English Thứ Sáu, 18-08-2017, 14:18 (GMT+7)

Thông báo

Hệ thống văn bản

Liên kết website

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 62304900
Đang online: 171
 Hồ, đầm, đập


ĐẦM 

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có 03 đầm nước tự nhiên là Nước Mặn, An Khê, Lâm Bình.

Đầm nước mặnĐầm Nước Mặn

​Thuộc địa phận xã Phổ Thạnh (huyện Đức Phổ), có tổng diện tích khoảng 150ha. Đây là khu vực đầm phá kiểu vịnh kín, thông ra biển tại cửa Sa Huỳnh. Là đầm nước luôn có độ mặn khá cao cả về mùa khô và mùa mưa, vì vậy có tên là đầm Nước Mặn. Với đầm này chỉ có thể nuôi trồng thủy sản nước mặn và làm muối. Vì thế, từ lâu nhân dân ở đây đã khai thác một phần diện tích của đầm để làm muối. 

Đầm An Khê

Thuộc địa phận xã Phổ Khánh (huyện Đức Phổ). Theo báo cáo khoa học điều tra nhiễm mặn vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi, do đài Khí tượng Thủy văn Trung Trung bộ thực hiện năm 1998 cho thấy vào mùa mưa nước trong đầm có độ mặn không đáng kể, nhưng về mùa khô là một đầm nước lợ, độ mặn từ 0,3- 10‰.

 Đầm Lâm Bình

Thuộc địa phận xã Phổ Cường (huyện Đức Phổ), có độ mặn thấp, thường dao động từ 0,2- 0,3‰; về mùa khô, những tháng nắng hạn nhất đầm bị cạn nước hoàn toàn.

 Theo tài liệu quy hoạch tổng thể nuôi trồng thủy sản năm 2002, đầm An Khê và đầm Lâm Bình có tổng diện tích 300ha, có thể sử dụng cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước mặn và cải thiện môi trường trên địa bàn.

HỒ

 Ở Quảng Ngãi hầu như không có hồ nước tự nhiên nào đáng kể, chỉ có những hồ nước được đào đắp phục vụ cho thủy điện, thủy lợi như:

Hồ An Phong

Được xây dựng từ năm 1984 tại xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn năng lực thiết kế tưới cho 320ha, năng lực tưới thực tế là 120ha.

 Hồ Tôn Dung

Được xây dựng năm 1978 trên nhánh suối nhỏ thượng lưu sông Liên, thuộc địa phận thị trấn Ba Tơ. Hồ có diện tích lưu vực 20km2, với diện tích tưới thiết kế là 150ha. Những năm trước, do kênh mương chưa hoàn chỉnh nên chỉ tưới được khoảng 30ha; năm 2001- 2002, đã xây dựng hoàn chỉnh tuyến kênh, mương, đảm bảo nước tưới đủ diện tích thiết kế.

Suối Chí, Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành

 Hồ Suối Chí

Được xây dựng trên suối Chí, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành vào năm 2002. Năng lực tưới theo thiết kế là 250ha.

 

 

Hồ chứa nước Sở Hầu

            ​Xây dựng năm 1976 tại xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ. Năng lực tưới theo thiết kế là 400ha.

           Hồ chứa nước Núi Ngang

Xây dựng vào năm 2000 tại xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ, có năng lực tưới theo thiết kế là 1.450ha

Hồ chứa nước Liệt Sơn Hồ chứa nước Liệt Sơn

Xây dựng năm 1977 trên sông Lò Bó, xã Phổ Hoà, huyện Đức Phổ tại vị trí có diện tích lưu vực 36,8km2. Năng lực tưới thiết kế là 2.500ha, thực tế tưới được 1.850ha, bằng 74% năng lực thiết kế.

 

  

 ĐẬP

Các công trình đập được xây dựng ở Quảng Ngãi chủ yếu phục vụ cho việc tưới tiêu nông nghiệp trên địa bàn tỉnh

 Đập Đá Giăng

Được xây dựng năm 1977 tại xã Bình Minh, huyện Bình Sơn, năng lực tưới theo thiết kế 420ha, năng lực tưới thực tế là 40ha.

 Đập Xã Điệu

Được xây dựng từ năm 1977 trên suối Xã Điệu, xã Sơn Hạ, huyện Sơn Hà, có diện tích lưu vực 17km2, năng lực tưới theo thiết kế là 350ha, thực tế tưới được 75ha do cụm đầu mối xuống cấp và kênh nội đồng bị hư hỏng nhưng chưa được tu sửa.

 Đập Cù Và

Được xây dựng từ năm 1980 trên sông Giang tại vị trí có diện tích lưu vực 84km2, có năng lực tưới theo thiết kế là 300ha cho các xã Tịnh Đông, Tịnh Giang và Tịnh Hiệp (huyện Sơn Tịnh), công trình đang hoạt động tốt.

 Đập Xã Trạch

Được xây dựng vào năm 1980 trên suối Xã Trạch, xã Sơn Thành, huyện Sơn Hà, năng lực tưới thiết kế là 150ha, nhưng thực tế chỉ tưới được 40ha do hệ thống kênh nội đồng chưa hoàn chỉnh.

Đập thuỷ lợi Thạch Nham

Đây là đập dâng thuộc loại lớn nhất trong cả nước, công trình này đã được người Pháp khảo sát từ thời Pháp thuộc. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1985 tại xã Sơn Nham, huyện Sơn Hà, tại vị trí có diện tích lưu vực 2.850km2 trên sông Trà Khúc.

 Công trình thủy lợi Thạch Nham

Công trình được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn của Nhà nước và đóng góp của nhân dân trong tỉnh bằng ngày công nghĩa vụ công ích. Năm 1992, công trình hoàn thành giai đoạn 1 và được đưa vào khai thác; đến năm 1997, công trình cơ bản hoàn thành. Hệ thống công trình gồm có: đập tràn đầu mối với chiều dài 200m, hai cửa cống lớn lấy nước qua hai hệ thống kênh chính Bắc và Nam có tổng chiều dài 87,6km; 566 tuyến kênh, gồm 28 tuyến kênh cấp I với tổng chiều dài 208,4km, 85 tuyến kênh cấp II và III (có Ft > 150ha) với tổng chiều dài 208,8km và 453 tuyến kênh nội đồng (có Ft < 150ha) với tổng chiều dài 453km. Ngoài ra, còn có 15 trạm bơm điện với tổng công suất từ 980- 1.200m3/h/1 máy, lấy nước từ các tuyến kênh cấp I, II để bơm tưới cho 4.500ha đất canh tác. Công trình thủy lợi Thạch Nham có tổng năng lực tưới theo thiết kế là 50.000ha đất canh tác, trong đó tưới cho cây lúa là 31.000ha và cho cây trồng cạn 19.000ha. Công trình tưới cho các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, thành phố Quảng Ngãi và một phần huyện Đức Phổ. Đến cuối năm 2005, diện tích canh tác được tưới thực tế khoảng 32.500ha, trong đó tưới cho cây lúa là 25.000ha và cây trồng cạn 7.500ha.

 Từ khi có nguồn nước tưới từ công trình thủy lợi Thạch Nham, sản xuất nông nghiệp ở khu vực đồng bằng Quảng Ngãi đã có sự thay đổi rõ rệt, cuộc sống của người nông dân trở nên khá giả hơn rất nhiều. Có thể nói, công trình thủy lợi Thạch Nham đã đem lại cuộc sống ấm no cho người dân của vùng đồng bằng Quảng Ngãi.

 Tuy vậy, ở một số vùng do địa hình cao, phức tạp, kênh bị bồi lấp nên nguồn nước Thạch Nham vẫn không tới được. Điển hình như các xã phía Đông của huyện Bình Sơn (gồm các xã Bình Đông, Bình Thạnh, Bình Thuận, Bình Hoà, Bình Hải), gặp những năm nắng hạn, đồng ruộng phải bỏ hoang vì thiếu nước. Mặt khác, do nguồn vốn đầu tư xây dựng các tuyến kênh nội đồng bị hạn hẹp, chủ yếu được làm bằng đất nên thường bị sạt, lở khi có lũ, lụt lớn.

Đập nước Lang và đập Làng

Đập nước Lang được xây dựng năm 1993 thuộc xã Ba Dinh, huyện Ba Tơ và đập Làng ở xã Hành Tín Tây (huyện Nghĩa Hành)xây dựng năm 1977. Hai đập này lần lượt có diện tích tưới thiết kế là 110ha và 80ha, song thực tế chỉ tưới được 50ha và 45ha do khi khảo sát và thiết kế ban đầu chưa đúng, đưa diện tích khu tưới lớn so với thực tế. Mặt khác, đập Làng có diện tích lưu vực quá nhỏ, chỉ khoảng 4km2 nên nguồn nước đến hạn chế.

Đập Suối Lớn

Được xây dựng trên nhánh suối Lớn thuộc xã Long Hiệp, huyện Minh Long, hệ thống được đưa vào sử dụng năm 1979. Đập có diện tích lưu vực trên 30km2, với diện tích tưới thiết kế 160ha, chiều dài kênh chính 5km. Hiện tại kênh mương đã hư hỏng nhiều nên đập chỉ tưới được 50ha, ngoài ra, một số đoạn kênh nội đồng chưa hoàn chỉnh. Cần sửa chữa, nâng cấp kiên cố hoá kênh mương thì công trình mới đảm bảo diện tích tưới theo thiết kế.

Đập Đồng Thét

Được xây dựng vào năm 1962 trên sông Phước Giang, thuộc xã Hành Nhân (huyện Nghĩa Hành), được sửa chữa lại vào năm 1975. Hiện nay, công trình đầu mối và hệ thống kênh mương đã xuống cấp nặng. Diện tích tưới thiết kế của công trình là 250ha, thực tế chỉ mới tưới được 80ha. Nguồn nước đến đập đầy đủ nhưng cần phải sửa chữa, nâng cấp lại công trình đầu mối và hệ thống kênh để công trình đảm bảo diện tích tưới thiết kế.

Đập dâng Đá Giăng

Xây dựng từ năm 1980 trên sống Trà Câu, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ tại vị trí có diện tích lưu vực 74,5km2, có năng lực tưới theo thiết kế 700ha, nhưng thực tế chỉ tưới được 400ha do công trình bị xuống cấp và nguồn nước thiếu. Hiện nay, công trình này được bổng sung nước từ hồ chứa Núi Ngang.

​​​

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu UBND chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các quy đị​nh của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 07/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm điện.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì làm việc với các Sở ngành liên quan, UBND huyện Mộ Đức, Công ty Một thành viên Bò sữa Việt Nam về nội dung đề nghị của UBND huyện Mộ Đức tại Công văn số 826/UBND-KT ngày 08/8/2017 của UBND huyện Mộ Đức về việc đề nghị tạm dừng thi công dự án Kênh hồ chứa nước Lỗ Thùng để phục vụ Dự án nuôi bò sữa; tổng hợp, có ý kiến tham mưu, đề xuất cụ thể, trình UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo thực hiện. Hoàn thành trước ngày 25/8/2017.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện Quyết định số 2500/QĐ-BGDĐT ngày 27/7/2017 Ban hành Kế hoạch hành động giai đoạn 2017-2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện​ Đề án xây dựng và triển khai kê hoạch thực hiện các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN đến năm 2025.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện Thông tư số 19/2017/TT-BGDĐT ngày 28/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành giáo dục.

 

 

  
Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giao thông vận tải khẩn trương thực hiện yêu cầu của UBND tỉnh Bình Thuận tại Công văn số 2960/UBND-NC ngày 04/8/2017 về việc tăng cường xử lý vi phạm đối với ô tô kinh doanh vận tải khách, báo cáo kết quả thực hiện cho UBND tỉnh và UBND tỉnh Bình Thuận.

 

Chủ tịch UBND tỉnh thống nhất tổ chức Đoàn công tác của tỉnh dự Hội thảo thường niên về hợp tác, phát triển CNTT-TT Việt Nam lần thứ XXI năm 2017 tại tỉnh Lào Cai gồm thành phần đoàn công tác, nội dung đăng ký tham luận tại Hội thảo như đề nghị của Sở Thông tin và Truyền thông tại Công văn số 789/STTTT-CNTT ngày 31/7/2017.

 

  
Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Sở Tư pháp và các đơn vị liên quan nghiên cứu dự thảo Đề án “Công dân tiêu biểu tỉnh Quảng Ngãi” giai đoạn 2017-2020 do Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh xây dựng, tham mưu, trình UBND tỉnh quyết định trước ngày 30/8/2017. 

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu các nhóm giải pháp trong Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt tại Quyết định số 1137/QĐ-TTg ngày 03/8/2017 để xây dựng Kế hoạch hành động cho phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu, tham mưu, trình UBND tỉnh ban hành trong tháng 10/2017.

 

  
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở Đề án phát triển kinh tế biển, đảo tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 533/QĐ-UBND ngày 31/7/2017, tập trung vào những nội dung liên quan trực tiếp đến chức năng nhiệm vụ của ngành tài nguyên môi trường để lập Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 10/12/2015 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, đảm bảo tính khả thi; trình UBND tỉnh xem xét, quyết định trước ngày 30/8/2017.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan, địa phương có liên quan, tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công với cách mạng theo nội dung đề cương hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Công văn số 4078/BNV-TL ngày 02/8/2017.

 

Sở, ban, ngành

Huyện, thành phố

Phim tư liệu

Thông tin tiện ích