English Thứ Bảy, 23-02-2019, 11:46 (GMT+7)

Thông báo của UBND tỉnh

Hệ thống văn bản

Quy định cần biết

Công bố thông tin

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 87527063
Đang online: 100
Tin tức Bạn đọc viết Xem chi tiết tin tức

Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện luật xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh

Đăng ngày: 20/12/2018; 1177 lần đọc

Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc tổng kết Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trên địa bàn tỉnh, thì Luật đã quy định cụ thể, rõ ràng các nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục; quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam; quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh người nước ngoài nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với nước ngoài. 

Các quy định của Luật thể hiện sự công khai, minh bạch, đơn giản về trình tự, thủ tục giải quyết nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; thể hiện rõ chính s​ách mở cửa, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng nhằm thu hút người nước ngoài vào đầu tư, thương mại, du lịch... đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật xuất nhập cảnh, trên địa bàn tỉnh còn gặp một số vướng mắc, cụ thể:

Một là: Luật Xuất nhập cảnh không quy định cụ thể trường hợp nào thuộc diện được cấp thị thực DN (giấy tờ gì để chứng minh mục đích nhập cảnh, hoạt động cụ thể của người nước ngoài, dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện, cụ thể:

Nhiều người nước ngoài được cấp thị thực DN, thời hạn tạm trú 03 tháng thường là những trường hợp nhập cảnh vào Việt Nam lao động. Sau khi hết hạn thị thực và tạm trú, họ không được đề nghị cấp thị thực, gia hạn tạm trú theo quy định của Luật xuất nhập cảnh (thị thực DN có thời hạn 01 năm và NNN đang tạm trú tại Việt Nam được thông qua các công ty, doanh nghiệp mời, bảo lãnh để đề nghị cấp thị thực, gia hạn tạm trú khi có nhu cầu). Tuy nhiên, doanh nghiệp làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động gặp vướng mắc trong việc chuyển đổi thị thực DN sang thị thực LĐ (không được chuyển đổi mục đích).

Theo quy định tại Điểm e, Khoản 2, Điều 7 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP, ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (viết tắt là Nghị định số 11) quy định: Người nước ngoài “vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm” không thuộc diện cấp giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. 

Do đó, cần quy định cụ thể trường hợp người nước ngoài được cấp thị thực DN và việc cấp thị thực cần thống nhất với quy định của Bộ luật Lao động để tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài làm việc, lao động tại Việt Nam, tránh tình trạng nhiều doanh nghiệp lợi dụng, lách luật trong quá trình sử dụng lao động nước ngoài, không làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động theo quy định. Thực tế, tình trạng nhiều doanh nghiệp thương mại, dịch vụ du lịch bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam với thị thực DN, nhưng buông lỏng không quản lý, để người nước ngoài đi lại, hoạt động không phù hợp với mục đích nhập cảnh, khó khăn trong công tác quản lý.

Hai là: Theo quy định tại Điều 9, Luật xuất nhập cảnh quy định: “Thị thực ký hiệu ĐT có thời hạn không quá 05 năm”; trong khi đó, quy định tại Điều 172 Bộ Luật lao động và Điều 07, Điều 8 Nghị định số 11, thời hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với những trường hợp được cấp thị thực ký hiệu ĐT “cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam” không quá 02 năm. Do đó, cần quy định thời hạn thị thực ĐT thống nhất với các quy định của Bộ Luật lao động, Nghị định số 11.

Ba là: Theo quy định tại Điều 32, Luật xuất nhập cảnh quy định: “Cơ sở lưu trú là nơi tạm trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm các cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, khu nhà ở cho người nước ngoài làm việc, lao động, học tập, thực tập, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhà riêng hoặc cơ sở lưu trú khác theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào quy định cụ thể cơ sở lưu trú khác theo quy định của pháp luật là những cơ sở lưu trú nào? gây khó khăn trong công tác quản lý, đăng ký tạm trú và xử lý người nước ngoài tạm trú không đúng theo quy định.

Bốn là: Một số trẻ em có quốc tịch nước ngoài được bố, mẹ ở nước ngoài đưa về Việt Nam (nhập cảnh bằng Giấy miễn thị thực), sau đó gửi lại người thân nuôi dưỡng (cô, dì, chú, bác ruột), số người thân này được cơ quan chức năng xác nhận là người giám hộ theo quy định của Bộ Luật dân sự. Tuy nhiên, sau khi hết thời hạn tạm trú ở Việt Nam, số trẻ em này có nhu cầu tiếp tục sinh sống cùng người thân tại địa phương nhưng không thể làm thủ tục cấp thị thực, gia hạn tạm trú vì không có người bảo lãnh theo quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 45 Luật xuất nhập cảnh. Do đó, cần bổ sung quy định quyền, trách nhiệm của người giám hộ trong việc bảo lãnh người được giám hộ để phù hợp với thực tiễn và quy định của Bộ luật Dân sự.

Thiết nghĩ, để giải quyết những khó khăn vướng mắc trên, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định hướng dẫn Luật xuất nhập cảnh để thực hiện thống nhất.

Vương Minh


Xem tin theo ngày tháng

Ngày: Tháng: Năm: 

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, UBND các huyện, thành phố và các đơn vị có liên quan nghiên cứu Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trồng trọt, Luật Chăn nuôi ban hành kèm theo Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 14/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo để triển khai thực hiện. Hoàn thành, trình UBND tỉnh trước ngày 15/3/2019.

 

Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ban, ngành tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, UBND các huyện, thành phố nghiên cứu, triển khai thực hiện Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 01/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển viễn thám quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.​

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành chức năng liên quan căn cứ nội dung yêu cầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Công văn số 921/BKHĐT-TH ngày 13/02/2019 về việc tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP và tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và hai tháng đầu năm 2019, tham mưu và trình UBND tỉnh chậm nhất là ngày 25/02/2019 để kịp thời xem xét, báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ trì, phối hợp với Hội Khuyến học tỉnh và các sở, ban ngành, địa phương liên quan tổ chức triển khai thực hiện các nội dung chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Công văn Công văn số 1085/VPCP-KGVX ngày 01/02/2019 của Văn phòng Chính phủ về việc báo cáo kết quả 5 năm triển khai Quyết định số 281/QĐ-TTg ngày 20/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ hoặc tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện.​

 

Thông báo

Kết quả giải quyết Hồ sơ

Thông tin tiện ích