English Thứ Sáu, 24-01-2020, 23:51 (GMT+7)

Giới thiệu

Niên giám Thống kê

Nghị quyết Tỉnh XIX

Tình hình kinh tế-xã hội

Chiến lược, quy hoạch

Chương trình-đề tài khoa học

Vốn đầu tư phát triển

Công khai ngân sách

Dự án chậm quyết toán

Khen thưởng, xử phạt

Thông báo của UBND tỉnh

Hệ thống văn bản

Quy định cần biết

Công bố thông tin

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 117206854
Đang online: 224
Tin tức Bạn đọc viết Xem chi tiết tin tức

Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện luật xuất nhập cảnh trên địa bàn tỉnh

Đăng ngày: 20/12/2018; 1738 lần đọc

Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc tổng kết Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trên địa bàn tỉnh, thì Luật đã quy định cụ thể, rõ ràng các nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục; quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam; quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh người nước ngoài nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với nước ngoài. 

Các quy định của Luật thể hiện sự công khai, minh bạch, đơn giản về trình tự, thủ tục giải quyết nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; thể hiện rõ chính s​ách mở cửa, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng nhằm thu hút người nước ngoài vào đầu tư, thương mại, du lịch... đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật xuất nhập cảnh, trên địa bàn tỉnh còn gặp một số vướng mắc, cụ thể:

Một là: Luật Xuất nhập cảnh không quy định cụ thể trường hợp nào thuộc diện được cấp thị thực DN (giấy tờ gì để chứng minh mục đích nhập cảnh, hoạt động cụ thể của người nước ngoài, dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện, cụ thể:

Nhiều người nước ngoài được cấp thị thực DN, thời hạn tạm trú 03 tháng thường là những trường hợp nhập cảnh vào Việt Nam lao động. Sau khi hết hạn thị thực và tạm trú, họ không được đề nghị cấp thị thực, gia hạn tạm trú theo quy định của Luật xuất nhập cảnh (thị thực DN có thời hạn 01 năm và NNN đang tạm trú tại Việt Nam được thông qua các công ty, doanh nghiệp mời, bảo lãnh để đề nghị cấp thị thực, gia hạn tạm trú khi có nhu cầu). Tuy nhiên, doanh nghiệp làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động gặp vướng mắc trong việc chuyển đổi thị thực DN sang thị thực LĐ (không được chuyển đổi mục đích).

Theo quy định tại Điểm e, Khoản 2, Điều 7 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP, ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (viết tắt là Nghị định số 11) quy định: Người nước ngoài “vào Việt Nam làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm” không thuộc diện cấp giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. 

Do đó, cần quy định cụ thể trường hợp người nước ngoài được cấp thị thực DN và việc cấp thị thực cần thống nhất với quy định của Bộ luật Lao động để tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài làm việc, lao động tại Việt Nam, tránh tình trạng nhiều doanh nghiệp lợi dụng, lách luật trong quá trình sử dụng lao động nước ngoài, không làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động theo quy định. Thực tế, tình trạng nhiều doanh nghiệp thương mại, dịch vụ du lịch bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam với thị thực DN, nhưng buông lỏng không quản lý, để người nước ngoài đi lại, hoạt động không phù hợp với mục đích nhập cảnh, khó khăn trong công tác quản lý.

Hai là: Theo quy định tại Điều 9, Luật xuất nhập cảnh quy định: “Thị thực ký hiệu ĐT có thời hạn không quá 05 năm”; trong khi đó, quy định tại Điều 172 Bộ Luật lao động và Điều 07, Điều 8 Nghị định số 11, thời hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với những trường hợp được cấp thị thực ký hiệu ĐT “cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam” không quá 02 năm. Do đó, cần quy định thời hạn thị thực ĐT thống nhất với các quy định của Bộ Luật lao động, Nghị định số 11.

Ba là: Theo quy định tại Điều 32, Luật xuất nhập cảnh quy định: “Cơ sở lưu trú là nơi tạm trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm các cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, khu nhà ở cho người nước ngoài làm việc, lao động, học tập, thực tập, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhà riêng hoặc cơ sở lưu trú khác theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào quy định cụ thể cơ sở lưu trú khác theo quy định của pháp luật là những cơ sở lưu trú nào? gây khó khăn trong công tác quản lý, đăng ký tạm trú và xử lý người nước ngoài tạm trú không đúng theo quy định.

Bốn là: Một số trẻ em có quốc tịch nước ngoài được bố, mẹ ở nước ngoài đưa về Việt Nam (nhập cảnh bằng Giấy miễn thị thực), sau đó gửi lại người thân nuôi dưỡng (cô, dì, chú, bác ruột), số người thân này được cơ quan chức năng xác nhận là người giám hộ theo quy định của Bộ Luật dân sự. Tuy nhiên, sau khi hết thời hạn tạm trú ở Việt Nam, số trẻ em này có nhu cầu tiếp tục sinh sống cùng người thân tại địa phương nhưng không thể làm thủ tục cấp thị thực, gia hạn tạm trú vì không có người bảo lãnh theo quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 45 Luật xuất nhập cảnh. Do đó, cần bổ sung quy định quyền, trách nhiệm của người giám hộ trong việc bảo lãnh người được giám hộ để phù hợp với thực tiễn và quy định của Bộ luật Dân sự.

Thiết nghĩ, để giải quyết những khó khăn vướng mắc trên, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định hướng dẫn Luật xuất nhập cảnh để thực hiện thống nhất.

Vương Minh


Xem tin theo ngày tháng

Ngày: Tháng: Năm: 

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh khẩn trương xây dựng kế hoạch cụ thể các nhiệm vụ triển khai đến tháng 7/2020, trình UBND tỉnh chỉ đạo.


 

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiêm túc triển khai thực hiện Kế hoạch số 398/KH-BNN-TY ngày 13/01/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc thực hiện Nghị quyết số 100/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đối với các nhiệm vụ về thú y.​

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Y tế, Sở Thông tin và truyền thông, Sở Văn hóa. Thể thao và Du lịch theo chức năng, nhiệm vụ được giao, nghiên cứu triển khai thực hiện nội dung Công văn 132/BYT-ATTP ngày 09/01/2020 của Bộ Y tế về việc tăng cường quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo khẩn trương phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan lập kế hoạch phân bổ hỗ trợ gạo cho học sinh học kỳ II năm học 2018-2019 theo hướng dẫn của Tổng cục Dự trữ Nhà nước tại Quyết định số 03/QĐ-TCDT ngày 03/01/2020, trình UBND tỉnh phê duyệt để làm cơ sở thực hiện.​

 

 

Thông báo

Kết quả giải quyết Hồ sơ

Thông tin tiện ích