English Thứ Sáu, 15-12-2017, 06:04 (GMT+7)

Thông báo

Hệ thống văn bản

Quy định cần biết

Công bố thông tin

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 66749308
Đang online: 53

Sở, ban, ngành

Huyện, thành phố

Tin tức Bạn đọc viết Xem chi tiết tin tức

Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện Luật ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Đăng ngày: 07/12/2017; 378 lần đọc

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có nhiều điểm mới quan trọng, mang tính đột phá nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại nhiều năm trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004. Từ khi triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần đưa các chính sách đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ những quy định mới của Luật, cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cho phù hợp với thực tiễn. Cụ thể:

Một là, một số nội dung mới chưa được hướng dẫn cụ thể khó thi hành

 

Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bổ sung quy trình mới, mang tính kỹ thuật cao, trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đó là các biện pháp, chính sách đặc thù của địa phương cần phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết trình Thường trực HĐND tỉnh quyết định như: Đề xuất chính sách; xây dựng nội dung chính sách; quy trình xây dựng chính sách; báo cáo đánh giá tác động của chính sách, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, những nội dung về báo cáo đánh giá tác động của chính sách chỉ mang tính nguyên tắc, quy định chung, chưa cụ thể, nên rất khó thực hiện như: Phương pháp đánh giá tác động chính sách trong dự thảo văn bản QPPL; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; so sánh các chi phí về lợi ích...và hình thức của văn bản thông qua chính sách chưa được hướng dẫn và quy định cụ thể trong Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

 

Hai là, quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL

 

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật năm 2015 thì kể từ ngày 01/7/2016, văn bản QPPL của địa phương không được quy định thủ tục hành chính, trừ trường hợp được luật giao. Quy định này được hiểu là địa phương chỉ được quy định thủ tục hành chính khi được giao trong luật, không phải được giao trong các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, tại Khoản 4 Điều 27 Luật năm 2015 thì HĐND tỉnh có thẩm quyền ban hành nghị quyết để quy định các biện pháp có tính chất đặc thù phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tại Khoản 3 Điều 28 Luật năm 2015 quy định UBND tỉnh có thẩm quyền quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do vậy, để các biện pháp, chính sách đặc thù do địa phương ban hành đảm bảo tính khả thi, thì phải ban hành các quy định về trình tự, hồ sơ, yêu cầu, điều kiện và cách thức thực hiện...đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của một thủ tục hành chính, nhưng ở địa phương không được ban hành, vì vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật năm 2015 và không được giao trong Luật.

 

Ba là, về căn cứ pháp lý để ban hành văn bản QPPL

 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì căn cứ pháp lý để ban hành văn bản QPPL phải là văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, không được căn cứ vào văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản cá biệt có chứa QPPL của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trên. Trường hợp, nếu không tuân thủ đúng quy định thì các văn bản đã được ban hành đó là các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật và phải được kiểm tra, xử lý theo quy định của Điều 103, Điều 104 và Điều 130 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay nhiều văn bản không phải là QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương (Ví dụ: Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp...) lại giao trách nhiệm cho HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành văn bản để quy định cụ thể các nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Do vậy, nếu không căn cứ vào các văn bản trên thì việc ban hành nghị quyết của HĐND tỉnh, quyết định của UBND tỉnh thiếu tính thuyết phục và là thiếu sót trong việc xác định cơ sở pháp lý về nội dung.

 

Bốn là, ciệc xác định văn bản QPPL của cấp huyện, cấp xã

 

Theo quy định tại Điều 30 của Luật năm 2015 thì HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết; UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay việc hiểu thế nào là “luật giao” để từ đó xác định thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của cấp huyện vẫn còn lúng túng và thiếu tính nhất quán. Chẳng hạn như các quyết định quy định nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội...Ngoài ra, một số nội dung Luật không giao, nhưng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện, cấp xã và cần thiết phải ban hành các văn bản để điều chỉnh. Do vậy, việc ban hành văn bản trong trường hợp này gặp rất nhiều vướng mắc, còn nhiều quan điểm khác nhau. Nếu ban hành văn bản QPPL thì trái với quy định của pháp luật, do chưa được Luật giao; còn ban hành văn bản áp dụng thì lại chứa các QPPL.

 

Năm là, nội dung thẩm tra dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp xã

 

Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã quy định các nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện. Tuy nhiên, nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã chưa được quy định và hướng dẫn bằng văn bản. Đây là một nhiệm vụ mới của các Ban HĐND cấp xã nhưng chưa được hướng dẫn cụ thể và rõ ràng, nên gây khó khăn trong công tác tổ chức triển khai thực hiện và dẫn đến việc thực hiện qua loa, hình thức.

 

Sáu là, quy định về đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh

 

Theo quy định của Luật năm 2015 thì dự thảo văn bản QPPL của HĐND và UBND tỉnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn 30 ngày để các tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, việc đăng tải này chỉ mang tính hình thức, thủ tục bắt buộc, vì thời gian qua không có cá nhân, tổ chức nào tham gia đóng góp ý kiến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Đồng thời, việc lấy ý kiến tham gia góp ý chỉ thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan, chưa thực sự lấy ý kiến rộng rãi đối với các cá nhân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản QPPL.

 

Bảy là, liên quan đến vấn đề kiểm tra văn bản QPPL

 

Theo quy định tại Điều 2 Luật năm 2015 thì “Văn bản có chứa QPPL nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản QPPL”. Như vậy, các văn bản QPPL do HĐND và UBND ban hành nhưng không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật năm 2015, nếu không phải là văn bản QPPL thì sẽ được xem là văn bản gì (văn bản hành chính thông thường hay là văn bản QPPL), vấn đề này cũng là một vướng mắc lớn trong công tác thực hiện kiểm tra và xử lý văn bản trên địa bàn tỉnh hiện nay. Bởi vì, văn bản này không được xây dựng theo trình tự, thủ tục nhất định và không được gửi cho cơ quan kiểm tra nên việc phát hiện và xử lý là rất khó khăn.

 

Tại Khoản 1 Điều 12 Luật 2015 quy định “Văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền”. Tuy nhiên, các hình thức xử lý văn bản được quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bao gồm: Đình chỉ việc thi hành; bãi bỏ văn bản trái pháp luật và đính chính văn bản. Từ quy định không thống nhất này đã dẫn đến việc áp dụng các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật còn vướng mắc. Ví dụ: qua kiểm tra văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã phát hiện văn bản có nội dung sai sót nhỏ hoặc thiếu một số chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Cơ quan kiểm tra văn bản kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới để thay thế, nhưng các hình thức kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế lại không được quy định trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Do vậy, trong thời gian qua cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành kiểm tra kiến nghị xử lý chưa đảm bảo, không phù hợp với thực tiễn.

 

Tám là, quy định về bãi bỏ văn bản QPPL

 

Tại Khoản 01 Điều 12 Luật năm 2015 quy định “Văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền.” Tuy nhiên, văn bản bãi bỏ văn bản QPPL lại không đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của một văn bản QPPL theo quy định tại Điều 2 và Khoản 1 Điều 3 Luật năm 2015. Đồng thời, văn bản bải bỏ văn bản QPPL không chứa các QPPL, nhưng phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL, nên mất thời gian và phải thực hiện các thủ tục không cần thiết. Đặc biệt, việc bãi bỏ văn bản QPPL do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì phải thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, nhưng ý kiến của Hội đồng tư vấn lại không có nội dung thẩm định, vì nội dung văn bản bãi bỏ không chứa các QPPL.

 

Chín là, liên quan đến vấn đề quy định hiệu lực trở về trước

 

Tại Điều 152 Luật năm 2015 quy định chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong Luật, Nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước. Văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản QPPL ở địa phương được ban hành trên cơ sở phân cấp, ủy quyền của các cơ quan Trung ương. Do vậy, thời điểm có hiệu lực của văn bản ở địa phương sẽ chậm hơn văn bản của các cơ quan cấp trên (nhất là các văn bản phải thông qua HĐND) và sẽ có hiệu lực muộn hơn văn bản của Trung ương nhưng không được quy định hiệu lực trở về trước, nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đối tượng được áp dụng, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ.

 

Từ những khó khăn, vướng mắc đó, thiết nghĩ để công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật thì Bộ Tư pháp cần có Thông tư hướng dẫn cụ thể những vấn đề còn vướng mắc. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho địa phương. Đồng thời, các cơ quan tham mưu phải bố trí công chức đủ trình độ, năng lực làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

 

Vương Minh

 


Xem tin theo ngày tháng

Ngày: Tháng: Năm: 

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

  

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Công Thương chỉ đạo Chi cục Quản lý thị trường tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan và UBND các huyện, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh mặt hàng n​hôm trên địa bàn tỉnh. Trường hợp, nếu phát hiện có mặt hàng nhôm giả sử dụng thương hiệu Xingfa Quảng Đông trên địa bàn tỉnh cần khẩn trương thẩm định, kiểm tra, xác minh làm rõ và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải; Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng  dân dụng và công nghiệp tỉnh và các đơn vị liên quan nghiên cứu nội dung Tờ trình 152/TTr-UBND ngày 30/11/2017  của UBND huyện Đức Phổ, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xem xét, quyết định. 

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT, Công an tỉnh tăng cường chức năng giám sát, kiểm soát tình hình mua, bán và chi trả bảo hi​ểm tàu cá theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản trên địa bàn tỉnh; báo cáo UBND tỉnh việc bồi thường bảo hiểm đối với tàu cá mang số hiệu QNg 90289 TS của ông Bùi Ngọc Lành trước ngày 20/12/2017.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện nội dung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 được ban hành kèm theo Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 29/11/2017 của Chính phủ.

 

  

Chủ tịch UBND tỉ​nh giao UBND huyện Bình Sơn chỉ đạo Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Châu Ổ nghiên cứu các nội dung đề nghị trong đơn của các hộ tiểu thương kinh doanh tại chợ Châu Ổ về việc mức thu tiền sử dụng lô sạp, kiốt tại chợ Châu Ổ quá cao so với chợ Quảng Ngãi và tham chiếu các quy định của pháp luật liên quan để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, quy định của pháp luật và báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ tổ chức thực hiện việc xét tuyển hoặc xét tuyển đặc cách viên chức đối với thí sinh đăng ký dự tuyển giáo viên cho Trường THPT chuyên Lê Khiết theo quy định tại Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ; trên cơ sở đó, lập thủ tục trình UBND tỉnh (qua Sở Nội vụ) xem xét, quyết định.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với sở, ban ngành, đơn vị liên quan khẩn trương nghiên cứu, trực tiếp báo cáo các n​ội dung yêu cầu của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế tại Công văn số 59/BCĐLNKT-VP ngày 27/11/2017 về việc báo cáo công tác hội nhập kinh tế quốc tế năm 2017 và kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-CP.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban ngành tỉnh, Công an tỉnh, UBND các huyện, thành phố, nghiên cứu nội dung đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 6505/BTNMT-TCMT ngày 01/12/2017 về việc báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ năm 2017, báo cáo Bộ và UBND tỉnh trước ngày 15/12/2017.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan báo cáo tổng kết công tác t​hông tin đối ngoại năm 2017 theo đúng yêu cầu và thời gian quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Công văn số 4360/BTTTT-TTĐN ngày 01/12/2017.

 

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương làm việc với Sở Tài chính để thống nhất việc cấp phát và thanh toán vốn cho các dự án thuộc danh mục điều chỉnh tăng từ nguồn vốn xổ sổ kiến thiết tại Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 24/11/2017 của UBND tỉnh theo đúng quy định; bảo đảm kịp thời giải ngân kế hoạch vốn năm 2017

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp các sở, ngành, địa phương liên quan triển khai thực hiện Công văn số ​4987/BVHTTDL-VHCS của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo.

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan triển khai thực hiện Công văn số 5006/BVHTTDL-VHCS củaBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị số 06/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh công tác quản lý, tổ chức lễ hội, lễ kỷ niệm.

 

Phim tư liệu

Quảng Ngãi: Tiềm năng và Triển vọng

Thông tin tiện ích

Liên kết website

Trường ĐH trên địa bàn tỉnh