English Thứ Hai, 10-12-2018, 17:32 (GMT+7)

Thông báo của UBND tỉnh

Hệ thống văn bản

Quy định cần biết

Công bố thông tin

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 83645969
Đang online: 126
Tin tức Bạn đọc viết Xem chi tiết tin tức

Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện Luật ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Đăng ngày: 07/12/2017; 5885 lần đọc

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có nhiều điểm mới quan trọng, mang tính đột phá nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại nhiều năm trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004. Từ khi triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần đưa các chính sách đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ những quy định mới của Luật, cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cho phù hợp với thực tiễn. Cụ thể:

Một là, một số nội dung mới chưa được hướng dẫn cụ thể khó thi hành

 

Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bổ sung quy trình mới, mang tính kỹ thuật cao, trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đó là các biện pháp, chính sách đặc thù của địa phương cần phải lập đề nghị xây dựng nghị quyết trình Thường trực HĐND tỉnh quyết định như: Đề xuất chính sách; xây dựng nội dung chính sách; quy trình xây dựng chính sách; báo cáo đánh giá tác động của chính sách, thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, những nội dung về báo cáo đánh giá tác động của chính sách chỉ mang tính nguyên tắc, quy định chung, chưa cụ thể, nên rất khó thực hiện như: Phương pháp đánh giá tác động chính sách trong dự thảo văn bản QPPL; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; so sánh các chi phí về lợi ích...và hình thức của văn bản thông qua chính sách chưa được hướng dẫn và quy định cụ thể trong Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

 

Hai là, quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL

 

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật năm 2015 thì kể từ ngày 01/7/2016, văn bản QPPL của địa phương không được quy định thủ tục hành chính, trừ trường hợp được luật giao. Quy định này được hiểu là địa phương chỉ được quy định thủ tục hành chính khi được giao trong luật, không phải được giao trong các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, tại Khoản 4 Điều 27 Luật năm 2015 thì HĐND tỉnh có thẩm quyền ban hành nghị quyết để quy định các biện pháp có tính chất đặc thù phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tại Khoản 3 Điều 28 Luật năm 2015 quy định UBND tỉnh có thẩm quyền quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do vậy, để các biện pháp, chính sách đặc thù do địa phương ban hành đảm bảo tính khả thi, thì phải ban hành các quy định về trình tự, hồ sơ, yêu cầu, điều kiện và cách thức thực hiện...đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của một thủ tục hành chính, nhưng ở địa phương không được ban hành, vì vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật năm 2015 và không được giao trong Luật.

 

Ba là, về căn cứ pháp lý để ban hành văn bản QPPL

 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì căn cứ pháp lý để ban hành văn bản QPPL phải là văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, không được căn cứ vào văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản cá biệt có chứa QPPL của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trên. Trường hợp, nếu không tuân thủ đúng quy định thì các văn bản đã được ban hành đó là các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật và phải được kiểm tra, xử lý theo quy định của Điều 103, Điều 104 và Điều 130 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay nhiều văn bản không phải là QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương (Ví dụ: Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp...) lại giao trách nhiệm cho HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành văn bản để quy định cụ thể các nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Do vậy, nếu không căn cứ vào các văn bản trên thì việc ban hành nghị quyết của HĐND tỉnh, quyết định của UBND tỉnh thiếu tính thuyết phục và là thiếu sót trong việc xác định cơ sở pháp lý về nội dung.

 

Bốn là, việc xác định văn bản QPPL của cấp huyện, cấp xã

 

Theo quy định tại Điều 30 của Luật năm 2015 thì HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết; UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay việc hiểu thế nào là “luật giao” để từ đó xác định thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của cấp huyện vẫn còn lúng túng và thiếu tính nhất quán. Chẳng hạn như các quyết định quy định nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội...Ngoài ra, một số nội dung Luật không giao, nhưng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện, cấp xã và cần thiết phải ban hành các văn bản để điều chỉnh. Do vậy, việc ban hành văn bản trong trường hợp này gặp rất nhiều vướng mắc, còn nhiều quan điểm khác nhau. Nếu ban hành văn bản QPPL thì trái với quy định của pháp luật, do chưa được Luật giao; còn ban hành văn bản áp dụng thì lại chứa các QPPL.

 

Năm là, nội dung thẩm tra dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp xã

 

Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã quy định các nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện. Tuy nhiên, nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã chưa được quy định và hướng dẫn bằng văn bản. Đây là một nhiệm vụ mới của các Ban HĐND cấp xã nhưng chưa được hướng dẫn cụ thể và rõ ràng, nên gây khó khăn trong công tác tổ chức triển khai thực hiện và dẫn đến việc thực hiện qua loa, hình thức.

 

Sáu là, quy định về đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh

 

Theo quy định của Luật năm 2015 thì dự thảo văn bản QPPL của HĐND và UBND tỉnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn 30 ngày để các tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, việc đăng tải này chỉ mang tính hình thức, thủ tục bắt buộc, vì thời gian qua không có cá nhân, tổ chức nào tham gia đóng góp ý kiến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Đồng thời, việc lấy ý kiến tham gia góp ý chỉ thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan, chưa thực sự lấy ý kiến rộng rãi đối với các cá nhân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản QPPL.

 

Bảy là, liên quan đến vấn đề kiểm tra văn bản QPPL

 

Theo quy định tại Điều 2 Luật năm 2015 thì “Văn bản có chứa QPPL nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản QPPL”. Như vậy, các văn bản QPPL do HĐND và UBND ban hành nhưng không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật năm 2015, nếu không phải là văn bản QPPL thì sẽ được xem là văn bản gì (văn bản hành chính thông thường hay là văn bản QPPL), vấn đề này cũng là một vướng mắc lớn trong công tác thực hiện kiểm tra và xử lý văn bản trên địa bàn tỉnh hiện nay. Bởi vì, văn bản này không được xây dựng theo trình tự, thủ tục nhất định và không được gửi cho cơ quan kiểm tra nên việc phát hiện và xử lý là rất khó khăn.

 

Tại Khoản 1 Điều 12 Luật 2015 quy định “Văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền”. Tuy nhiên, các hình thức xử lý văn bản được quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP bao gồm: Đình chỉ việc thi hành; bãi bỏ văn bản trái pháp luật và đính chính văn bản. Từ quy định không thống nhất này đã dẫn đến việc áp dụng các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật còn vướng mắc. Ví dụ: qua kiểm tra văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã phát hiện văn bản có nội dung sai sót nhỏ hoặc thiếu một số chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Cơ quan kiểm tra văn bản kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới để thay thế, nhưng các hình thức kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế lại không được quy định trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Do vậy, trong thời gian qua cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành kiểm tra kiến nghị xử lý chưa đảm bảo, không phù hợp với thực tiễn.

 

Tám là, quy định về bãi bỏ văn bản QPPL

 

Tại Khoản 01 Điều 12 Luật năm 2015 quy định “Văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền.” Tuy nhiên, văn bản bãi bỏ văn bản QPPL lại không đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của một văn bản QPPL theo quy định tại Điều 2 và Khoản 1 Điều 3 Luật năm 2015. Đồng thời, văn bản bải bỏ văn bản QPPL không chứa các QPPL, nhưng phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL, nên mất thời gian và phải thực hiện các thủ tục không cần thiết. Đặc biệt, việc bãi bỏ văn bản QPPL do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì phải thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định, nhưng ý kiến của Hội đồng tư vấn lại không có nội dung thẩm định, vì nội dung văn bản bãi bỏ không chứa các QPPL.

 

Chín là, liên quan đến vấn đề quy định hiệu lực trở về trước

 

Tại Điều 152 Luật năm 2015 quy định chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong Luật, Nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước. Văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản QPPL ở địa phương được ban hành trên cơ sở phân cấp, ủy quyền của các cơ quan Trung ương. Do vậy, thời điểm có hiệu lực của văn bản ở địa phương sẽ chậm hơn văn bản của các cơ quan cấp trên (nhất là các văn bản phải thông qua HĐND) và sẽ có hiệu lực muộn hơn văn bản của Trung ương nhưng không được quy định hiệu lực trở về trước, nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đối tượng được áp dụng, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ.

 

Từ những khó khăn, vướng mắc đó, thiết nghĩ để công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật thì Bộ Tư pháp cần có Thông tư hướng dẫn cụ thể những vấn đề còn vướng mắc. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho địa phương. Đồng thời, các cơ quan tham mưu phải bố trí công chức đủ trình độ, năng lực làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

 

Vương Minh

 


Xem tin theo ngày tháng

Ngày: Tháng: Năm: 

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, các sở, ngành chức năng liên quan và UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện công tác trợ giúp xã hội dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 theo nội dung chỉ đạo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tại Công văn số 5067/LĐTBXH-BTXH ngày 30/11/2018 về việc trợ giúp xã hội Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước Quảng Ngãi nghiên cứu nội dung vướng mắc trong công tác giải ngân vốn đầu tư thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2018 của UBND huyện Lý Sơn tại Báo cáo số 498/BC-UBND ngày 30/11/2018, xem xét, giải quyết theo thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xem xét, quyết định. Hoàn thành trước ngày 15/12/2018.​

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; dự thảo Tờ trình tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X; dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, có ý kiến góp ý, tham mưu, trình UBND tỉnh báo cáo Ban Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Lao động Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương nghiên cứu nội dung Đề án hoàn thiện chính sách về di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện, có văn bản góp ý gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 20/12/2018, báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện​

 

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện Chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2014 – 2018 và hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh; nhiệm vụ, giải pháp thực hiện đến năm 2020 và đề xuất các nội dung, nhiệm vụ cần thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2030; trực tiếp báo cáo Bộ Công Thương, UBND tỉnh theo thời gian yêu cầu.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, tổ chức triển khai thực hiện Chương trình “Hỗ trợ chính sách phát triển năng lượng và tăng cường tiếp cận năng lượng bền vững tới khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo” sử dụng vốn ODA không hoàn lại do EU tài trợ theo chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Quyết định số 3337/QĐ-BCT ngày 17/9/2018; đồng thời, tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.​

 

 

 

Thông báo

Kết quả giải quyết Hồ sơ

Phim tư liệu

Quảng Ngãi: Tiềm năng và Triển vọng

Thông tin tiện ích