Softech Danang


 

 
Trang chủ Sơ đồ web Font unicode   English
Trang chủ    
 

Có một văn hoá ghe bầu ven biển miền Trung

 

Các địa phương ven biển miền Trung có nhiều nét tương đồng về văn hóa, nhất là các hình thái văn hóa liên quan đến biển và đảo ven bờ. Có thể nói rằng, yếu tố duyên hải - đảo ven bờ đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong các hình thái văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân nhiều địa phương ven biển miền Trung trải dài từ Thanh Hóa, Nghệ An cho đến Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay.

 

Những nét tương đồng này có thể nhận biết được qua một số mặt, phương diện sau:

 

1. Về văn hóa vật chất:

 

- Sự hình thành các làng, vạn ngư nghiệp có nhiều điểm giống nhau về cư trú, tổ chức, sinh hoạt cư dân ở các cửa biển, dọc theo các bãi ngang ven biển, ở các đảo ven bờ.

- Sự có mặt của các ngành nghề đánh bắt trong lộng, ngoài khơi với kỹ thuật cũng như công cụ đánh bắt có những điểm tương đồng giữa các địa phương như nghề mành, nghề giả, xăm tủ, nghề câu mực, nghề khơi, v.v…

- Sự có mặt của các loại thuyền buồm đi biển và nghề đóng thuyền  đi biển.

 

2. Về văn hóa tinh thần:

 

- Hệ thống từ, tên gọi các vật, hiện tượng liên quan đến biển, đến các hoạt động của con người trên biển không khác nhau mấy giữa các địa phương ven biển miền Trung.

 

- Việc thờ tự các vị thần liên quan đến biển vốn phổ biến từ Thanh Hóa, Nghệ An cho đến Ninh Thuận, Bình Thuận như Bà Đại Càn, Cá Ông, Bà Thủy Long, Bà Chúa Ngọc, thờ các hiện tượng sóng gió, sấm chớp, luồng lạch v.v…

 

- Sự có mặt của các sinh hoạt văn hóa hầu như địa phương nào cũng có như hát bài chòi, đua thuyền, lắc thúng chai, hát bả trạo (chèo cạn), các hình thức kiêng cữ của ngư dân…

 

Một trong những biểu hiện đáng lưu ý của sự tương đồng này mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là có một vệt văn hóa liên quan đến ghe bầu và nghề buôn ghe bầu trải dài ven biển miền Trung từ Cửa Lò, Thanh Hóa cho đến Phan Rang, Phan Thiết và một số địa phương khác ở miền Nam. Sự có mặt của ghe bầu tại các bến sông, bến cảng ven biển miền Trung là một thực tế đã được ghi nhận từ đầu thế kỷ XX bởi các học giả người Pháp. Theo nhiều nhân chứng cao tuổi tại địa phương cho biết những chiếc ghe bầu với những cánh buồm no gió vẫn còn đi lại dọc ngang ven biển một số địa phương miền Trung, trong đó có Hội An - Quảng Nam cho mãi đến thập kỷ 60 của thế kỷ 20 mới vắng bóng hẳn.

 

Ghe là từ ghép gồm "ghe" và "bầu". Hiện nay, "ghe" là từ địa phương được sử dụng phổ biến từ Nam đèo Hải Vân trở vào để chỉ các loại ghe thuyền nói chung. Trong khi đó các vùng phía Bắc người ta thay "ghe" bằng "thuyền", một từ gốc Trung Hoa. Về từ nguyên, chúng tôi thấy từ "ghe" gần với từ "gay" trong ngôn ngữ vùng Mã Lai - Nam Đảo cũng được dùng để chỉ ghe thuyền.

 

- Đàng Trong: "ghe": ghe thuyền nói chung

 

- Campuchia: "thwe": ghe chài loại lớn

 

- Mã Lai: "Gay": ghe thuyền nói chung.

 

- Champa: "Gaiy": ghe đò

 

Ở Đàng Ngoài, dấu vết của từ "gay" có thể được lưu lại ở địa danh Hòa Gay - Hòn Gai (Quảng Ninh). Từ "bầu" cũng là từ địa phương và nó có gốc gác với từ "prau" của vùng Mã Lai - Nam Đảo dùng để chỉ loại thuyền buồm đi lại trên biển với đặc điểm nhận dạng: vỏ hai đầu nhọn, lái và mũi cong cao; dùng buồm tứ giác không đều hoặc buồm tam giác, mui cong làm bằng sợi đan hoặc tre đan, chạy được cả hai hướng gió. Đây cũng chính là những đặc điểm nhận dạng của ghe bầu nói chung, ghe bầu Hội An, xứ Quảng nói riêng. Cùng với đặc điểm nhận dạng, chúng tôi thử so sánh một số ghe thuyền dựa trên tiêu chí hệ số đo và thấy rằng có sự gần gũi giữa ghe bầu với một số loại thuyền bản địa Đông Nam Á và phân biệt với một số loại thuyền Trung Hoa và thuyền Đàng Ngoài.

 

Ảnh hưởng Mã Lai - Nam Đảo này ban đầu diễn ra đối với ghe thuyền Champa và sau đó được tiếp nối ở ghe thuyền Việt tại Đàng Trong. Điều này được xác định dựa trên một số cơ sở.Trước hết, chúng ta biết rằng, người Chăm vốn giỏi về hàng hải. Những đoàn thuyền chiến, thuyền buôn của Champa với trọng tải hàng vạn hộc đã từng thực hiện những chuyến viễn dương đến các nước Đông Nam Á, Trung Hoa và một số trung tâm mậu dịch xa hơn ở Trung Cận Đông, Viễn Đông. Quá trình giao lưu buôn bán này đã để lại một số dấu ấn văn hóa Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Trung Hoa ở ghe bầu Champa và sau này ở ghe bầu Việt. Cơ sở thứ hai để xác định sự tiếp nối Chăm-Việt được thể hiện ở chỗ, cho đến đầu thế kỷ XX các bến gốc, bến đậu của ghe bầu cũng chỉ phân bố từ Cửa Lò trở vào, địa bàn có những bến  cảng lớn của vương quốc Champa trước đây. Hiện tượng này lẽ nào chỉ là do ngẫu nhiên! Ngoài ra, một số truyền thuyết lưu hành rộng rãi trong những người đi ghe bầu về Thầy Thím - một cặp vợ chồng Chăm chuyên đóng ghe bầu thuê cho người Việt và sự giống nhau về một số tên gọi liên quan đến ghe bầu (gaiy > ghe, nga lan > ngà làn, càn làn…) đã góp phần khẳng định sự tiếp nối văn hóa Chăm - Việt ở ghe bầu.

 

Có thể nói, ghe bầu và nghề buôn ghe bầu là sản phẩm của một thời tích cực mở cửa giao thương với bên ngoài, góp phần đáng kể làm nên sự phồn thịnh của các thị tứ ven biển miền Trung nói riêng, cả nước nói chung. Ghe bầu cũng đã tích cực tham gia vào mạng lưới mậu dịch khu vực và quốc tế. Một số nguồn tư liệu đáng tin cậy cho biết vào các thế kỷ XVII - XIX, thuyền buôn - ghe bầu Việt đã từng có mặt ở Nhật Bản, Trung Hoa và một số nước Đông Nam Á. Theo thống kê chưa đầy đủ, vào đầu thế kỷ XX, chỉ riêng các vạn ghe bầu ở Hội An (Thanh Châu, Cẩm Phô, Bàn Thạch, Duy Vinh, An Hòa) cũng đã có đến trên 120 chiếc với trọng tải phổ biến từ 50 tấn đến 100 tấn/chiếc. Hàng năm vào các mùa gió thuận chúng là những phương tiện vận tải chủ yếu tạo nên mạng lưới mậu dịch thông suốt giữa các vùng trong nước, là điều kiện cần thiết để mở rộng giao thương với các nước bên ngoài. Ngoài ra, sự tiếp nối về kỹ thuật đóng ghe bầu  cũng đã được thực hiện bởi các Chu tượng (trại, xưởng, hiệp thợ đóng ghe thuyền) của địa phương. Các hiệp thợ đóng ghe của xứ Quảng nổi tiếng về tay nghề và từng tham gia đóng các loại thuyền vận tải biển lớn trên phạm vi hầu khắp cả nước. Hiện nay tại Hội An, làng mộc Kim Bồng vẫn còn nhiều hiệp thợ mộc chuyên đóng các loại thuyền đi biển có trọng tải lớn, không chỉ cho địa phương mà còn cho các vùng khác ven miền Trung. Ghe bầu và nghề buôn ghe bầu cũng còn để lại những dấu ấn văn hóa liên quan đến việc buôn bán của dân ghe bầu, đến các bến cảng nơi ghe bầu dừng đậu để giao hàng, nhận hàng, nơi các ghe bầu ghé lại để cúng kính, tiến hành các nghi lễ nhằm cầu mong được thuận buồm đắc lợi. Những bài ca hải trình (một số địa phương còn gọi là vè cái lái, vè nhật trình…) đã có mặt hầu hết ở các địa phương ven biển miền Trung như sự minh chứng hùng hồn về một thời kỳ hoạt động sôi nổi nhộn nhịp "Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng" của các vạn ghe bầu trước đây.

 

Ghe bầu không chỉ là một phương tiện giao thương, vận tải trên biển mà còn là một phương tiện giao lưu - tiếp xúc văn hóa. Nhiều yếu tố văn hóa mang tính biển đảo gắn với ghe bầu đã hình thành, phát triển nhiều địa phương ven biển miền Trung, tạo nên những sắc thái văn hóa rất đáng quan tâm tìm hiểu.

 

                                                                                         Tạp chí Cẩm Thành


Có một văn hoá ghe bầu ven biển miền Trung
Không gian Ca dong Quảng Ngãi
Trấn Quận công BÙI TÁ HÁN nhân vật lịch sử quan trọng của xứ quảng nam thế kỷ 16
Xuất xứ tên gọi sông Trà Khúc ?
Thử bàn thêm về: Quảng Ngãi hay co
Thắng cảnh: núi Đá Chồng và hồ Sơn Rái
Cẩm thành cố sự - kỳ II: Đi tìm xóm Đá
1 

 

Bản quyền của UBND tỉnh Quảng Ngãi
Thiết kế bởi Softech