dư nợ cho vạy ưu đãi lãi suất đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đạt 12 tỷ đồng/858 khách hàng.
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục đẩy mạnh cho vay xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, cho vay nông nghiệp - nông thôn, cho vay đối với thành phần kinh tế dân doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tính đến ngày 20/10/2009, dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 358 tỷ đồng, chiếm 3,21% tổng dư nợ; dư nợ cho vay nhập khẩu 1.913 tỷ đồng, chiếm 17,16% tổng dư nợ; dự nợ cho vay nông nghiệp – nông thôn đạt 4.267 tỷ đồng, chiếm 38,29% tổng dư nợ; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 2.386 tỷ đồng, chiếm 21,41% tổng dư nợ.
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã chấp hành tốt cơ chế lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước ban hành, đã ấn định lãi suất kinh doanh trên cơ sở lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước; mặt bằng lãi suất của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn có chiều hướng ổn định, khả năng thanh khoản của các ngân hàng đã tốt hơn so với cuối năm 2008.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai kế hoạch thành lập Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 30%, đồng thời huy động nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh.
2. Về nguồn vốn đầu tư phát triển
a) Phân bổ dự toán vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn NSNN năm 2009:
Kế hoạch năm 2009 tỉnh Quảng Ngãi được Trung ương giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn vốn trong nước là 845,89 tỷ đồng, trong đó:
- Chương trình mục tiêu: 93,958 tỷ đồng
- Hỗ trợ có mục tiêu: 378,402 tỷ đồng
- Vốn trong cân đối: 373,53 tỷ đồng.
Tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức triển khai và giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2009 như sau:
- Chương trình mục tiêu (phần đầu tư phát triển): 93,958 tỷ đồng, trong đó:
+ Chương trình giảm nghèo: 16,8 tỷ đồng
+ Chương trình một số bệnh XH và bệnh dịch nguy hiểm: 1,5 tỷ đồng
+ Chương trình nước sạch: 9,35 tỷ đồng
+ Chương trình văn hóa: 3,6 tỷ đồng
+ Chương trình việc làm: 1 tỷ đồng
+ Chương trình 135: 38,25 ty đồng
+ Dự án 5 triệu ha rừng: 23,458 tỷ đồng
- Hỗ trợ có mục tiêu: 378,402 tỷ đồng, trong đó:
+ Chương trình giống thủy sản, giống nông nghiệp: 9 tỷ đồng
+ Hỗ trợ theo Quyết định 193: 4 tỷ đồng
+ Hỗ trợ đầu tư các trung tâm cụm xã: 3 tỷ đồng
+ Vốn đối ứng các dự án ODA: 22 tỷ đồng
+ Hỗ trợ có mục tiêu theo Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị: 73,3 tỷ đồng
+ Hạ tầng huyện mới tách Tây Trà: 10 tỷ đồng
+ Y tế tuyến tỉnh, huyện: 12 tỷ đồng
+ Hạ tầng KCN: 14 tỷ đồng
+ Hạ tầng du lịch: 15 tỷ đồng
+ Trụ sở xã: 4 tỷ đồng
+ Đầu tư khác: 54 tỷ đồng
+ Chương trình biển đông hải đảo: 30,5 tỷ đồng
+ Đề án TH cơ quan Đảng: 3,602 tỷ đồng
+ Hỗ trợ Trường Đại học: 20 tỷ đồng
+ Hạ tầng Khu kinh tế: 104 tỷ đồng.
- Vốn trong cân đối: 373,53 tỷ đồng, trong đó:
+ Cân đối các dự án thực hiện bằng nguồn thu tiền sử dụng đất cho các huyện thành phố: 150 tỷ đồng
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp công ích: 2,73 tỷ đồng
+ Trả nợ vay Ngân hàng Phát triển thực hiện Chương trình KCH KM, GTNT: 24 tỷ đồng
+ Trả phí tạm ứng KBNN năm 2008: 3,6 tỷ đồng
+ Trả nợ nguồn tạm ứng KBNN năm 2008: 193,2 tỷ đồng
Tổng vốn tỉnh đã tạm ứng Kho bạc Nhà nước năm 2008 là 284,5 tỷ đồng nhưng mới hoàn trả 193,2 tỷ đồng, còn thiếu 91,3 tỷ đồng. Ngoài ra nhu cầu đầu tư phát triển của tỉnh năm 2008 (ngoài nguồn vốn Chương trình mục tiêu và hỗ trợ có mục tiêu của Trung ương) còn thiếu tối thiểu khoảng 407,8 tỷ đồng. Do đó UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh tạm ứng KBNN đáp ứng nhu cầu kế hoạch năm 2009 là 500 tỷ đồng và nguồn thu từ hoạt động xổ số kiến thiết năm 2009 là 25 tỷ đồng, trong đó:
+ Trả nợ nguồn tạm ứng KBNN năm 2008: 91,3 tỷ đồng
+ Các dự án chuẩn bị đầu tư: 2 tỷ đồng
+ Trả nợ khối lượng và các dự án quyết toán: 14 tỷ đồng
+ Trả nợ các dự án hoàn thành năm 2008: 29,3 tỷ đồng
+ Cân đối bổ sung vốn đối ứng các dự án ODA: 16 tỷ đồng
+ Phân cấp cho các huyện, thành phố: 77,5 tỷ đồng
+ Cân đối các dự án chuyển tiếp: 160,4 tỷ đồng
+ Các dự án khởi công mới: 94 tỷ đồng
+ Hạ tầng KKT Dung Quất: 15,5 tỷ đồng
+ Nguồn thu xổ số kiến thiết cân đối cho các dự án y tế, giáo dục là 25 tỷ đồng.
Như vậy, tổng vốn đầu tư phát triển năm 2009, tỉnh đã phân bổ là 1.370,89 tỷ đồng trong đó nguồn trung ương giao là 845,89 tỷ đồng, 25 tỷ đồng vốn xổ số kiết thiết và 500 tỷ đồng tỉnh tạm ứng KBNN. Tỉnh đã phân bổ cho các ngành và lĩnh vực như sau: Ngành công nghiệp 17%, ngành nông lâm ngư: 13,4%, ngành giao thông vận tải: 30,6%, ngành thương mại – du lịch: 2%, ngành văn hóa thông tin – phát thanh truyền hình: 3,23%, ngành y tế - xã hội: 10,7%, ngành giáo dục – đào tạo: 8,8%, ngành công cộng 1,8%, ngành khoa học công nghệ: 1,3%, ngành an ninh quốc phòng: 5,8%, ngành quản lý nhà nước: 5,3% tổng kế hoạch vốn.
Mặc dù tỉnh đã tạm ứng 500 tỷ đồng để cân đối kế hoạch năm 2009 nhưng đối với các dự án có khả năng hoàn thành trong năm 2009 cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu vốn các công trình cần hoàn thành trong năm 2009.
b) Do nhu cầu đầu tư phát triển của địa phương rất lớn, trong khi đó khả năng huy động nguồn lực còn khó khăn, nguồn vốn Trung ương cân đối trong dự toán năm 2009 chỉ đáp ứng một phần. Trong tháng 8/2009, Trung ương đã ứng trước cho tỉnh 321 tỷ đồng để bổ sung cho các mục tiêu như sau:
- Bổ sung các xã khu vực II của các huyện, nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP: 5,1 tỷ đồng.
- Hạ tầng Khu Kinh tế Dung Quất 150 tỷ đồng.
- Trường Đại học Phạm Văn Đồng: 60 tỷ đồng.
- Bệnh viện Đa khoa tỉnh: 60 tỷ đồng.
- Dự án nâng cao năng lực PCCR: 3 tỷ đồng.
- Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng: 3 tỷ đồng.
- Vốn đối ứng ODA: 20 tỷ đồng.
- Các dự án xây dựng Trung tâm cụm xã; 20 tỷ đồng.
Nguồn vốn tạm ứng này, UBND tỉnh đã phân khai ngay cho các huyện, thành phố, các Sở, ngành. Hiện các đơn vị đang tập trung triển khai thực hiện.
3. Về vốn Trái phiếu Chính phủ
Tổng vốn Trái phiếu Chính phủ Trung ương bố trí đến tháng 10/2009 là 856,030 tỷ đồng, tỉnh đã phân khai:
- 16 công trình giao thông, kế hoạch 1.019,92 tỷ đồng.
- 16 công trình thủy lợi, kế hoạch 124 tỷ đồng.
- 09 công trình y tế, kế hoạch 45 tỷ đồng.
- 01 công trình tái định cư, kế hoạch 160,92 tỷ đồng.
- Đề án kiến cố hóa giáo dục, kế hoạch 21,1 tỷ đồng.
4. Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, ngày 25/9/2009 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 439/QĐ-UBND phân cấp, ủy quyền và giao nhiệm vụ thực hiện một số nội dung trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức điều chỉnh kế hoạch vốn đối với các dự án chậm triển khai để bổ sung cho các dự án có khối lượng để đẩy nhanh việc giải ngân vốn đầu tư năm 2009.
II. Thực hiện tốt các mục tiêu an sinh xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, triển khai mạnh mẽ các hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
1. Giáo dục và Đào tạo
Ngành Giáo dục đào tạo tập trung chỉ đạo tiếp tục thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”; tiếp tục triển khai phong trào thi đua xây dựng "trường học thân thiện, học sinh tích cực" do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động; đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kiểm tra và quyết định công nhận tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào tháng 3/2009 và đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS vào tháng 12/2008; Triển khai xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, đến nay có 55/196 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 29,08%; tập trung chỉ đạo khắc phục hậu quả bão số 9 tại các trường học (250 phòng học bị sập đổ, 3.000 phòng học bị tốc mái), ngăn chặn nguy cơ học sinh bỏ học gia tăng; tiếp tục xử lý, gửi giấy báo kết quả vào các Trường Đại học, Cao đẳng, TCCN...
Công tác chỉ đạo, tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008-2009 diễn ra nghiêm túc, đúng quy chế; toàn tỉnh có 17.155 thí sinh tham gia dự thi, kết quả có 12.590 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, chiếm tỷ lệ 73,38%, tăng 5,89% so với năm học 2007-2008.
Hiện nay, toàn tỉnh có 7.745 phòng học các cấp; trong đó có 3.486 phòng học kiên cố, 3.677 phòng học bán kiên cố và 582 phòng học tạm thời. Thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012, hiện nay, các địa phương đã hoàn thành việc kiểm tra, rà soát và phê duyệt danh mục đầu tư năm 2009 đảm bảo đúng mục tiêu, đối tượng của Đề án với tổng số phòng học được xây dựng là 276 phòng, tổng số phòng ở công vụ là 132 phòng.
2. Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác quản lý lao động - việc làm - tiền lương, quản lý đào tạo nghề, chính sách thương binh - liệt sĩ và người có công, bảo trợ xã hội - phòng chống tệ nạn xã hội và công tác trẻ em, hoạt động Quỹ bảo trợ trẻ em được triển khai theo kế hoạch. Ngành đã giải quyết 3.639 hồ sơ người có công với cách mạng được hưởng chính sách theo Nghị định 54/2006/NĐ-CP và 1.095 hồ sơ theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg; xây dựng và sửa chữa 613 nhà ở cho người có công với tổng kinh phí 8.987 triệu đồng, đạt 47,15% kế hoạch; giải quyết việc làm cho 15.640 lao động, đạt 46% kế hoạch, trong đó tạo việc làm mới cho 7.000 lao động; đào tạo nghề ngắn hạn cho 3.500 lao động (đạt 70% kế hoạch) và dài hạn cho 1.250 lao động (đạt 69,44% kế hoạch). Đến nay, toàn tỉnh đã có 1.322 lao động đăng ký xuất khẩu lao động, trong đó đã xuất cảnh 322 người, đang làm thủ tục 355 người, đang học giáo dục định hướng 645 người.
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ; phân bổ 400 tấn gạo cứu tế đỏ lửa tại các huyện, thành phố; cấp 1.000 tấn gạo cứu đói giáp hạt năm 2009 cho các địa phương trong tỉnh; tiếp tục triển khai hỗ trợ thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2009/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu 21 xã khó khăn vùng bãi ngang ven biển,...
Thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo, 6 tháng đầu năm số hộ nghèo toàn tỉnh giảm 6.041 hộ, trong đó số hộ nghèo phát sinh là 949 hộ, số hộ nghèo thực giảm là 5.092 hộ; đến ngày 30/6/2009 toàn tỉnh còn 55.743 hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 19,24%; phấn đấu đến cuối năm 2009 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 18%.
3. Y tế
Công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tiếp tục được tăng cường, thường xuyên giám sát dịch tễ, phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời dịch bệnh. Đến tháng 10/2009, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 43 trường hợp dương tính với cúm A/H1N1, tất cả đều được điều trị tại các cơ sở y tế, tình trạng sức khỏe tốt và đã xuất viện. Tổ chức công tác khám, chữa bệnh cho 117.635 lượt người; công suất sử dụng giường bệnh đạt 114,61%, trong đó Bệnh việc Đa khoa tỉnh 178,17%, Sơn Tịnh 209,55%, Bình Sơn 119,67%, Đặng Thuỳ Trâm 148,98%.
Công tác khám, chữa bệnh được quan tâm đúng mức, toàn ngành tiếp tục chấn chỉnh tinh thần, thái độ phục vụ, nâng cao y đức, cứu chữa kịp thời các trường hợp khẩn cấp và tổ chức khám, chữa bệnh lưu động phục vụ các xã khó khăn trong tỉnh. Tuy nhiên, công suất sử dụng giường bệnh bình quân chung cả tỉnh trên 100%, Bệnh viện Đa khoa tỉnh tiếp tục trong tình trạng quá tải.
Đã kiểm tra 7.719 lượt cơ sở sản xuất - kinh doanh thực phẩm, có 6.199 cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh (chiếm tỷ lệ 80,3%); xét nghiệm 3.858 mẫu thực phẩm, có 3.529 mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh (chiếm tỷ lệ 91,5%).
4. Văn hóa, Thể thao và Phát thanh truyền hình
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn, mừng Đảng, mừng Xuân và phục vụ các sự kiện lớn, tạo không khí thi đua trong đời sống lao động sản xuất, học tập của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Phong trào toàn dân đăng ký xây dựng đời sống văn hóa và công tác gia đình được duy trì và phát triển; phong trào thể dục, thể thao phát triển sối nổi ở cơ sở, nổi bật nhất là việc tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Quảng Ngãi lần thứ IV – năm 2009 từ cấp cơ sở đến huyện, tỉnh.
Đã tổ chức chu đáo, trọng thể các ngày Lễ lớn, đặc biệt là Lễ chào mừng dòng sản phẩm đầu tiên của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, công bố Quy hoạch chi tiết Khu đô thị Vạn Tường và đặt tên đường Võ Văn Kiệt; kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Quảng Ngãi, 50 năm khởi nghĩa Trà bồng và miền Tây Quảng Ngãi, Hội thảo quốc tế 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh, tập trung phản ánh công tác phòng chống bão lụt và khắc phục hậu quả do cơn bão số 9 gây ra; tổ chức các hoạt động tuyên truyền đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tháng an toàn giao thông, phòng chống dịch bệnh, tuyên truyền về ngày doanh nhân Việt Nam (13/10), ngày Vì người nghèo (16/10), Ngày phụ nữ Việt Nam (20/10)....
Phong trào thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ ở các địa phương, đơn vị. Đã tổ chức Giải Bóng đá Futsal tranh Cúp truyền hình năm 2009. Đội tuyển vận động viên khuyết tật tỉnh tham gia thi đấu giải Asean ParaGame lần thứ 5 tại KualaLumpur (Malaixia), đạt 05 HCV và 05 HCĐ. Ngoài ra, các đội tuyển của tỉnh đã tham dự và đạt một số huy chương các loại tại các giải thể thao trong khu vực và toàn quốc.
Các Chương trình phát thanh, truyền hình ngày càng nâng cao về chất lượng, phản ánh sinh động, toàn diện và kịp thời tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các hoạt động chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo tỉnh với tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 99%, phủ sóng truyền hình đạt 95%. Đặc biệt, Đài đã phối hợp sản xuất phim Tài liệu về Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, ký sự Trường Sơn (gồm 11 phóng sự) đã phát sóng và được khán giả đánh giá cao; phóng sự truyền hình "Hạt gạo nghĩa tình” và tác phẩm âm nhạc "Âm vang Trường Sa” của Đài đã đạt giải xuất sắc tại Lễ sơ kết và trao giải thưởng cho các tác giả có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đã xây dựng hoàn chỉnh và ra mắt Trang thông tin điện tử tổng hợp trên mạng Internet; tổ chức thành công Giải đua thuyền truyền thống tranh Cup Truyền hình Quảng Ngãi lần thứ IV-, Giải bóng đá Futsal Vietcombank tranh Cup Truyền hình Quảng Ngãi -2009,...
5. Về tài nguyên môi trường
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường được triển khai theo kế hoạch; đã thẩm định quy hoạch sử dụng đất chi tiết các thị trấn Sông Vệ, La Hà, Sơn Tịnh, Ba Tơ, Châu Ổ, Trà Xuân và 08 phường thuộc thành phố Quảng Ngãi; từ đầu năm đến nay, đã lập hồ sơ thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất với diện tích
III. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí
Đã kết thúc 06 cuộc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực tài chính ngân sách, xây dựng cơ bản, tư pháp, khoa học công nghệ, giao thông vận tải, văn hóa, thể thao và du lịch tại 05 đơn vị và 92 cơ sở kinh doanh, phát hiện tổng giá trị sai phạm về kinh tế gần 1,2 tỷ đồng và kiến nghị thu hồi 447 triệu đồng, xử phạt vi phạm hành chính 198 triệu đồng. Tổ chức tiếp 16 lượt công dân, tiếp nhận và xử lý 33 đơn của 31 vụ khiếu nại, tố cáo, chủ yếu vẫn là trong lĩnh vực đất đai. Công tác phòng, chống tham nhũng được triển khai theo Kế hoạch và hướng dẫn của Trung ương.
Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính nhà nước giai đoạn 2007-2010; đến nay tỉnh đã tập trung hoàn thành giai đoạn thống kê, công bố thủ tục hành chính với gần 1.100 thủ tục (giai đoạn 1) và hiện đang triển khai quyết liệt giai đoạn 2 là tiến hành rà soát, loại bỏ các thủ tục, công đoạn trùng lắp,...nhằm thực hiện mục tiêu đơn giản hóa cho được ít nhất 30% theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
PHẦN II
DỰ KIẾN MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2010
I. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010
1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp đã được Trung ương và UBND tỉnh ban hành về việc thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư, tiêu dùng nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển và bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2010 của tỉnh ở mức 29-30% để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 17-18% như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 17 đề ra.
2. Dự kiến một số chỉ tiêu chủ yếu của năm 2010
* Chỉ tiêu kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng GDP : 34 - 35%.
- GDP bình quân đầu người : 1.198 USD/người/năm
- Giá trị sản xuất (giá so sánh 1994)
+ Nông - lâm - ngư nghiệp tăng : 4,5 - 5%
+ Công nghiệp - xây dựng tăng : 107 - 108%
+ Dịch vụ tăng : 14 - 15%
- Cơ cấu kinh tế
+ Công nghiệp - xây dựng : 55 - 56%
+ Dịch vụ : 25 - 26%
+ Nông - lâm - ngư nghiệp : 19 - 20%
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ : 16.080 tỷ đồng.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu : 150 triệu USD.
- Giá trị kim ngạch nhập khẩu : 3.500 triệu USD.
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn : 13.725 tỷ đồng.
- Tổng vốn đầu tư phát triển : 16.968 tỷ đồng.
* Chỉ tiêu xã hội
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên : 0,90 %.
- Tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm : 35.000 lao động.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động: 26%.
- Tỷ lệ trạm Y tế có bác sỹ : 70%
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn 20%.
- Số giường bệnh/1vạn dân là 16 giường.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15% (theo chuẩn hiện nay).
* Chỉ tiêu về môi trường
- Tỷ lệ độ che của phủ rừng : 45%.
- Tỷ lệ dân đô thị dùng nước sạch : 100%.
- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh : 85%.
- Tỷ lệ xử lý rác thải, chất thải rắn ở đô thị : 85%.
- Tỷ lệ cây xanh đô thị (TP Quảng Ngãi và các thị trấn): 55%.
II. Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch năm 2010
1. Về kinh tế:
a) Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Chỉ đạo sử dụng các loại giống mới có chất lượng, năng suất cao, có khả năng kháng bệnh; không trồng lúa 3 vụ để giảm sâu bệnh. Đối với cây mía, mì tăng cường đầu tư các loại giống mới, trồng trong vùng qui hoạch để tăng suất.
Phát triển chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn vệ sinh thực phẩm. Khuyến khích phát triển các loại gia súc, gia cầm sản xuất hàng hóa theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi tập trung trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với chế biến tập trung và xử lý chất thải. Phát triển đàn bò thịt có năng suất cao. Chủ động phòng chống các loại dịch bệnh gia súc, gia cầm.
Tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, chế biến lâm sản, nhất là hàng lâm sản xuất khẩu. Phát triển mạnh trồng rừng kinh tế chất lượng và hiệu quả cao. Tập trung quản lý rừng phòng hộ đặc biệt. Đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho dân, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dân yên tâm đầu tư cho sản xuất.
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản: hạn chế khai thác ven bờ, chuyển sang khai thác xa bờ. Cùng với nuôi tôm, mở rộng nuôi cá nước ngọt ở những vùng có điều kiện.
b) Phát triển công nghiệp
Đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp đồng thời với nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm công nghiệp có thị trường, có hiệu quả và có sức cạnh tranh cao đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, có khả năng giải quyết nhiều việc làm. Chú trọng phát triển thị trường cho các ngành có lợi thế so sánh, sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày,... Đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu. Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg ngày 23/4/2007 về phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp sử dụng công nghệ cao. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm. Xúc tiến kêu gọi đầu tư các dự án công nghệ cao để tăng hàm lượng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp trong cơ cấu chung của tỉnh.
c) Phát triển doanh nghiệp
Tiếp tục thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” đạt kết quả tốt, tiến đến giảm dần các thủ tục không cần thiết trong đăng ký kinh doanh.
Triển khai thực hiện công tác sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt. Phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Chi nhánh Đà Nẵng và các tổ chức khác triển khai các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ phát triển thị trường, hỗ trợ phát triển liên kết ngành… cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tỉnh.
Tạo điều kiện hỗ trợ cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh; tiếp tục củng cố các mô hình hợp tác xã, đồng thời xử lý dứt điểm những HTX không có khả năng chuyển đổi hay tổ chức lại, không còn những HTX chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp, cộng đồng dân cư đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
d) Phát triển các ngành dịch vụ
Hỗ trợ các doanh nghiệp đã và đang đầu tư vào hạ tầng thương mại, các khu trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm triển khai hoạt động và triển khai xây dựng để sớm ổn định đi vào kinh doanh có hiệu quả.
Khuyến khích, hỗ trợ, kêu gọi Doanh nghiệp đầu tư vào Khu du lịch Mỹ Khê và Sa Huỳnh, Suối nước nóng Nghĩa Thuận, Thác Trắng (Minh Long), Khu du lịch sinh thái Cà Đam,… Phát triển hệ thống khách sạn, nhà hàng, nhất là hệ thống khách sạn 3 sao và 4 sao để đáp ứng nhu cầu khách đến lưu trú tại tỉnh ngày càng tăng.
Nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ vận tải, đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng cao của tỉnh. Đặc biệt phải đảm bảo an toàn và thuận tiện trong vận tải hành khách. Đẩy mạnh hình thức vận tải đa phương thức, tăng cường công tác xã hội hóa các dịch vụ vận tải và phụ trợ có liên quan.
Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ tạo mọi điều kiện cho các Doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đầu tư phát triển lĩnh vực Công nghệ thông tin, viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí và hạ giá thành.
đ) Về xuất, nhập khẩu
Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tích cực phát triển các mặt hàng có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô.
Nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại, tích cực, chủ động mở rộng thị trường; đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ với các đối tác; tận dụng mọi khả năng để tăng mức xuất khẩu trên tất cả các thị trường đã có, song song với việc đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn nhưng hiện còn chiếm tỷ trọng thấp; tìm cơ hội xuất khẩu vào các thị trường mới, có tiềm năng nhằm hạn chế rủi ro biến động thị trường.
e) Về đầu tư phát triển
Tiếp tục huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các mục tiêu của kế hoạch năm 2010 và hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010.
Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị thành phố, chú trọng vào các dự án cải tạo, chỉnh trang và môi trường; tiếp tục đề nghị để Trung ương sớm cân đối vốn để đầu tư tuyến đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh. Đối với các huyện miền núi tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 30a của Chính phủ để từng bước xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách với đồng bằng. Đối với huyện đảo Lý Sơn đầu tư phát triển gắn với quốc phòng, bảo vệ vùng biển quốc gia; tiếp tục đầu tư hệ thống kè biển để phòng chống thiên tai; hệ thống cảng cá phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên huyện đảo.
Tích cực hỗ trợ các Doanh nghiệp đẩy nhanh việc đầu tư các công trình thủy điện ở miền núi để sớm sản xuất điện cung cấp cho sản xuất và thắp sáng của nhân dân trong tỉnh.
Triển khai có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình 135 và các Chương trình, dự án khác. Tăng cường công tác đầu tư hạ tầng kinh tế, xã hội phục vụ sản xuất và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc và các vùng khó khăn khác.
Đối với các huyện, thành phố ngoài nguồn vốn trong phân cấp ngân sách để đầu tư phát triển theo Quyết định 210/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phải tích cực huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư phát triển. Trong nguồn vốn phân cấp ngân sách, các huyện, thành phố chỉ phân khai các dự án khởi công mới, các qui hoạch (không kể qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội) các dự án chuẩn bị đầu tư. Các dự án chuyển tiếp, các công trình nợ khối lượng tỉnh tiếp tục cân đối trong kế hoạch năm 2010.
2. Về Văn hóa xã hội
a) Giáo dục và Đào tạo
Củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ. Tiếp tục thực hiện phổ cập THPT ở những nơi có điều kiện. Chú trọng khắc phục việc học sinh bỏ học ở miền núi.
Cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục, tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Trường Đại học Phạm Văn Đồng; hỗ trợ mọi mặt để Trường Cao đẳng Tài chính sớm trở thành Trường Đại học vào năm 2010.
Tiếp tục phát triển quy mô đào tạo ở tất cả các cấp, chú trọng phát triển qui mô đào tạo nghề; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, tăng cường đào tạo thông qua hợp đồng đào tạo; điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp. Triển khai xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế, xã hội chủ yếu và các địa bàn kinh tế trọng điểm.
Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá việc huy động các nguồn lực cho phát triển giáo dục, đào tạo. Định hướng, quản lý chặt chẽ việc hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Đấu tranh khắc phục cơ bản các tiêu cực kéo dài trong giáo dục, đào tạo.
b) Khoa học công nghệ
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, đồng thời ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đã nghiên cứu, nhất là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở các huyện miền núi và huyện đảo Lý Sơn nhằm phát huy lợi thế của các địa phương.
Đổi mới và hoàn thiện cơ chế lựa chọn, xây dựng, thẩm định, giao nhiệm vụ khoa học công nghệ, phải xuất phát từ yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cụ thể, đặc biệt là gắn với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, giải quyết các nhu cầu bức thiết của nhân dân trong tỉnh.
Tạo môi trường thuận lợi cho việc gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Xây dựng chính sách sử dụng hiệu quả, trọng dụng và phát huy tài năng cán bộ khoa học và công nghệ; phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao trong các doanh nghiệp.
c) Về công tác dân số, y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật ở các cơ sở khám chữa bệnh, tạo điều kiện cho người dân được phục vụ các dịch vụ y tế cộng đồng, từng bước tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng cao.
Tăng cường công tác truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số; thực hiện mô hình gia đình ít con. Nâng cao trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.
Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành, nhân dân và huy động các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội tham gia công tác dân số, gia đình. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là với đối tượng vị thành niên, thanh niên và người dân vùng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Phát triển và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh. Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời xã hội hoá một cách phù hợp để huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, mở rộng dịch vụ, giảm quá tải bệnh viện.
Đào tạo đủ về số lượng, chất lượng, tăng cường luân phiên cán bộ giúp tuyến dưới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ tại chỗ và nâng cao y đức, trình độ cán bộ y tế, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ các hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường các biện pháp để phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh; phòng, chống nghiện ma tuý, nhiễm HIV... Đổi mới, hoàn thiện chế độ bảo hiểm y tế. Phát triển y dược cổ truyền. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ. Tạo cơ hội để người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.
d) Giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo
Duy trì giải quyết việc làm hàng năm cho khoảng 35.000 lao động. Trong đó đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động sang các nước. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống dưới 4,15% số lao động trong độ tuổi.
Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Thực hiện nhiều biện pháp chính sách để hỗ trợ mọi người dân phát triển sản xuất để thoát nghèo và vươn lên làm giàu hợp pháp. Hỗ trợ người dân vùng bị thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh khắc phục khó khăn, khôi phục sản xuất và ổn định cuộc sống. Phấn đấu hạn chế tối đa hiện tượng tái nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15%. Thực hiện nhiều biện pháp, chính sách khuyến khích làm giàu hợp pháp.
đ) Phát triển văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình
Tăng mức hưởng thụ văn hóa thông tin cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc ít người; thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa – sức khỏe; trong năm 2010 tiếp tục xây dựng gia đình, thôn, tổ dân phố, xã phường, thị trấn, cơ quan văn hóa.
Tiếp tục đầu tư tôn tạo, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh tạo vẻ đẹp cảnh quan môi trường.
Mở rộng phủ sóng phát thanh, truyền hình; phát triển hệ thống thông tin báo chí, chủ động hội nhập; đẩy mạnh trang thông tin điện tử của tỉnh và các sở, ban, ngành; phấn đấu năm 2009 có 97% hộ gia đình được xem truyền hình; 100% hộ gia đình được nghe Đài tiếng nói Việt Nam.
e) Phát triển thể dục thể thao
Đẩy mạnh các hoạt động thể thao cả về qui mô lẫn chất lượng. Đảm bảo chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường; đẩy mạnh xã hội hóa thể thao.
Duy trì các môn thể thao thành tích cao có lợi thế của tỉnh như võ thuật, bóng đá để tranh chấp huy chương ở cấp toàn quốc và cung cấp vận động viên cho đội tuyển quốc gia.
Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cấp các công trình phục vụ cho thể thao.
g) Phòng, chống và giảm mạnh các tệ nạn xã hội
Tăng cường kiểm soát chặt chẽ tệ nạn ma tuý, mại dâm. Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất các Trung tâm cai nghiện. Quản lý chặt chẽ sau cai nghiện gắn với trách nhiệm gia đình và chính quyền cơ sở và tạo việc làm cho đối tượng này.
Hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách về phòng chống các tệ nạn xã hội tại cơ sở xã, phường, trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhất là xã phường trong phòng chống ma tuý, mại dâm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, truy quét, xử lý vi phạm và lập hồ sơ đưa đi giáo dục các đối tượng hành nghề mại dâm. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ.
3. Về Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững
Quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.
Duy trì chất lượng hoạt động của hệ thống đài, trạm khí tượng thuỷ văn, đảm bảo thu thập đầy đủ số liệu, dự báo chính xác tình hình thời tiết, khí hậu. Cải thiện chất lương công tác dự báo khí tượng thủy văn, đặc biệt là dự báo bão, lũ.
Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thực về môi trường; nâng cao năng lực và hoạt động quản lý chất thải rắn ở thành phố Quảng Ngãi và các Khu công nghiệp tỉnh; xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các KCN và các hồ nuôi tôm ven biển.
4. Về Quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội
Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị định số 152/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về khu vực phòng thủ. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội có hiệu quả, nhất là tại Khu kinh tế Dung Quất. Tăng cường vận động nhân dân và bằng các biện pháp thích hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,...để gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Tăng cường công tác bảo vệ an ninh vùng biển, tập trung lực lượng, phương tiện đấu tranh phòng, chống tàu thuyền nước ngoài xâm phạm lãnh hải trái phép. Đấu tranh ngăn chặn việc sử dụng vật liệu nổ đánh bắt hải sản. Chú trọng công tác phòng, chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn trên biển. Tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.
Trên đây là báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 09/01/2009 của Chính phủ, UBND tỉnh Quảng Ngãi kính báo cáo Văn phòng Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư./.
- Giới thiệu Tỉnh
- Địa chí Quảng Ngãi
- Dân số lao động
- Cơ sở hạ tầng
- Văn hóa
- Bộ máy Tổ chức
- Sơ đồ tổ chức
- Chức năng
- Nhiệm vụ - quyền hạn
- Tổ chức hoạt động
- Thành viên
- Quy chế làm việc
- Phân công nhiện vụ
- Sơ đồ tổ chức
- Chức năng, nhiệm vụ
- Tổ chức. hoạt động
- Ban thường trực
- Tổ chức thành viên
- Danh sách Chủ tịch
- Sở Ban Ngành
- Huyện, thành phố
- Thông tin chuyên đề
- Hợp tác đầu tư
- Du lịch
- Văn học nghệ thuật

Báo cáo năm 2009

