English Thứ Hai, 19-11-2018, 20:06 (GMT+7)

Thông báo của UBND tỉnh

Hệ thống văn bản

Quy định cần biết

Công bố thông tin

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 82557971
Đang online: 119
Tin tức Tin tức - sự kiện Xem chi tiết tin tức

Bí thư Tỉnh ủy Lê Viết Chữ- Công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Đăng ngày: 14/09/2018; 1223 lần đọc
Ủy viên Trung ương Đảng- Bí thư Tỉnh ủy- Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh phát biểu tại Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 13

Đó là khẳng định của đồng chí Lê Viết Chữ- Ủy viên Trung ương Đảng- Bí thư Tỉnh ủy- Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi tại Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 13, khoá XIX. Tại Hội nghị này, Bí thư Tỉnh ủy đã có nhiều ý kiến chỉ đạo rất xác đáng, thiết thực để thực hiện các nhiệm vụ các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã đề ra. 

Cổng Thông tin điện tử tỉnh xin trích đăng toàn văn phát biểu bế mạc của Bí thư Tỉnh ủy tại Hội nghị lần này:

 

Thưa các đồng chí đại biểu Trung ương; các đồng chí tham dự Hội nghị,

Với tinh thần làm việc khẩn trương và trách nhiệm, Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 13 đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Hội nghị cơ bản nhất trí với các dự thảo kế hoạch, báo cáo do BTVTU trình. Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng, chất lượng; chủ trì Hội nghị đã giải trình cơ bản đầy đủ các ý kiến. Các ý kiến còn băn khoăn, vướng mắc, sau Hội nghị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến tham gia để hoàn chỉnh và ban hành Kết luận Hội nghị; thay mặt chủ trì Hội nghị tôi xin tổng hợp kết quả và nhấn mạnh một số nội dung sau:

I. Về các Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII

Hội nghị thảo luận và nhất trí ban hành các Kế hoạch của Tỉnh ủy thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

1. Để thực hiện đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra trong Kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, tôi đề nghị các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu cần quan tâm các việc sau:

1.1. Cán bộ và công tác cán bộ là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến con người nên rất khó khăn, phức tạp và hệ trọng. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc thường xuyên của Đảng. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

1.2. Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý thống nhất đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, cơ chế và điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và bảo vệ cán bộ; phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm. Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ, bảo đảm tính khách quan, đúng đắn, đồng bộ và phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài. Quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa "xây" và "chống"; giữa "đức" và "tài"; giữa "hồng" và "chuyên"; giữa tính phổ biến và tính đặc thù; giữa kế thừa và phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể. Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp uỷ, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ của Đảng. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ”.

1.3. Đặc biệt chú trọng cơ cấu sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu.

1.4. Tập trung xây dựng các Đề án, Kế hoạch, Quy định để thực hiện tốt các nhóm nhiệm vụ trọng tâm: (1) xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tình hình mới; (2) phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ; (3) phát hiện, tiến cử người có đức, có tài; (4) cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm, từ chức để việc “có lên, có xuống”, “có vào, có ra”; thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu trở thành bình thường trong công tác cán bộ và việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ; (5) thực hiện thí điểm người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ; (6) thực hiện thí điểm giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm đối với cấp trưởng, cấp dưới trực tiếp của mình; (7) bố trí bí thư cấp ủy cấp huyện không là người địa phương và các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện; (8) tổ chức thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp; (9) thực hiện đánh giá, phân loại cán bộ theo hướng: xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị; (10) thực hiện cơ chế, chính sách liên thông, bình đẳng, nhất quán trong hệ thống chính trị đối với công tác cán bộ; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư; có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ "biên chế suốt đời" (11) Kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền, thân quen, “cánh hẩu” và các biểu hiện tiêu cực khác trong công tác cán bộ; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; làm trong sạch đội ngũ cán bộ; tổ chức bộ máy tinh gọn, vận hành linh hoạt, khoa học; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp.

2. Về Kế hoạch cải cách chính sách tiền lương

Kế hoạch đã xác định nhiệm vụ, thời gian thực hiện và hoàn thành; phân công cơ quan, tổ chức, cá nhân lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện; trong quá trình thực hiện cần lưu ý các vấn đề sau:

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống cho người hưởng lương và gia đình họ; trả lương đúng chính là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp, tiền lương là giá cả sức lao động, hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo quy luật của thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

Cải cách chính sách tiền lương có mối quan hệ mật thiết, gắn liền với cải cách hành chính, đổi mới, tinh giản, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các đơn vị sự nghiệp công lập. Do vậy, cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt các nội dung công việc đã được xác định trong Nghị quyết 27 của Trung ương và trong Kế hoạch của Hội nghị Tỉnh ủy lần này; tôi đề nghị các cấp, các ngành cần nghiêm túc, kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung công việc đã xác định trong các Kế hoạch của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị và sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập là vấn đề rất khó, rất phức tạp và nhạy cảm, vì nó liên quan đến quyền lợi, tâm tư, tình cảm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Song đây là vấn đề rất quan trọng, nếu chúng ta chủ quan, ngại đổi mới, ngại va chạm thì nó sẽ trở thành lực cản, điểm nghẽn cho sự phát triển, điểm nghẽn cho việc cải cách chính sách tiền lương. Do vậy, để hoàn thành được mục tiêu đề ra, đòi hỏi phải có sự đoàn kết, năng động; đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; quyết liệt trong lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của cả hệ thống chính trị và từng cán bộ, đảng viên, nhất là trách nhiệm của Ban Thường vụ cấp ủy và của người đứng đầu các ngành, các cấp.

3. Về Kế hoạch cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết và Kế hoạch của Tỉnh ủy; tôi xin lưu ý một số việc sau:

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, bảo đảm phát triển bền vững. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân để mọi người dân đều được bảo đảm an sinh xã hội.

Các cấp, các ngành cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết 27 của Trung ương và Kế hoạch của Hội nghị Tỉnh ủy lần này; tập trung làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, giúp cho mọi người dân hiểu chính sách bảo hiểm xã hội là để bảo đảm an sinh xã hội cho bản thân trước những rủi ro trong cuộc sống khi còn lao động và khi về già để mọi người tích cực tham gia bảo hiểm xã hội. Từng bước mở rộng vững chắc, tiến tới thực hiện bảo hiểm xã hội toàn dân trên cơ sở xây dựng hệ thống bảo hiểm đa tầng theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sang các nhóm đối tượng khác có nhu cầu và khả năng. Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch lao động làm việc trong khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức để gia tăng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách bảo hiểm xã hội, nhất là chính sách bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm hưu trí để phòng ngừa, giảm thiểu tác động của thất nghiệp, tạo sự gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng người lao động và doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất và việc làm; người lao động thất nghiệp dài hạn tìm việc làm mới. Tập trung kiện toàn, sắp xếp bộ máy tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ tỉnh đến huyện theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế; củng cố niềm tin, sự hấp dẫn và hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội…

II. Về thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU, Nghị quyết 02-NQ/TU, Nghị quyêt 03-NQ/TU và Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy

Hội nghị thống nhất với nhận định, đánh giá về những kết quả đạt được và những hạn chế, yếu kém nêu trong các báo cáo. Đó là: Kết cấu hạ tầng, được quan tâm đầu tư đã tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Kinh tế biển, đảo tiếp tục tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của tỉnh (83,4% GRDP toàn tỉnh); diện mạo nông thôn và đô thị ven biển có nhiều đổi mới, đời sống dân cư được nâng lên. Du lịch, dịch vụ có bước phát triển khá; năm 2017, lượng khách đến tỉnh đạt 810.000 lượt, tăng bình quân 11,6%/năm; thu hút được khá nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu, khảo sát, đầu tư khách sạn, trung tâm thương mại, khu nghỉ dưỡng cao cấp, khu văn hóa tâm linh… Việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi đạt được những kết quả quan trọng; nhận thức trong xã hội về vị trí, vai trò của văn hóa, con người đối với sự phát triển có nhiều chuyển biến tích cực; dân trí từng bước được nâng lên.

Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nhìn chung chưa hoàn thiện, nhiều công trình quan trọng chưa triển khai thực hiện hoặc thực hiện chậm, kéo dài; đầu tư công vẫn còn dàn trải; một số dự án hạ tầng kỹ thuật thuộc diện khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư theo tinh thần Nghị quyết của Tỉnh ủy nhưng một số ngành, địa phương chưa nhất quán trong thực hiện; sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư vào một số công trình mà các thành phần kinh tế có khả năng đầu tư tốt hơn; dẫn đến kéo dài thời gian, đầu tư không đồng bộ; chất lượng kém; thất thoát, tiêu cực. Lĩnh vực dịch vụ, du lịch, kinh tế biển, đảo phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; các ngành dịch vụ quy mô nhỏ, hoạt động thiếu chuyên nghiệp; ô nhiễm môi trường khu vực ven biển và đảo Lý Sơn diễn biến phức tạp; thiếu các loại hình dịch vụ, sản phẩm du lịch chất lượng cao. Văn hóa - xã hội phát triển chưa tương xứng với phát triển kinh tế; việc xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh chưa đạt yêu cầu đề ra; thiết chế văn hóa còn thiếu và lạc hậu, còn mang nặng tính hình thức, bao cấp...

Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế nêu trên là ở khâu tổ chức thực hiện; năng lực, tinh thần trách nhiệm của nhiều cán bộ ở tất cả các cấp chưa theo kịp yêu cầu; công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thu hút, đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế … 

Hội nghị cơ bản thống nhất với những nhiệm vụ xác định trong các báo cáo và có nhiều ý kiến đề xuất bổ sung nhiệm vụ, giải pháp rất xác đáng, thiết thực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của các đại biểu để thể chế hóa thành Kết luận chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện. Tôi xin nhấn mạnh một số nội dung cần tập trung thực hiện:

1. Về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, từ nay đến cuối nhiệm kỳ cần:

- Huy động mọi nguồn lực, kết hợp với nguồn vốn ngân sách tập trung đầu tư hoàn thành và đưa vào sử dụng các công trình lớn, trọng điểm của tỉnh như: Nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1, đoạn Dốc Sỏi - VSIP; Nâng cấp đường Quảng Ngãi - Chợ Chùa; Nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 24B (đoạn qua trung tâm huyện lỵ Sơn Tịnh mới); đường Trì Bình - Cảng Dung Quất; Nâng cấp, mở rộng tuyến Quảng Ngãi - Thạch Nham (giai đoạn 2); cảng Bến Đình, cầu Cửa Đại; dự án Thành phố giáo dục Quốc tế Quảng Ngãi; Khu dịch vụ chất lượng cao Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Trung tâm thể dục thể thao tỉnh và một số công trình quan trọng khác.

- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020; ưu tiên ngân sách nhà nước tập trung đầu tư dứt điểm, đưa vào sử dụng một số công trình trọng điểm, có tính lan tỏa; kiên quyết thực hiện chủ trương ngân sách nhà nước không đầu tư vào những công trình mà các thành phần kinh tế khác đầu tư.

- Tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án lớn, có tính chất lan tỏa: Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát - Dung Quất; Đô thị Công nghiệp Dung Quất, dự án Khu công nghiệp, Đô thị và Dịch vụ VSIP Quảng Ngãi, 03 dự án Điện – Khí Dung Quất; nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất; các bến cảng chuyên dùng tại Khu kinh tế Dung Quất; đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN nhẹ Bình Hòa – Bình Phước; đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh (giai đoạn 2); đường Chu Văn An; đường Dốc Sỏi - sân bay Chu Lai; đường nối cầu Thạch Bích với Khu Công nghiệp VSIP; các dự án đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, du lịch, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao.

- Huy động nguồn lực và sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giáo dục, y tế; ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư kiên cố hóa trường lớp học, trang thiết bị phục vụ giảng dạy; đầu tư nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh đạt tiêu chuẩn hạng 1; hệ thống xử lý chất thải y tế tập trung...

- Thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, để sớm bàn giao mặt bằng thực hiện các dự án; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các ngành, các cấp, thường xuyên tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại với người dân, doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡm khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội.

 - Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng; loại bỏ và kiến nghị cấp trên loại bỏ những thủ tục rườm rà, gây cản trở cho công dân, tổ chức.

2. Về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, đảo, từ nay đến cuối nhiệm kỳ cần:

- Ưu tiên phân bổ nguồn vốn ngân sách, khuyến khích, huy động các nguồn lực khác để đầu tư hoàn thành các công trình hạ tầng quan trọng, tạo động lực phát triển kinh tế, biển đảo như giao thông, cảng biển, dịch vụ biển.

- Thực hiện tốt các chính sách phát triển thủy sản, tăng cường năng lực và hiện đại hóa đội tàu cá, tiếp tục xây dựng các tổ hợp tác đánh bắt cá và dịch vụ hậu cần trên biển gắn với dịch vụ hậu cần trên bờ; kêu gọi, hỗ trợ đầu tư phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, nông lâm sản; kết nối, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị giá tăng.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành đưa vào khai thác hiệu quả các khu, điểm du lịch; kiến quyết thu hồi các dự án không thực hiện hoặc thực hiện chậm tiến độ kéo dài.

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; bảo vệ và phát triển bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển; cải tạo môi trường ở các vùng bị ô nhiễm; khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xử lý rác thải, nước thải ở các huyện ven biển.

- Nâng cao năng lực quốc phòng vùng biển, đảo; chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện kịp thời các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các loại tội phạm nhằm đấu tranh có hiệu quả, giữ vững an ninh quốc phòng khu vực biên giới biển, đảo.

3. Về phát triển dịch vụ, du lịch cần tập trung

- Khai thác, phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế về phát triển các ngành dịch vụ như cảng biển nước sâu Dung Quất gắn với phát triển ngành dịch vụ Logistic; phát triển các dịch vụ vận tải, dịch vụ thương mại, dịch vụ kinh doanh bất động sản, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, tài chính...

- Hỗ trợ các nhà đầu tư hoàn thành thủ tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: Quần thể du lịch nghỉ dưỡng và đô thị Bình Châu – Lý Sơn; chùa Minh Đức và khu văn hóa Thiên Mã; Trung tâm thương mại shophouse, Trung tâm thương mại Hùng Cường Big C; Khu du lịch Bãi Dừa, Suối nước nóng Nghĩa Thuận...

- Triển khai thực hiện Dự án Bảo tồn khẩn cấp đảo Bé. Hoàn thành hồ sơ đề nghị công nhận Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn, Bình Châu và vùng phụ cận.

- Đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa, lịch sử gắn với cụm di tích khởi nghĩa Ba Tơ, khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Khu Chứng tích Sơn Mỹ, Khu văn hóa Thiên Ấn, Công viên Thiên Bút; đưa vào sử dụng Khu Bảo tồn Văn hoá Sa Huỳnh.

- Tiếp tục bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể; tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trên địa bàn tỉnh.

- Huy động mọi nguồn lực, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển các khu, điểm du lịch theo quy hoạch được duyệt, các cơ sở lưu trú, nhà hàng, các khu nghỉ dưỡng cao cấp, trung tâm hội nghị, sân golf, các cơ sở dịch vụ thông tin, tư vấn du lịch, cơ sở dịch vụ tham quan, nghỉ dưỡng,...

4. Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi là công việc thường xuyên, liên tục, lâu dài nhưng trước hết cần:

- Tiếp tục rà soát, bổ sung, ban hành mới các cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi: Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Quảng Ngãi đến năm 2030; Quy định quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địa bàn tỉnh; Đề án ngân hàng tên đường phố, công trình công cộng trên địa bàn tỉnh...

- Sử dụng nguồn vốn ngân sách kết hợp huy động nguồn lực xã hội xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao; trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa vật thể, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh.

- Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; ngăn chặn, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; các hoạt động văn học, nghệ thuật không đúng tôn chỉ, mục đích, trái với thuần phong, mỹ tục.

   - Tăng cường tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến đầu tư về văn hóa, nghệ thuật; tích cực giao lưu, hợp tác về văn hóa, thể thao, du lịch với các tỉnh, thành trong cả nước, các nước trong khu vực và thế giới.

- Nâng cao hiệu quả sử dụng và hoạt động các thiết chế văn hóa, thể thao; thực hiện Đề án sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh.

- Đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chuyên ngành văn hóa, nhất là ở cơ sở để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người ở cơ sở trong giai đoạn mới.

Thưa các đồng chí,

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ đề ra tại Hội nghị Tỉnh ủy lần này, tôi trân trọng đề nghị mỗi đồng chí Tỉnh ủy viên, thủ trưởng các sở, ngành; các tổ chức chính trị - xã hội; cấp ủy, chính quyền các cấp; trên từng cương vị công tác của mình hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện thật tốt các Kế hoạch, Kết luận của Tỉnh ủy lần này, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 13; chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Trân trọng cảm ơn!​


Xem tin theo ngày tháng

Ngày: Tháng: Năm: 

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Ngân hàng chính sách xã hội – chi nhánh Quảng Ngãi chủ trì nghiên cứu nội dung chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Công văn số 8508/NHNN-TD ngày 09/11/2018 để tham mưu UBND tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Hoàn thành chậm nhất ngày 20/11/2018.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch khẩn trương nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh giải quyết kiến nghị của Ban Quản lý dự án ĐTXD các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi tại văn bản số 1137/BC-BQLDDCN ngày 05/11/2018 về việc quá trình đầu tư công trình Trung tâm hành chính công tỉnh Quảng Ngãi, theo chủ trương đã được UBND tỉnh thống nhất tại Công văn số 5604/UBND-CNXD ngày 05/11/2018.​

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan, căn cứ nội dung quy định tại các Nghị định của Chính phủ: số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động; số 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, thực hiện và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp triển khai thực hiện theo đúng quy định.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì, khẩn trương tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài chính về kết quả thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-CP ngày 19/6/2017 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị định số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Hoàn thành chậm nhất ngày 30/11/2018.​

 

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện Chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2014 – 2018 và hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh; nhiệm vụ, giải pháp thực hiện đến năm 2020 và đề xuất các nội dung, nhiệm vụ cần thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2030; trực tiếp báo cáo Bộ Công Thương, UBND tỉnh theo thời gian yêu cầu.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì, tổ chức triển khai thực hiện Chương trình “Hỗ trợ chính sách phát triển năng lượng và tăng cường tiếp cận năng lượng bền vững tới khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo” sử dụng vốn ODA không hoàn lại do EU tài trợ theo chỉ đạo của Bộ Công Thương tại Quyết định số 3337/QĐ-BCT ngày 17/9/2018; đồng thời, tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.​

 

 

 

Thông báo

Kết quả giải quyết Hồ sơ

Phim tư liệu

Quảng Ngãi: Tiềm năng và Triển vọng

Thông tin tiện ích