English Thứ Sáu, 19-01-2018, 04:44 (GMT+7)

Thông báo của UBND tỉnh

Hệ thống văn bản

Quy định cần biết

Công bố thông tin

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 67870739
Đang online: 45

Sở, ban, ngành

Huyện, thành phố

Tin tức Báo cáo năm 2010 Xem chi tiết tin tức

Báo cáo năm 2010

Đăng ngày: 03/12/2010; 30787 lần đọc

BÁO CÁO

Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2010

và Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2011

 

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2010

 

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

Năm 2010 là năm cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006- 2010 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001- 2010, vì vậy việc thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2010 có ý nghĩa rất quan trọng, đồng thời cũng tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2010, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đã đạt được trong năm 2009, nền kinh tế của tỉnh cũng gặp phải những khó khăn nhất định: Kinh tế thế giới đã và đang dần ổn định song vẫn chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng, giá cả trên thị trường vẫn có xu hướng tăng, gây áp lực đến mặt bằng giá cả chung trong nước.

Trước tình hình trên, ngay từ đầu năm UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 14/QĐ-UBND ngày 29/01/2010 và tập trung tổ chức thực hiện các giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Ngãi năm 2010; trong đó, tập trung thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm bình ổn kinh tế, không để lạm phát cao theo tinh thần Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/4/2010 của Chính phủ, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 34-35% nên tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2010 vẫn phát triển ổn định và đạt nhiều kết quả khả quan, góp phần hoàn thành hầu hết các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Nghị quyết 36/2006/NQ-HĐND ngày 15/5/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi khóa X, kỳ họp thứ 8 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010) đề ra, cụ thể như sau:

I. VỀ LĨNH VỰC KINH TẾ

Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2010 ước đạt 8.743,28 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), tăng 35,9% so với năm 2009 và bằng 100,6% kế hoạch; trong đó, khu vực nông-lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.686,89 tỷ đồng, tăng 4,4%; khu vực công nghiệp-xây dựng đạt gần 4.712,28 tỷ đồng, tăng 70,2%; khu vực dịch vụ đạt 2.344,11 tỷ đồng, tăng 14,5%. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 đạt 18,66%, cao hơn tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 (9,86%), hoàn thành vượt mức chỉ tiêu Nghị quyết 36/2006/NQ-HĐND ngày 15/5/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi khóa X, kỳ họp thứ 8 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010) đề ra.

GDP bình quân đầu người tăng từ 773 USD năm 2009 lên 1.228 USD năm 2010, cao hơn kế hoạch 2010 (1.124 USD) và vượt mức Nghị quyết HĐND đề ra (950-1.000 USD).

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong tỉnh của khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 46,12% năm 2009 lên 58,95% năm 2010; tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 26,06% năm 2009 xuống còn 18,4% năm 2010 và tỷ trọng khu vực dịch vụ giảm từ 27,82% năm 2009 xuống còn 22,65% trong tổng sản phẩm trong tỉnh. 

1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 ước đạt 17.740,18 tỷ đồng (giá so sánh 1994), gấp 2,56 lần so với năm 2009 và bằng 115,5% kế hoạch năm; trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 14.791,89 tỷ đồng, gấp 3,508 lần; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt gần 2.757,98 tỷ đồng, tăng 7,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 190,31 tỷ đồng, tăng 28,5% so với năm 2009.

Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng nhảy vọt, nguyên nhân chính là năm 2010 Nhà máy lọc dầu Dung Quất hoạt động gần hết công suất, sản phẩm sản xuất ước đạt 5,72 triệu tấn, gấp 3,75 lần năm 2009. Mặt khác, một số nhà máy lớn trong các Khu công nghiệp và Khu Kinh tế Dung Quất cũng đã đi vào hoạt động và cho những sản phẩm mới. Ngoài ra, trước tình hình suy thoái kinh tế, UBND tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đã tạo điều kiện cho sản xuất công nghiệp của tỉnh phát triển.

Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: thuỷ sản chế biến (tăng 6,9%); bia (tăng 34,2%); nước khoáng và nước tinh khiết (tăng 21,6%); phân bón (tăng 8,4%); dăm gỗ nguyên liệu giấy (tăng 147,5%); sản phẩm lọc hoá dầu đạt 5,72 triệu tấn (gấp 3,75 lần so với năm 2009). Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm sút: Đường RS trên địa bàn tỉnh (giảm 16,2%); tinh bột mỳ trên địa bàn tỉnh (giảm 39,8%); quần áo may sẵn (giảm 16,4%).

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và tài nguyên - môi trường

Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.753,77 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994), tăng 6,1% so với năm 2009 và bằng 102% kế hoạch năm.

Thời tiết trong năm thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ Đông Xuân. Tuy vậy, những đợt nắng nóng kéo dài trong những ngày hè làm các nguồn nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng, nhất là thiếu nước gieo sạ lúa vụ Hè Thu.

Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt cả năm ước đạt 82.970 ha, giảm 0,5% so năm trước; sản lượng lương thực ước đạt 443,46 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2009 và đạt 98,8% kế hoạch. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa đạt 72.696 ha, tăng 0,3% so năm 2009 và đạt 100,1% kế hoạch; năng suất ước đạt 53,9 tạ/ha, tăng 6,4%; sản lượng đạt gần 391,58 ngàn tấn, tăng 5,8% và đạt 99,7% kế hoạch năm. Diện tích ngô cả năm ước đạt 10.274 ha, giảm 5,3% so với năm 2009 và bằng 92,8% kế hoạch; năng suất ước đạt 50,5 tạ/ha, tăng 9,1%; sản lượng ước đạt gần 51,89 ngàn tấn, tăng 3,3% và đạt 92,4% kế hoạch.

Diện tích trồng mía ước đạt 5.714 ha, giảm 5,6% so với năm 2009, đạt 87,9% kế hoạch; sản lượng đạt gần 269,2 ngàn tấn, giảm 8% so với 2009 và đạt 78,1% KH. Các loại cây trồng khác như sắn, lạc, rau đậu các loại đều có diện tích trồng tăng so với năm trước.

Công tác phòng chống dịch gia súc, gia cầm được quan tâm đúng mức. Ngoài việc thường xuyên triển khai các biện pháp chủ động phòng chống dịch, tỉnh đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y, khử trùng, tiêu độc. Trong năm các loại dịch bệnh có tính chất nghiêm trọng như cúm gia cầm, lở mồm long móng gia súc xảy ra trên địa bàn tỉnh như: dịch lở mồm long móng gia súc, dịch cúm gia cầm xảy ra tại một số xã thuộc huyện Sơn Tịnh; bệnh tai xanh ở lợn xảy ra ở một vài xã thuộc huyện Sơn Tịnh và Tư Nghĩa,... Tuy nhiên, các ổ dịch xảy ra rải rác, ở mức độ nhỏ và đã được kịp thời bao vây, khống chế dập tắt nên không lây lan ra diện rộng.

Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt 852,17 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 1,83% so với năm 2009 và bằng 100,3% kế hoạch năm. Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 109,39 ngàn tấn, tăng 9,0% so năm 2009. Trong đó, sản lượng thuỷ sản khai thác ước đạt 102,47 ngàn tấn, tăng 10,9% so với năm 2009 và đạt 111,4% kế hoạch; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 6,92 ngàn tấn, giảm 13,2% so năm trước và đạt 89,8% KH.

Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 144,931 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 1,2% so với năm 2009 và bằng 96,6% kế hoạch năm. Công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô được tăng cường. Sản lượng gỗ khai thác đạt 155 ngàn m3, trong đó chủ yếu từ rừng trồng. Chăm sóc rừng đạt 17.720 ha. Các Ban quản lý trồng rừng triển khai thực hiện ký hợp đồng bảo vệ rừng; chăm sóc rừng trồng; khảo sát chọn vùng trồng rừng, thiết kế trình phê duyệt; chuẩn bị vườn ươm; đã gieo tạo 8,5 triệu cây giống phục vụ công tác trồng rừng năm 2010. Tình hình chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng, vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đến nay, các ngành chức năng đã thực hiện 1.529 đợt kiểm tra, truy quét các tụ điểm khai thác, chặt phá rừng, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản và động vật rừng. Qua kiểm tra, phát hiện 317 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, thu giữ 343,3 m3 gỗ các loại,tạm giữ nhiều phương tiện vận chuyển,...

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường được triển khai theo kế hoạch; đã thực hiện đo bản đồ địa chính tại 26 xã, thị trấn thuộc các huyện Tư Nghĩa, Minh Long, Lý Sơn; kết quả đo đạc bản đồ địa chính được 10.000 ha, đạt 100% kế hoạch năm. Đăng ký đất đai, cấp mới và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất với tổng số 20.000 giấy, đạt 100% kế hoạch. Trong năm, đã thực hiện cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, cấp phép khai thác khoáng sản cho 10 tổ chức và cấp phép khai thác tài nguyên nước cho 05 tổ chức. Tăng cường thông tin truyền thông về bảo vệ môi trường, nâng cao nhân thức cộng đồng về môi trường; giải quyết từng bước suy thoái môi trường ở các nhà máy, khu kinh tế Dung Quất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề, các khu định cư; tăng cường thu gom và xử lý chất thải rắn.

3. Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trường

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 17.229,712 tỷ đồng, tăng 28,58% so với năm 2009, vượt 2,6% kế hoạch năm; trong đó, thành phần kinh tế nhà nước đạt 1.310,5 tỷ đồng, tăng 39,32% và chiếm tỷ trọng 7,61%; kinh tế cá thể đạt 12.028,038 tỷ đồng, tăng 18,32%, chiếm tỷ trọng 69,81%; kinh tế tư nhân đạt 3.878,276 tỷ đồng, tăng 69,76%, chiếm 22,51%.

Hoạt động xuất khẩu của địa phương sau cuộc suy thoái kinh tế thế giới vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một số mặt hàng xuất khẩu giảm sút so với năm trước. Song, nhờ có sản phẩm xuất khẩu của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, sản phẩm của Công ty TNHH công nghiệp nặng Doosan Việt Nam nên tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm tăng cao so với năm 2009. Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 270,045 triệu USD, tăng 92,5% so với năm 2009 và bằng 117,4% kế hoạch năm. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.203,84 triệu USD, tăng 144,1% so với năm 2009 và bằng 100,12% kế hoạch năm.

Hoạt động vận tải tiếp tục tăng trưởng ổn định  nhờ một số phương tiện vận tải trang bị mới. Trong năm ước vận chuyển được 1,92 triệu lượt khách với mức luân chuyển 497,94 triệu lượt khách-km, tăng 8,9% về lượt khách và 8,5% về lượt khách-km so với năm 2009. Vận tải hàng hóa ước đạt 3,25 triệu tấn với mức luân chuyển 591,98 triệu tấn-km, tăng 14,8% về tấn vận chuyển và 14,6% về tấn-km so với năm 2009. Doanh thu vận tải và các hoạt động dịch vụ liên quan đến vận tải ước đạt 514,647 tỷ đồng, tăng 21,92% so với năm 2009.

Công tác quản lý thị trường được duy trì thường xuyên, các Đội quản lý thị trường tập trung thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, chống vận chuyển, buôn bán hàng lậu, hàng cấm, gian lận thương mại, đầu cơ nâng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống của nhân dân. Kết quả cho thấy tình hình thị trường đã có nhiều diễn biến tích cực, góp phần tích cực phát triển sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2010 tăng 6,37% so với tháng 12/2009 và tăng 7,37% so với cùng kỳ năm 2009. Giá vàng trong năm diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng mạnh. Chỉ số giá vàng tháng 11/2010 tăng 10,44% so với tháng 12/2009 và tăng 11,46% so với cùng kỳ năm 2009.

4. Thu, chi ngân sách và tiền tệ

a) Thu, chi ngân sách nhà nước:

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 14.500 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán năm; trong đó thu nội địa đạt 8.170 tỷ đồng, bằng 89,7% dự toán năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 5.900 tỷ đồng, bằng 116,6% dự toán nămHầu hết các khoản thu đều đảm bảo tiến độ, đạt trên 100% dự toán năm và tăng so với cùng kỳ năm 2008; tuy nhiên, tổng thu nội địa đạt thấp so với dự toán là do khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhưng phát sinh thấp là thu từ doanh nghiệp Nhà nước trung ương (chủ yếu là thu từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất) chỉ đạt 83,5% dự toán năm.

Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 5.600,58 tỷ đồng, bằng 136,5% dự toán năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển (chưa kể chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương) ước đạt 2.557,03 tỷ đồng, bằng 197,5 % dự toán năm; chi thường xuyên ước đạt 2.018,44 tỷ đồng, bằng 108,9% dự toán năm; chi dự phòng ngân sách tỉnh đạt 92,23 tỷ đồng, bằng 100% dự toán năm.

b) Về tiền tệ:

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng trên địa bàn trong năm 2010 có biến động nhưng biên độ tăng, giảm không lớn. Tổng nguồn vốn huy động đến ngày 31/12/2010 ước đạt 13.500 tỷ đồng, tăng 35,65% so với cùng kỳ năm 2009. Tổng dư nợ cho vay đến ngày 31/12/2010 ước đạt 15.500 tỷ đồng, tăng 34,68% so với cùng kỳ năm 2009 (trong đó, nợ xấu chỉ chiếm 1,61% tổng dự nợ).

Các ngân hàng đã chủ động lựa chọn khách hàng uy tín để cho vay, như ưu tiên các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, các ngành kinh tế mũi nhọn, rà soát các dự án có hiệu quả, các khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực trọng yếu có tác động tích cực đến việc thúc đẩy tăng tưởng kinh tế địa phương; đặc biệt là cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến ngày 31/12/2010, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn ước đạt 5.200 tỷ đồng, chiếm 33,54% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 188 tỷ đồng, chiếm 2,11% tổng dư nợ; dư nợ cho vay nhập khẩu 3.350 tỷ đồng, chiếm 16,48% tổng dư nợ; dư nợ cho vay theo lãi suất thỏa thuận đạt 3.708 tỷ đồng, chiếm 27,83% tổng dư nợ, lãi suất phổ biến 14%/năm.

5. Đầu tư phát triển, đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp tỉnh và Khu kinh tế Dung Quất

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn trong năm ước đạt 15.482 tỷ đồng, bằng 94,5% so với năm trước. Trong đó, vốn khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 9.955 tỷ đồng, bằng 91,9%; vốn ngoài nhà nước đạt 4.602 tỷ đồng, tăng 11,7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 925 tỷ đồng, bằng 64,4% so với năm trước.

Tổng kế hoạch vốn ngân sách cân đối cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh năm 2010 là 2.339,9 tỷ đồng (trong đó có 905 tỷ đồng vốn hỗ trợ có mục tiêu từ nguồn thu Nhà máy lọc dầu Dung Quất và 70,5 tỷ đồng tạm ứng KBNN); kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2010 là 694,441 tỷ đồng, kế hoạch năm 2009 được tiếp tục thanh toán là 232,074 tỷ đồng, tổng cộng là 926,515 tỷ đồng. Kết quả, tổng giải ngân vốn ngân sách và vốn trái phiếu Chính phủ đến 31/10/2010 đạt 1.823 tỷ đồng, bằng 56% kế hoạch; trong đó, vốn ngân sách đạt 1373/2.339,9 tỷ đồng, bằng 59% kế hoạch, vốn trái phiếu Chính phủ đạt 449,9/927,721 tỷ đồng, bằng 49% kế hoạch. Ước giải ngân vốn ngân sách và vốn trái phiếu Chính phủ đến cuối năm đạt 95% kế hoạch; trong đó, vốn ngân sách ước đạt 2.182/2.339,9 tỷ đồng, bằng 93% kế hoạch, vốn trái phiếu Chính phủ ước đạt 100% kế hoạch.

Cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho khoảng 600 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 3.138 tỷ đồng; trong đó có 100 doanh nghiệp tư nhân, 174 công ty TNHH 2 thành viên trở lên, 229 công ty TNHH 1 thành viên và 88 công ty cổ phần. Nhiều doanh nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã mạnh dạn đầu tư thiết bị mới, áp dụng tiến bộ KHCN; đầu tư vào những lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích như trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp – làng nghề.

Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước cơ bản đã hoàn thành theo đúng kế hoạch được phê duyệt. Những doanh nghiệp sau khi được sắp xếp, đổi mới đều hoạt động kinh doanh có hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao, thu nhập của người lao động tăng đáng kể. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính, tập trung vào việc thực hiện tốt cơ chế một cửa tại các cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế và khắc con dấu cho doanh nghiệp và đã thực hiện đăng ký nhập mã số thuế thành mã số doanh nghiệp.

Về tình hình thu hút đầu tư: Hoạt động xúc tiến đầu tư trong năm 2010 đã có sự chuyển hướng tích cực; dự kiến trong năm 2010, có 06 dự án FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đầu tư đăng ký là 400 triệu USD (chủ yếu là dự án Kho ngầm xăng dầu dầu khí Việt Nam, vốn đăng  ký là 340 triệu USD). Tính đến cuối năm 2010 trên địa bàn toàn tỉnh có 21 dự án có vốn FDI với tổng vốn đăng ký gần 5,3 tỷ USD (trong đó, có 06 dự án đã đi vào hoạt động, 01 dự án tạm ngừng hoạt động, 12 dự án đang hoàn thành các thủ tục về đất đai, 02 dự án dự kiến cấp vào cuối năm 2010). Tuy nhiên, vốn thực hiện các doanh nghiệp FDI trong năm chỉ đạt khoảng 60 triệu USD, bằng 75% so với năm 2009; trong đó, 50 triệu USD từ dự án Nhà máy thép Guang Lian Steel Việt Nam, còn lại là của Nhà máy công nghiệp nặng Doosan và Công ty TNHH máy công nghiệp nặng Kumwoo.

Trong năm 2010, có 34 dự án đầu tư trong nước được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 6.000 tỉ đồng. Vốn thực hiện ước khoảng 2.000 tỷ đồng. Như vậy, về số dự án thu hút cũng như số vốn đăng ký đều giảm hơn so với năm 2009, nhưng quy mô vốn của dự án có chiều hướng tăng lên. Trong số các dự án được cấp mới trong năm, có một số dự án có qui mô vốn khá lớn như dự án Thủy điện Sơn Trà 1 (vốn đăng ký là 1.483 tỷ đồng), dự án Thủy điện Sơn Trà 2 (vốn đăng ký là 397 tỷ đồng), dự án Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Quảng Ngãi (vốn đăng ký là 800 tỷ đồng), dự án Cấp nước Vinaconex (vốn đăng ký trên 500 tỷ đồng).

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Phát thanh truyền hình

Các hoạt động văn hoá, văn nghệ diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn, mừng Đảng, mừng Xuân và phục vụ các sự kiện lớn, tạo không khí thi đua trong đời sống lao động sản xuất, học tập của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Tỉnh đã tổ chức chu đáo, trọng thể các ngày Lễ lớn như: kỷ niệm 35 năm Giải phóng tỉnh Quảng Ngãi, 45 năm chiến thắng Ba Gia, Vạn Tường, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa và Khánh thành khu lưu niệm Đội Hoàng Sa kiêm quản Trưởng Sa, kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9, chào mừng đại hộ đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII...

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển đều khắp trong tỉnh, chất lượng phong trào ngày được nâng cao. Dự kiến cuối năm 2010 có 65% tổ, thôn đạt tiêu chuẩn văn hoá (kế hoạch: 70-75%); 75% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá (kế hoạch: 80-85%); 90% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hoá (kế hoạch: 90-95%).

Phong trào thể dục thể thao ở các đơn vị, địa phương tiếp tục phát triển; hoạt động thể dục thể thao được tổ chức rộng khắp đến các xã, phường, thị trấn, vùng sâu, vùng xa trong tỉnh. Ngành thể dục thể thao tổ chức thành công nhiều giải thể thao cấp tỉnh và toàn quốc. Đã tham gia thi đấu 34 giải thể thao khu vực và toàn quốc, đạt 27 huy chương vàng, 34 huy chương bạc, 80 huy chương đồng.

Hoạt động du lịch khởi sắc, số lượng khách đến tham quan, du lịch tại tỉnh tăng so với cùng kỳ năm 2009Tổng doanh thu du lịch ước đạt 185,232 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2009, đạt 92% so với kế hoạch năm. Tổng lượt khách ước đạt 286.810 lượt người, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2009; trong đó khách quốc tế ước đạt 25.876 lượt khách. Để triển khai các chương trình du lịch trong năm 2010, tỉnh đã phối hợp với các địa phương, các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động du lịch chào mừng các ngày lễ lớn; các hoạt động quảng bá du lịch về đảo Lý Sơn và Quảng Ngãi trong dịp Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa và khánh thành Khu lưu niệm Đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa;...

Chương trình phát thanh, truyền hình ngày càng nâng cao về nội dung và chất lượng, phản ánh sinh động, toàn diện và kịp thời tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các hoạt động chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. Bên cạnh đó, đảm bảo tiếp âm đầy đủ các chương trình của Đài TNVN và Đài tỉnh, 14 Đài truyền thanh, truyền thanh – phát lại truyền hình huyện, thành phố đều sản xuất và phát sóng mỗi ngày 1 chương trình thời sự tổng hợp với thời lượng 30 phút, đảm bảo phát sóng định kỳ trang truyền hình và truyền thanh địa phương trên sóng Đài tỉnh. Ước đến cuối năm 2010, sóng phát thanh sẽ phủ được 100%, sóng truyền hình phủ được 100% diện tích toàn tỉnh; 99% số dân được nghe đài và 95% số dân được xem truyền hình.

2. Y tế:

Công tác phòng, chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tiếp tục được tăng cường; thường xuyên giám sát dịch tễ, phát hiện sớm những ca bệnh và ngăn chặn kịp thời không cho dịch lớn xảy ra. Tuy nhiên, tình hình sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, dịch đã phát triển mạnh vào những tháng cuối năm. Đến ngày 29/10/2010, tổng số ca mắc bệnh là 3.800 ca.Các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch trong nhân dân, huy động cộng đồng tham gia bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Thực hiện công tác điều động bác sĩ tăng cường về tuyến xã, đến nay đã có 100% trạm Y tế xã có bác sĩ.

Đẩy mạnh các hoạt động phòng chống HIV/AIDS, hạn chế tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng (xét nghiệm 6.030 ca, dương tính 16 ca; lũy kế từ năm 1995 đến nay, toàn tỉnh có 593 ca nhiễm HIV/AIDS, đã chết 130); xây dựng kế hoạch, nội dung công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; thực hiện tốt công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; thực hiện công tác phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, phấn đấu giảm số trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cả năm còn 20%.

Công tác khám, chữa bệnh được quan tâm đúng mức, toàn ngành tiếp tục chấn chỉnh tinh thần, thái độ phục vụ, nâng cao y đức, cứu chữa kịp thời các trường hợp khẩn cấp và tổ chức khám, chữa bệnh lưu động phục vụ  các xã khó khăn trong tỉnh; tổ chức kiểm tra vệ sinh, an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh; tổ chức tiêm chủng mở rộng cho các cháu trong độ tuổi và phụ nữ có thai. Hiện nay, công suất sử dụng giường bệnh bình quân chung các bệnh viện khá cao, riêng Bệnh viện Đa khoa tỉnh tiếp tục trong tình trạng quá tải (143,32%).

3. Giáo dục và Đào tạo:

Trong năm, ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai xây dựng các trường đạt chuẩn Quốc gia, ước đến cuối năm 2010 trường Mầm non đạt chuẩn đạt tỷ lệ 10,62%; trường tiểu học đạt chuẩn đạt tỷ lệ 48,32%; trường THCS đạt tỷ lệ 44,31%, THPT đạt chuẩn đạt tỷ lệ 31,58%.

Tỷ lệ thí sinh tốt nghiệp THPT của tỉnh được nâng cao và ngày càng ổn định; công tác tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2009 - 2010 diễn ra nghiêm túc, an toàn, đúng qui chế, toàn tỉnh có 18.282 thí sinh tham gia dự thi, kết quả có 17.598 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, chiếm tỷ lệ 96,24% tăng 22,86%  so với năm học 2008-2009. Năm 2010, trong kỳ thi đại học, cao đẳng, Quảng Ngãi có 10.201 thí sinh trúng tuyển đạt tỷ lệ 37%.

Các đơn vị thường xuyên tổ chức các hoạt động chuyên môn liên tục trong suốt năm học, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn ngành, như: các kỳ thi học sinh giỏi, giáo viên dạy giỏi, làm đồ dùng học tập, thi vẽ tranh, thi vỡ sạch chữ đẹp, thi tổng phụ trách đội giỏi, thi giải toán trên máy tính bỏ túi...

Hiện nay, toàn tỉnh có 7.116 phòng học các cấp; trong đó có 3.834 phòng học kiên cố, 3.045 phòng học bán kiên cố và 237 phòng học tạm thời. Thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012, đến hết năm 2010 đã xây dựng được  822 phòng học và 176 Nhà công vụ giáo viên.

4. Lao động - Thương binh và Xã hội

Công tác quản lý lao động - việc làm - tiền lương, quản lý đào tạo nghề,  chính sách thương binh - liệt sĩ và người có công, bảo trợ xã hội - phòng chống tệ nạn xã hội và công tác trẻ em, hoạt động Quỹ bảo trợ trẻ em được triển khai theo kế hoạch.

Ngành Lao động phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tốt hoạt động kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27/7. Trong năm, đã giải quyết được 7.392 hồ sơ người có công với Cách mạng được hưởng chính sách theo quy định tại Nghị định số 54/2006/NĐ-CP của Chính phủ; quyết định trợ cấp một lần cho 1.253 hồ sơ theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng số tiền hơn 2 tỷ đồng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người có công với cách mạng, ước đến cuối năm hoàn thành viêc hỗ trợ, xây dựng sửa chữa 314 nhà còn lại, đạt chỉ tiêu 100% kế hoạch đề ra.

Tính đến cuối năm, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 35.000 lao động, đạt 100% kế hoạch; 1.500 người đi làm việc ở nước ngoài; trong đó, 600 lao động thuộc các huyện nghèo theo Quyết định 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện phân bổ, theo dõi cấp phát 4.939,49 tấn gạo cho 306.838 khẩu thiếu ăn trong dịp Tết Nguyên đán và thời kỳ giáp hạt 2010. Hỗ trợ đột xuất cho 35 người bị chết và bị thương do thiên tai.

Chương trình mục tiêu giảm nghèo đạt được kết quả tốt, ước tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 13.281 hộ thoát nghèo, 2.643 hộ tái nghèo, ước còn 45.589 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 15% theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010.

5. Khoa học và Công nghệ

Tiếp tục triển khai thực hiện 17 đề tài, dự án khoa học - công nghệ cấp tỉnh chuyển tiếp từ năm 2009 sang; đồng thời, triển khai 02 dự án thuộc chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi. Triển khai thực hiện mới năm 2010 gồm 16 đề tài, dự án. Đã tổ chức nghiệm thu 04 đề tài, dự án khoa học. Tổ chức phổ biến, chuyển giao kết quả nghiên cứu đề tài khoa học - công nghệ cho các cơ quan, đơn vị,...

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ được tăng cường đã góp phần nâng cao nhận thức chấp hành pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hạn chế những sai phạm trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, an toàn bức xạ,... Trong năm, đã thực hiện 12 cuộc thanh tra chuyên ngành tại 244 cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà phân phối và dịch vụ trên địa bàn tỉnh; tổ chức kiểm tra cân đối chứng và cân thông dụng tại các chợ trung tâm; giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường tại các doanh nghiệp.

6. Thông tin và Truyền thông:

Tiếp tục thực hiện việc ổn định tổ chức bộ máy và hoạt động của ngành, đồng thời tổ chức triển khai hoạt động của Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT), tăng cường quản lý nhà nước về CNTT đã được chủ động triển khai thực hiện nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Công tác quản lý nhà nước về báo chí và hoạt động báo chí ở địa phương từng bước đi vào nề nếp, đảm bảo được nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền và định hướng được dư luận xã hội, góp phần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Các điểm Bưu điện Văn hóa xã, các vùng miền còn gặp nhiều khó khăn đã được cung cấp báo in kịp thời giúp cho người đọc nắm bắt được đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ngành Viễn thông tiếp tục phát triển khá và ổn định; đến nay, tổng số máy điện thoại có trên mạng ước đạt 1.105.000 máy; số điện thoại/100 dân ước đạt 85 máy, số người sử dụng Internet ước đạt 40 người, số cổng Internet ADSL đạt 52.000 cổng, số bưu điện văn hóa xã đạt 155/166 xã.

7. Công tác dân tộc và miền núi: Các Chương trình dự án và chính sách đối với đồng bào dân tộc và miền núi được các ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện. UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai áp dụng một số chính sách đang thực hiện tại các tỉnh Tây Nguyên đối với 06 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp tục chỉ đạo xây dựng Đề án thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững; đồng thời phân bổ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ năm 2010 cho 6 huyện miền núi đảm bảo đúng nội dung và mục tiêu của chương trình. Tỉnh cũng đang tập trung chỉ đạo các huyện thực hiện đúng mục tiêu, nội dung Chương trình và nhanh chóng kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức để đáp ứng yêu cầu công việc và thực hiện có hiệu quả Chương trình này.

III. LĨNH VỰC NỘI CHÍNH VÀ TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC

1. Công tác Tư pháp: Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 13/QĐ-UBND về Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh năm 2010. Trên cơ sở Chương trình đã được phê duyệt; các Sở, ban ngành đã chuyển đến Sở Tư pháp thẩm định tính pháp lý của 96 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh và tổ chức góp ý 35 văn bản quy phạm  pháp luật của Trung ương. Tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định về Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2010 và tổ chức 03 Hội nghị cấp tỉnh triển khai 08 luật cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và huyện, thành phố.

Công tác quản lý, đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài và hoạt động công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh được thực hiện nhanh chóng, đúng pháp luật. Trong năm, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh đã thực hiện tư vấn pháp luật cho 205 vụ việc các loại, cử luật sư là công tác viên thực hiện đại diện, bào chữa trước tòa án 96 vụ việc. Tổ chức hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động tại 81 xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh, qua đó thực hiện tư vấn pháp luật cho 420 vụ việc thuộc các lĩnh vực pháp luật về hình sự, dân sự, đất đai, pháp luật người có công, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, giao thông đường bộ...

2. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác thanh tra: Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh trong năm 2010 có dấu hiệu diễn biến phức tạp, số vụ khiếu nại có đông người tham gia tăng so với cùng kỳ năm 2009, một số vụ khiếu nại yêu cầu thực hiện các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội, bồi thường, thực hiện các chính sách hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Hiện nay, UBND tỉnh đang tập trung chỉ đạo giải quyết, xử lý đảm bảo sự ổn định chính trị, trật tự xã hội.Trong năm 2010, tổng số vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh là 119 vụ, đã giải quyết 105 vụ, đạt 88%; các Sở, ngành giải quyết 45/59 vụ, đạt 76,27%; các huyện, thành phố đã giải quyết 137/251 vụ, đạt 54,58%; cấp xã đã hòa giải, giải quyết 851/1.212 vụ, đạt tỷ lệ giải quyết 70,21%. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã khôi phục quyền lợi cho 37 người, với tổng  diện tích 27.673 m2 đất, tổng số tiền 35.000.000 đồng, kiến nghị thu hồi vào Ngân sách Nhà nước 26.402.000 đồng; kiến nghị xử lý vi phạm hành chính 05 trường hợp; chuyển cơ quan Điều tra 04 người/02 vụ.

Hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội của ngành Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2010 được thực hiện đều khắp trên các lĩnh vực quản lý nhà nước với 113 cuộc và đã kết thúc 92 cuộc tại 315 đơn vị; phát hiện 205 đơn vị có sai phạm về kinh tế với tổng giá trị là 115.175 triệu đồng, 95.727m2đất; đã kiến nghị thu hồi vào ngân sách nhà nước 6.855 triệu đồng, 95.727m2 đất; kiến nghị xử lý khác 108.320 triệu đồng; xử lý hành chính 19 tập thể, 55 cá nhân và đề xuất hàng trăm kiến nghị chấn chỉnh việc chấp hành chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội.

3. Công tác phòng, chống tham nhũng: UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành việc kê khai tài sản, thu nhập lần đầu và kê khai bổ sung theo qui định của Chính phủ, đến nay có 100% cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập theo qui định đã hoàn thành việc kê khai theo mẫu qui định. Các cơ quan hành chính nhà nước trong tỉnh tiếp tục thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền địa phương ban hành kèm theo Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ và Quy chế văn hóa công sở  tại các cơ quan hành chính nhà nước ban hành tại Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đến nay hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh thực hiện tốt quy tắc này, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ được nâng lên và chưa có vụ việc vi phạm nổi cộm để các cơ quan chức năng phải xử lý theo qui định.

Các ngành, các cấp tiếp tục thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong toàn thể cán bộ, công chức trong tỉnh. Trên cơ sở Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ ban hành Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, Kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 của tỉnh (ban hành Quyết định số 419/QĐ-UBND ngày 18/9/2010); đến nay, hầu hết các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố đã ban hành kế hoạch chi tiết thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020.

4. Về An ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội: Tỉnh đã duy trì nghiêm các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an toàn các mục tiêu; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác diễn tập vận hành cơ chế được thực hiện an toàn, nghiêm túc, đúng kế hoạch; công tác tuyển quân đảm bảo các bước từ vận động, tuyên truyền đến việc giao nhận quân, đạt 100% kế hoạch đề ra. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia. Ban hành các chỉ thị về chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự năm 2010; phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm trong lứa tuổi thanh, thiếu niên; về tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác gia đình và phòng chống bạo lực gia đình; về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong tình hình mới; trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về việc lập Quỹ Quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh,... Mở đợt cao điểm tuyên truyền, tấn công, trấn áp tội phạm ma tuý và tệ nạn ma tuý; xây dựng kế hoạch tổng truy bắt, vận động đầu thú và thanh loại đối tượng truy nã năm 2009.

Lực lượng Công an toàn tỉnh phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội thực hiện đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, tuần tra kiểm soát trên các tuyến và địa bàn trọng điểm, các tụ điểm phức tạp về tai nạn giao thông, hỗ trợ giải toả và xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm về trật tự an toàn giao thông. Tai nạn giao thông được kiềm chế nhưng chưa cơ bản và vững chắc: tai nạn giao thông đường bộ 170 vụ (tăng 09 vụ), chết 169 người (tăng 23 người), bị thương 82 người (giảm 26 người); tai nạn giao thông đường sắt và đường thủy không xảy ra.

5. Về công tác ngoại vụ:

Công tác xúc tiến, vận động viện trợ phi chính phủ trong năm tiếp tục được duy trì, mở rộng và đạt nhiều kết quả tốt, tổng giá trị viện trợ phi chính phủ nước ngoài đạt trên 60 tỷ đồng (tăng 13% so với năm 2009) với 43 chương trình, dự án thuộc các lĩnh vực hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo, y tế cộng đồng, nước sạch và vệ sinh môi trường, phòng tránh thiên tai, hỗ trợ trẻ em nghèo, người khuyết tật. Công tác Lễ tân - Lãnh sự - Báo chí được thực hiện nhanh, gọn, đảm bảo tính trọng thị, chu đáo; đã hướng dẫn và quản lý hoạt động của 149 đoàn vào với 463 lượt khách quốc tế đến thăm, làm việc, hoạt động nhân đạo, từ thiện và tác nghiệp báo chí; đặc biệt đã tổ chức đón tiếp 06 đoàn là các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam. Cử 71 đoàn với 156 lượt cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đi nước ngoài tham dự hội nghị, hội thảo, tham quan, trao đổi kinh nghiệm và học tập.

Trong năm, tỉnh có 10 tàu và 137 ngư dân bị phía nước ngoài bắt giữ, 01 tàu và 16 ngư dân bị nạn ở vùng biển quần đảo Trường Sa và 01 tàu bị đâm chìm khi đang hành nghề đánh bắt ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Để kịp thời bảo hộ nhân thân và tài sản cho ngư dân, Sở Ngoại vụ đã phối hợp với BCH Bộ đội biên phòng và các địa phương xác minh thông tin, báo cáo và đề nghị Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao và Cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài can thiệp; kết quả đã giải quyết 06 tàu và đưa 96 ngư dân về nước an toàn. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh vẫn còn 23 tàu và 103 ngư dân (trong đó có 10 ngư dân ngoài tỉnh) bị các nước giam giữ, các ngành chức năng của tỉnh đang tích cực can thiệp để sớm đưa tàu thuyền và ngư dân về nước.

6. Về công tác tổ chức nhà nước: UBND tỉnh ban hành chỉ thị số 02/2010/CT-UBND ngày 05/02/2010 về tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm tập trung chỉ đạo các Sở, ban ngành trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính theo Nghị quyết 17-NQ/TW ngày 01/8/2008 của Hội nghị Trung ương 5 và Nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Thực hiện tốt phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa hiện đại trên các lĩnh vực theo qui định của Chính phủ, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, công dân đến quan hệ công tác; đảm bảo trật tự kỷ luật, kỷ cương hành chính trong bộ máy quản lý Nhà nước.

Thực hiện nhiệm vụ rà soát thủ tục hành chính theo đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính nhà nước giai đoạn 2007-2010. Đến nay, theo phương án được thông qua, kết quả thực hiện giai đoạn 2 Đề án 30 của toàn tỉnh đã kiến nghị đơn giản hóa 46% thủ tục hành chính so với chỉ tiêu 30% Thủ tướng Chính phủ giao.

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tiếp tục rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của một số Sở, ban ngành cho phù hợp; tiếp tục thực hiện xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, bảo vệ môi trường. Từng bước hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo cho các đơn vị hoạt động có hiệu quả và hướng các đơn vị sự nghiệp đủ điều kiện hoạt động theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ cán bộ, công chức đi đào tạo trong tỉnh, ngoài tỉnh và nước ngoài được thực hiện đảm bảo theo quy định. Tiếp tục thực hiện tốt và đồng bộ 5 cơ chế chính sách của tỉnh; triển khai chính sách thu hút sinh viên có trình độ Đại học về công tác tại xã, tiếp nhận chơn 102 hồ sơ sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy tình nguyện về công tác xã, tuyển dụng mới 121 bác sĩ cho xã, phường, thị trấn.

7. Công tác phối hợp với Mặt trận, các cơ quan Đảng, HĐND tỉnh và các Hội đoàn thể

Thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo với các giải pháp toàn diện, kết hợp với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, quan tâm và chú trọng đến công tác dân tộc và tôn giáo; phát huy vai trò của mặt trận và các Hội, đoàn thể động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. UBND tỉnh luôn nhận thức và đề cao vai trò giám sát của HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND trong quá trình điều hành phát triển kinh tế - xã hội; phối hợp chặt chẽ với thường trực HĐND trong việc chuẩn bị chương trình, nội dung làm việc của kỳ họp HĐND, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh.

B. MỘT SỐ HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Việc triển khai đầu tư và xây dựng một số công trình, dự án trên địa bàn vẫn còn chậm so với kế hoạch đề ra; chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi đất một số nơi chưa thật sát hợp với thực tế. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các dự án nhất là các dự án trên địa bàn thành phố và các dự án sử dụng vốn ODA; là nguyên nhân đã kéo dài nhiều năm nhưng chưa thể giải quyết triệt để, chỉ có thể khắc phục một phần và xử lý từng trường hợp cụ thể để giải quyết vướng mắc tạm thời.

2. Nông nghiệp, nông thôn còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Các phương thức canh tác tiên tiến, nhiều mô hình sản xuất tốt chậm được áp dụng trên diện rộng. Năng suất một số loại cây trồng, vật nuôi và chất lượng sản phẩm nông nghiệp còn thấp. Tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm đang có chiều hướng gia tăng; xử lý rác thải ở các chợ nông thôn, khu dân cư tập trung vẫn còn nan giải. Tỷ trọng chăn nuôi còn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã nhìn chung phát triển chưa mạnh; nhiều hợp tác xã hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp.

3. Kinh tế thủy sản phát triển chưa toàn diện và vững chắc; nuôi trồng thủy sản phát triển chưa ổn định với quy mô nhỏ lẻ; năng lực sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh chỉ mới đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu nên tình trạng nguồn giống chưa qua kiểm dịch được thả nuôi còn nhiều, dễ dẫn đến tình trạng dịch bệnh. Tình trạng vận chuyển, buôn bán, sử dụng chất nổ để đánh bắt hải sản vẫn còn diễn ra. Hiện tượng tàu thuyền ngư dân của tỉnh bị nước ngoài bắt giữ, tịch thu phương tiện và phạt tiền vẫn thường xuyên xảy ra.

4. Công tác bảo vệ môi trường bước đầu có chuyển biến về nhận thức và hành động; tuy nhiên, trong chỉ đạo, quản lý các địa phương vẫn còn lúng túng, nhất là xác định vị trí và triển khai bãi chôn lấp chất thải rắn, xây dựng mô hình tổ chức thu gom, xử lý rác thải, phương thức hoạt động quản lý sử dụng tài sản mua sắm từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các doanh nghiệp đạt tỷ lệ thấp, chưa đi vào nề nếp.

5. Công tác xã hội hóa về giáo dục, y tế, hoạt động văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng, chưa có giải pháp hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Phát triển giáo dục ở miền núi và vùng dân tộc còn nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất trường học tuy có khang trang hơn và có bước tiến rõ rệt song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mạng lưới trường lớp ở các cấp học, ngành học nhất là ở ngành học mầm non tiểu học và THCS ở miền núi. Tỉ lệ huy động trẻ học mẫu giáo còn thấp, thu nhập của giáo viên mẫu giáo ngoài công lập ở vùng nông thôn chưa thực sự đảm bảo cuộc sống. Tỉ lệ đi học bậc THCS và THPT ở các huyện miền núi còn thấp so với các huyện đồng bằng. Hiệu quả đào tạo ở bậc tiểu học và THCS của miền núi cũng thấp, chỉ mới đạt từ 41-68 %. Giáo viên THCS và THPT còn thiếu, nên tỉ lệ GV/lớp chưa đủ định mức qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

6. Qui mô, chất lượng, cơ cấu đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Nguồn nhân lực có chất lượng còn thiếu, tác phong và ý thức lao động công nghiệp hạn chế. Chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, tình trạng lao động không có hoặc thiếu việc làm, nhất là thanh niên đến tuổi lao động đang là vấn đề đáng quan tâm. Một số trung tâm dạy nghề còn thiếu thiết bị dạy nghề, thiết bị lạc hậu chưa theo kịp yêu cầu đổi mới công nghệ của các ngành kinh tế. Mạng lưới dạy nghề tuy có tăng hơn trước về số lượng, nhưng phân bổ không đồng đều. Hầu hết các huyện chưa có trung tâm dạy nghề, trong khi đó nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt đào tạo nghề cho lao động nông thôn chuyển đổi ngành nghề.

7. Chất lượng khám chữa bệnh ở một số cơ sở y tế chưa cao; tinh thần, thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ y tế còn yếu, chậm được khắc phục; cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện khám chữa bệnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của nhân dân. Nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được đẩy lùi và khống chế song lại phát sinh nhiều bệnh dịch mới nguy hiểm như cúm A/H1N1, H5.N1, các bệnh ung thư, bệnh tim mạch, nội tiết, rối loạn chuyển hoá ngày càng gia tăng. Số lượng cán bộ vẫn còn thiếu nhiều so với nhu cầu, nhất là bác sỹ và dược sỹ đại học; công tác đào tạo cán bộ y tế tại tỉnh có tăng về mặt số lượng nhưng chỉ số cán bộ đại học trên vạn dân còn thấp.

8. Các hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sản xuất chưa tập trung mạnh vào kinh tế nông nghiệp và nông thôn, chưa thúc đẩy mạnh mẽ việc áp dụng các công nghệ mới, hoạt động chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách Nhà nước. Số đề tài được nghiệm thu đưa vào sản xuất thử để nhân rộng còn quá ít; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên cứu vừa thiếu vừa lạc hậu.Số doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quản lý tiên tiến khác chưa nhiều.

Nhìn chung, năm 2010 kinh tế của tỉnh tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao góp phần hoàn thành hầu hết các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá:giảm tỷ trọng ngành nông - lâm – ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng; Nhà máy lọc dầu Dung Quất sản xuất khối lượng sản phẩm vượt mức kế hoạch góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh và tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh. Nhiều dự án đầu tư bước đầu phát huy hiệu quả thiết thực, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; các chính sách kích cầu của Chính phủ đã bắt đầu phát huy tác dụng; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, các ngày lễ lớn của tỉnh được tổ chức chu đáo, trọng thể; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững,... đã góp phần làm cho tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm ổn định và phát triển tốt.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng suy giảm kinh tế thế giới nên tình hình thu hút đầu tư và triển khai các dự án có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn; thời tiết diễn biến thất thường, tình hình tai nạn giao thông vẫn gia tăng; công tác cải cách hành chính tiến hành chưa đồng bộ, một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện theo kế hoạch của UBND tỉnh,... Đây chính là những khó khăn không nhỏ, cần phải tập trung chỉ đạo khắc phục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.

 

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011

 

Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII và năm đầu thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015.

Bước vào xây dựng kế hoạch năm 2011, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang có xu hướng phục hồi khá nhanh trên tất cả các ngành, lĩnh vực; kinh tế vĩ mô tương đối ổn định; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện; thị trường trong nước có dấu hiệu khởi sắc; thị trường hàng hóa đã bước đầu khôi phục lại được đà tăng trưởng; hoạt động thương mại, dịch vụ có nhiều cơ hội để phát triển thị trường mới, kể cả thị trường trong nước lẫn thị trường ngoài nước; nền kinh tế của tỉnh đã đạt được những thành quả to lớn với tốc độ tăng trưởng khá cao trong giai đoạn 2006-2010, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn được giữ vững.

Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ, nhiều cơ chế chính sách phát triển đã được bổ sung và sửa đổi kịp thời, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế được duy trì. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Đó là những điều kiện rất quan trọng để tạo ra xu thế phát triển mới, tạo đà tăng trưởng cao hơn trong năm 2011 và các năm tiếp theo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi như đã đề cập ở trên, năm 2011, nền kinh tế của tỉnh cũng gặp phải một số khó khăn nhất định như suy thoái kinh tế toàn cầu tuy đã được ngăn chặn, nhưng vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong năm 2011; thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở cây trồng và vật nuôi,... là những khó khăn không nhỏ trong quá trình thực hiện kế hoạch năm 2011.

A. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2011

I. Mục tiêu tổng quát

Phát huy thành quả đạt được trong giai đoạn 2006-2010; đẩy mạnh phát triển kinh tế, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển; tập trung nguồn lực để thực hiện ba nhiệm vụ đột phá: phát triển công nghiệp, phát triển đô thị và phát triển nguồn nhân lực; bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.

II. Các chỉ tiêu chủ yếu

1. Chỉ tiêu kinh tế:                                                                                                                 

- Tốc độ tăng trưởng GDP                                               13,5-14%.

- GDP bình quân đầu người                                             1.495 USD/người/năm

- Giá trị sản xuất (giá so sánh 1994):

       + Nông - lâm - ngư nghiệp tăng                                 3 - 4%

       + Công nghiệp - xây dựng tăng                                  17 - 18%

       + Dịch vụ tăng                                                         15 - 16%

- Cơ cấu kinh tế:

      + Công nghiệp - xây dựng                                        :   60 - 61%

      + Dịch vụ                                                               :   22 - 23%

      + Nông - lâm - ngư nghiệp                                       :   16 - 17%

- Sản lượng lương thực có hạt                                      :   447.600 tấn.

- Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng:  111.515 tấn.

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ                         : 21.537 tỷ đồng.

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu                                          :   305 triệu USD.

- Giá trị kim ngạch nhập khẩu                                         : 3.360 triệu USD

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn                                  : 18.683 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương                                     5.613 tỷ đồng.

- Tổng vốn đầu tư phát triển                                             20.047 tỷ đồng.

2. Chỉ tiêu xã hội:

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên                                   :  0,85 %.

- Tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm              : 35.500 lao động.

- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề so với tổng số lao động: 31%.

- Tỷ lệ trạm Y tế có bác sỹ                                     :  100%.

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế: 40%.

- Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm 3,0%; trong đó, miền núi giảm 4% so với năm 2010 (theo chuẩn mới).

- Số giường bệnh/1vạn dân                                   : 15,77 giường.

- Tỷ trọng cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế: 

+ Nông, lâm nghiệp và thủy sản                          :  55%, 

+ Công  nghiệp - xây dựng                      :  24%, 

+ Dịch vụ                                                                      :  21%.

- Tỷ lệ số xã đạt tiêu chí quốc gia về nông thôn mới: 4-5%.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia              :

+ Mầm non                                                                    : 12,2%

+ Tiểu học                                                                     : 52,2%

+ THCS+THPT                                                  : 45%.

- Tỷ lệ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi: 99,5%.

- Tỷ lệ đạt chuẩn văn hoá:

+ Gia đình văn hóa                                            : 80-85%

+ Thôn, khối phố văn hóa                                   : 70-75%

+ Cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa   : 90-95%

- Tỷ lệ hộ xem Đài Truyền hình Việt Nam    :   96%.

- Tỷ lệ hộ nghe Đài tiếng nói Việt Nam                    : 100%.

3. Chỉ tiêu về môi trường:

- Tỷ lệ độ che phủ rừng                                         : 46%.

- Tỷ lệ dân đô thị dùng nước sạch                          : 90%.

- Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh         : 87%.

- Tỷ lệ xử lý rác thải, chất thải rắn ở KKT, KCN và đô thị: 90%; nông thôn: 60%.

- Tỷ lệ cây xanh đô thị (TP Quảng Ngãi và các thị trấn): 65%.

4. Chỉ tiêu về quốc phòng - an ninh:

- Giáo dục quốc phòng-an ninh cho các đối tượng đạt 100%.

- Bảo đảm đạt 100% chỉ tiêu động viên quân dự bị và tuyển quân.

- Lực luợng dân quân tự vệ đạt 1,3% so với tổng dân số.

- Xây dựng 50% vững mạnh toàn diện và 80% xã, phuờng, thị trấn vững mạnh về quốc phòng - an ninh

 

B. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ LĨNH VỰC

IVỀ KINH TẾ

1. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng bằng việc sử dụng giống mới có chất lượng, năng suất cao, có khả năng kháng bệnh. Năm 2011, dự kiến kế hoạch gieo trồng lúa cả năm của cả tỉnh là 72.226 ha (giảm khoảng 224 ha so với năm 2010), sản lượng lúa đạt khoảng 394.000 tấn.

Phát triển chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn vệ sinh thực phẩm. Khuyến khích phát triển các loại gia súc, gia cầm, sản xuất hàng hóa theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi tập trung trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với chế biến tập trung và xử lý chất thải. Phát triển đàn bò thịt có năng suất cao. Chủ động phòng, chống các loại dịch bệnh gia súc, gia cầm.

Phát triển nuôi trồng thuỷ sản: hạn chế khai thác ven bờ, chuyển sang khai thác xa bờ. Cùng với nuôi tôm, mở rộng nuôi cá nước ngọt ở những vùng có điều kiện.

Tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, chế biến lâm sản, nhất là hàng lâm sản xuất khẩu. Phát triển mạnh trồng rừng kinh tế, tập trung quản lý rừng phòng hộ. Đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho dân, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dân yên tâm đầu tư cho sản xuất.

 

2. Phát triển công nghiệp

Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng công nghiệp vào khoảng 17-18% so với năm 2010; đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, thiết bị.

Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm công nghiệp có thị trường, có hiệu quả và có sức cạnh tranh cao đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, có khả năng giải quyết nhiều việc làm. Chú trọng phát triển thị trường cho các ngành có lợi thế so sánh, sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày,... Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu.

3. Phát triển doanh nghiệp

Tổ chức thực hiện tốt Nghị định 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Dự kiến năm 2011 có khoảng 750 doanh nghiệp đăng ký mới, nâng tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến cuối năm 2011 đạt khoảng 3.500 doanh nghiệp.

Triển khai thực hiện công tác sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt. Phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Chi nhánh Đà Nẵng và các tổ chức khác triển khai các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ phát triển thị trường, hỗ trợ phát triển liên kết ngành… cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tỉnh.

Tạo điều kiện hỗ trợ cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh; tiếp tục củng cố các mô hình hợp tác xã, đồng thời xử lý dứt điểm những HTX không có khả năng chuyển đổi hay tổ chức lại, không còn những HTX chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

4. Phát triển các ngành dịch vụ

Kêu gọi và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng thương mại, các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, Khu du lịch Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Suối nước nóng Nghĩa Thuận, Thác Trắng (Minh Long), Khu du lịch sinh thái Cà Đam,... Phát triển hệ thống khách sạn, nhà hàng, nhất là hệ thống khách sạn 3 sao và 4 sao để đáp ứng nhu cầu khách đến lưu trú tại tỉnh ngày càng tăng.

Nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ vận tải, đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng cao của tỉnh. Đặc biệt phải đảm bảo an toàn và thuận tiện trong vận tải hành khách. Đẩy mạnh hình thức vận tải đa phương thức, tăng cường công tác xã hội hóa các dịch vụ vận tải và phụ trợ có liên quan.

Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đầu tư phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí và hạ giá thành.

5. Về xuất, nhập khẩu

Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tích cực phát triển các mặt hàng có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô.

Năm 2011, dự kiến giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 305 triệu USD, tăng 12,9% so với năm 2010 với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: Đồ gỗ, hàng dệt may, dăm gỗ nguyên liệu giấy, propylen, sản phẩm cơ khí công nghiệp nặng,... Kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 3.360 triệu USD, tăng 4,9% so với năm 2010 với các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: dầu thô, máy móc, thiết bị phụ tùng, gỗ nguyên liệu,...

6. Định hướng đầu tư phát triển

Tiếp tục huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển năm 2011 của tỉnh vào khoảng 20.437 tỷ đồng, tăng 29,5% so với ước thực hiện năm 2010. Ngoài nguồn vốn ngân sách hàng năm, lập kế hoạch để tranh thủ nguồn vốn ODA; tăng cường thực hiện các dự án theo hình thức BT; thu hút vốn FDI vào đầu tư phát triển; tăng cường công tác xúc tiến đầu tư để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.

Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị thành phố Quảng Ngãi. Đối với các huyện miền núi tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 30a của Chính phủ để từng bước giảm  nghèo nhanh và bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với đồng bằng. Đối với huyện đảo Lý Sơn đầu tư phát triển gắn với quốc phòng, bảo vệ vùng biển quốc gia; tiếp tục đầu tư hệ thống kè biển để phòng chống thiên tai; hệ thống cảng cá phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên huyện đảo.

Tích cực hỗ trợ các Doanh nghiệp đẩy nhanh việc đầu tư các công trình thủy điện ở miền núi. Triển khai có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình 135 và các Chương trình, dự án khác. Tăng cường đầu tư hạ tầng kinh tế, xã hội phục vụ sản xuất và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc và các vùng khó khăn khác.

7. Về Hoạt động đối ngoại

Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế và quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại ở địa phương nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới.

II. VỀ VĂN HÓA XÃ HỘI

1. Giáo dục và Đào tạo

Thực hiện phổ cập mẫu giáo 5 tuổi, chuẩn bị các điều kiện cho các cháu vào lớp 1; củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ. Tiếp tục thực hiện phổ cập THPT ở những nơi có điều kiện. Chú trọng khắc phục việc học sinh bỏ học ở miền núi. Cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục, tiếp tục đổi mới phương pháp  dạy và học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục.

Tiếp tục phát triển quy mô đào tạo ở tất cả các cấp, chú trọng phát triển qui mô đào tạo nghề; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp. Triển khai xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế - xã hội chủ yếu và các địa bàn kinh tế trọng điểm. Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá việc huy động các nguồn lực cho phát triển giáo dục, đào tạo.

2. Khoa học công nghệ

Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, đồng thời ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đã nghiên cứu, nhất là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở các huyện miền núi và huyện đảo Lý Sơn nhằm phát huy lợi thế của các địa phương.

Đổi mới và hoàn thiện cơ chế lựa chọn, xây dựng, thẩm định, giao nhiệm vụ khoa học công nghệ, phải xuất phát từ yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cụ thể, đặc biệt là gắn với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, giải quyết các nhu cầu bức thiết của nhân dân trong tỉnh.

Tạo môi trường thuận lợi cho việc gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Xây dựng chính sách sử dụng hiệu quả, trọng dụng và phát huy tài năng cán bộ khoa học và công nghệ; phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao trong các doanh nghiệp.

3. Về công tác dân số, y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật ở các cơ sở khám chữa bệnh, tạo điều kiện cho người dân được phục vụ các dịch vụ y tế cộng đồng, từng bước tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng cao. Đổi mới, hoàn thiện chế độ bảo hiểm y tế. Phát triển y dược cổ truyền. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ. Tạo cơ hội để người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

Tăng cường công tác truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số; thực hiện mô hình gia đình ít con. Nâng cao trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với  cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.

Phát triển và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh. Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời xã hội hoá một cách phù hợp để huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, mở rộng dịch vụ, giảm quá tải bệnh viện.

Đào tạo đủ về số lượng, chất lượng, tăng cường luân phiên cán bộ giúp tuyến dưới nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ tại chỗ và nâng cao y đức, trình độ cán bộ y tế, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ các hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, thị trường thuốc chữa bệnh; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường các biện pháp để phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh; phòng, chống nghiện ma tuý, nhiễm HIV...

4. Giải quyết việc làm và giảm nghèo

Duy trì giải quyết việc làm hàng năm cho khoảng 35.500 lao động. Trong đó đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động sang các nước. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống dưới 4,2% số lao động trong độ tuổi.

Đẩy mạnh công tác giảm nghèo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Thực hiện các chính sách để hỗ trợ người dân phát triển sản xuất để thoát nghèo và vươn lên làm giàu hợp pháp. Hỗ trợ người dân vùng bị thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh khắc phục khó khăn, khôi phục sản xuất và ổn định cuộc sống. Phấn đấu hạn chế tối đa hiện tượng tái nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh 3%, trong đó miền núi giảm 4% so với năm 2010 (theo chuẩn mới).

5. Phát triển văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao

Tăng mức hưởng thụ văn hóa thông tin cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc ít người; trong năm 2011 tiếp tục xây dựng gia đình, thôn, tổ dân phố, xã phường, thị trấn, cơ quan văn hóa. Tiếp tục đầu tư tôn tạo, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh tạo vẻ đẹp cảnh quan môi trường.

Mở rộng phủ sóng phát thanh, truyền hình; phát triển hệ thống thông tin báo chí, chủ động hội nhập; đẩy mạnh trang thông tin điện tử của tỉnh và các sở, ban, ngành; phấn đấu năm 2011 có 96% hộ gia đình được xem truyền hình; 100% hộ gia đình được nghe Đài tiếng nói Việt Nam.

Đẩy mạnh các hoạt động thể thao cả về qui mô lẫn chất lượng. Đảm bảo chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường; đẩy mạnh xã hội hóa thể thao. Duy trì các môn thể thao thành tích cao có lợi thế của tỉnh như võ thuật để tranh chấp huy chương ở cấp toàn quốc và cung cấp vận động viên cho đội tuyển quốc gia. Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cấp các công trình phục vụ cho thể thao.

6. Phòng, chống và giảm mạnh các tệ nạn xã hội

Tăng cường kiểm soát chặt chẽ tệ nạn ma tuý, mại dâm. Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất các Trung tâm cai nghiện. Quản lý chặt chẽ sau cai nghiện gắn với trách nhiệm gia đình và chính quyền cơ sở và tạo việc làm cho đối tượng này.

Hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách về phòng chống các tệ nạn xã hội tại cơ sở xã, phường, trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhất là xã phường trong phòng chống ma tuý, mại dâm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, truy quét, xử lý vi phạm và lập hồ sơ đưa đi giáo dục các đối tượng hành nghề mại dâm. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ.

III. TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.

Duy trì chất lượng hoạt động của hệ thống đài, trạm khí tượng thuỷ văn, đảm bảo thu thập đầy đủ số liệu, dự báo chính xác tình hình thời tiết, khí hậu. Cải thiện chất lương công tác dự báo khí tượng thủy văn, đặc biệt là dự báo bão, lũ.

Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thực về môi trường; nâng cao năng lực và hoạt động quản lý chất thải rắn ở thành phố Quảng Ngãi và các Khu công nghiệp tỉnh; xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các KCN và các hồ nuôi tôm ven biển.

IV. QUỐC PHÒNG, AN NINH, TRẬT TỰ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI

Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; tiếp tục triển khai các biện pháp trấn áp tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chủ quyền vùng biển; tập trung lực lượng, phương tiện đấu tranh phòng, chống tàu thuyền nước ngoài xâm phạm lãnh hải trái phép và sử dụng vật liệu nổ đánh bắt hải sản; tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát ngư dân và tàu thuyền khai thác thủy sản trên biển, xử lý kiên quyết đối với các phương tiện không đăng ký, đăng kiểm, không có biển số nhằm hạn chế rủi ro về tính mạng và tài sản của ngư dân; chú trọng công tác phòng, chống lụt bão, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển; xây dựng khu kinh tế - quốc phòng huyện Lý Sơn.

Trong năm 2011, tiếp tục tăng cường tuần tra, xử lý phương tiện và người vi phạm Luật Giao thông nhằm lập lại trật tự an toàn giao thông tiến đến giảm dần tai nạn giao thông. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục kiến thức pháp luật an toàn giao thông đối với người dân.

Xử lý nghiêm các phương tiện cơ giới không đảm bảo an toàn lưu thông trên đường, tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra. Tăng cường hệ thống biển báo, biển hướng dẫn giao thông; tập trung xử lý dứt điểm các điểm đen. Tập trung tăng cường an ninh ở Khu Kinh tế Dung Quất để tạo sự an tâm cho nhà đầu tư và người lao động đến công tác và đầu tư tại Khu Kinh tế này.

C. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

1. Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành phố đến năm 2020; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo việc lập, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển đô thị và các điểm dân cư, quy hoạch xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực để bảo đảm sự phát triển tổng thể, đồng bộ.

2. Khai thác, phát huy mọi nguồn lực; tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển; phấn đấu năm 2011 đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 13,5-14% so với năm 2010. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 16-17%, công nghiệp và xây dựng 60-61%, dịch vụ 22-23%. Thực hiện nhiệm vụ đột phá về phát triển công nghiệp, phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp-công nghiệp tăng 17-18%; tăng cường đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện chương trình phát triển nông thôn mới, bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của toàn ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở mức 3-4%; phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, mở rộng các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của Khu kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp của tỉnh và nhu cầu chung của xã hội, phấn đấu giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng 15-16% so với năm 2010. 

3. Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đảm bảo tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2011 đạt trên 20.000 tỷ đồng. Tập trung xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư phát triển; trong đó, tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm như: đường ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh, tỉnh lộ 623, đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc,... và các công trình có khả năng đưa vào sử dụng năm 2011. Sử dụng có hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ giải ngân các nguồn vốn ODA. Tiếp tục chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham ô, lãng phí, đảm bảo chất lượng công trình.

4. Nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với học sinh, sinh viên; chú trọng giáo dục toàn diện ở các cấp, bậc học. Phát triển nhanh nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đẩy mạnh công tác dân số-kế hoạch hóa gia dình, bảo vệ, chăm sóc sức khỏa bà mẹ và trẻ em. Tập trung xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa để huy động tốt hơn các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao.

5. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác giảm nghèo, tạo việc làm. Triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tại 6 huyện miền núi của tỉnh theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu Quốc gia; các chương trình, dự án và các giải pháp, chính sách an sinh xã hội đã ban hành để hỗ trợ sản xuất, ổn định đời sống đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng bị thiên tai.

6. Quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững đạt mức tăng trưởng bình quân chung cho cả thời kỳ 2011-2015 vào khoảng  14-15%. Chú trọng công tác lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác bảo vệ môi trường. Tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các khu vực: Khu kinh tế Dung Quất, các Khu công nghiệp của tỉnh, các cụm công nghiệp - làng nghề, các dự án nuôi tôm trên cát,... nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường và có biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường.

7. Thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2008 của Hội nghị Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; từng bước nâng cao chất lượng của cơ chế một cửa liên thông theo hướng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức và công dân; đẩy nhanh tiến trình áp dụng một cửa liên thông trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phươngTạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ, việc vi phạm.

8. Duy trì chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an toàn các mục tiêu trọng điểm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy trong mùa khô, bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy ở các Khu công nghiệp, Khu Kinh tế Dung Quất, đặc biệt là Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Tăng cường công tác bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển, tập trung lực lượng, phương tiện đấu tranh phòng, chống tàu thuyền nước ngoài xâm phạm lãnh hải trái phép và sử dụng vật liệu nổ đánh bắt hải sản. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền những quy định, thông ước quốc tế về khai thác, đánh bắt thuỷ sản đối với ngư dân đánh bắt xa bờ nhằm hạn chế tối đa tình trạng đánh bắt thuỷ sản trái phép dẫn đến nguy hại tính mạng và tài sản của ngư dân.

II. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Triển khai có hiệu quả các chủ trương, biện pháp chủ yếu trong chỉ đạo điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 của Chính phủ; trên cơ sở đó các ngành, các địa phương đề ra các giải pháp, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể của ngành, địa phương nhằm góp phần đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cả tỉnh năm 2011 đạt 13,5-14%.

Các Sở, ban ngành và các huyện, thành phố theo chức năng nhiệm vụ được phân công, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo, điều hành của Chỉnh phủ, Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh về tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, xuất khẩu. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về việc tuân thủ các quy định hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, không để xảy ra đột biến về giá, khan hiếm hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống.

Tích cực hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về thủ tục hành chính, về lao động, về vốn,... tạo điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích các doanh nghệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.

Điều hành ngân sách Nhà nước theo đúng Nghị quyết HĐND tỉnh, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi; hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán. Ưu tiên nguồn lực để thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm và các chính sách an sinh xã hội.

2. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thu hút mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế.

Thường xuyên tổ chức trực báo tình hình thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, nhất là công trình trọng điểm để kịp thời xử lý và đề xuất xử lý những vướng mắc, tồn tại nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình. Quản lý chặt chẽ và tổ chức thực hiện đúng tiến độ các công trình, dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước; tăng cường công tác giám sát, thanh tra nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Tăng cường công tác theo dõi và đánh giá việc thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước. Có cơ chế xử phạt các chủ dự án và cơ quan chủ quản không gửi báo cáo về tình hình thực hiện dự án đầu tư hoặc gửi báo cáo không đầy đủ thông tin theo như quy định.

Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư; minh bạch hóa, công khai qui trình, thủ tục đầu tư; chủ động xúc tiến đầu tư, kêu gọi thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để tập trung đầu tư vào các lĩnh vực ngành nghề mà tỉnh ưu tiên thu hút đầu tư; thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp. Thực hiện tốt các chính sách khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tập thể, kinh tế trang trại.

Rà soát lại các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực như: đầu tư, đăng ký kinh doanh, xây dựng, đất đai, thuế,… để kiến nghị Trung ương sửa đổi, bãi bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, bất hợp lý. Thực hiện có hiệu quả Đề án 30 về đơn giản hóa các thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực quản lý nhà nước. Nghiêm khắc xử lý những người thiếu trách nhiệm, chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng nhận đầu tư, chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh, các thủ tục tài chính, thuế và các thủ tục hành chính khác.

Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển, thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triểnĐặc biệt quan tâm phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ các doanh nghiệp trong các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, quản lý, công nghệ, tin học, xúc tiến đầu tư thương mại, tiếp cận thông tin thị trường. Khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn chuyển đổi thành các loại hình hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

3. Thực hiện đồng bộ các giải pháp, chính sách tạo việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

Tổ chức triển khai và thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là ở các huyện nghèo. Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan đến tạo việc làm và giảm nghèo, nhất là các chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, chương trình 62 huyện nghèo. Bố trí, cơ cấu lại đầu tư từ ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng đầu tư cho y tế, giáo dục và đào tạo nghề, nhất là ở vùng khó khăn, phát triển hệ thống an sinh xã hội, tăng đầu tư cho nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, đầu tư nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước.

Thực hiện đầy đủ và có hiệu quả chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, ngư dân và người dân các vùng khó khăn, vùng bị thiên tai.Phấn đấu thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua việc đẩy mạnh các chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và các chương trình hỗ trợ về sản xuất và đời sống cho dồng bào nghèo, đồng bào có hoàn cảnh khó khăn tại các huyện miền núi và các xã bãi ngang ven biển. Đẩy mạnh hoạt động cho vay giảm nghèo và xuất khẩu lao động của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội. Tập trung chỉ đạo để phát triển nhanh đào tạo nghề và giải quyết việc làm, đặc biệt là cho lực lượng lao động trẻ; đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước; vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa; nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần của người có công; trợ giúp nạn nhân chất độc da cam, người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật.

4. Đẩy mạnh phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; giải quyết có hiệu quả các vấn đề văn hóa, xã hội, môi trường

Thực hiện đồng bộ các giải pháp, tăng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước kết hợp với huy động các nguồn vốn từ công tác xã hội hóa để tạo sự chuyển biến căn bản trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế; bảo đảm phát triển kinh tế gắn liền với việc giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề văn hóa, xã hội và đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, giải quyết việc làm và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và xã hội tại thành phố Quảng Ngãi.

Thực hiện các cơ chế, chính sách; nhất là cơ chế, chính sách về  tài chính để khuyến khích phát triển nhanh sự nghiệp giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng ngân sách nhà nước tiếp tục đầu tư và tăng tỷ trọng đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các đơn vị công lập, đào tạo cán bộ cho ngành y tế, giáo dục; hỗ trợ toàn bộ chi phí giáo dục, y tế theo chế độ qui định cho các đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ một phần cho người cận nghèo; những người có thu nhập trung bình trở lên cần đóng góp với Nhà nước, chi trả phí dịch vụ theo nguyên tắc tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ chi phí hoạt động thường xuyên cùa các cơ sở giáo dục, y tế. Các cơ sở giáo dục, đào tạo và khám chữa bệnh công lập được tự chủ hạch toán thu – chi từ nguồn ngân sách nhà nước cấp để đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn thu từ phí dịch vụ do Nhà nước chi trả và những người thụ hưởng dịch vụ chi trả để trả lương phù hợp cho cán bộ, viên chức và trang trải chi phí hoạt động.

Tiếp tục thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, hạn chế tốc độ tăng dân số và chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý. Đẩy mạnh công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; làm tốt công tác chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

Tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, kết hợp lựa chọn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trẻ có triển vọng để từng bước hình thành đội ngũ cán bộ chiến lược của tỉnh.

Tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác bảo vệ môi trường vừa kiểm soát và xử lý các loại chất thải phát sinh, đặc biệt ở các đô thị, Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp tỉnh. Xây dựng mô hình tổ chức thu gom, xử lý rác thải, phương thức hoạt động quản lý sử dụng tài sản mua sắm từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất đai, khai thác khoáng sản, tài nguyên nước và bảo vệ môi trường

5. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước  

Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính. Xây dựng các quy chế, quy định cụ thể để quản lý cán bộ và thuận lợi cho việc kịp thời thay thế, miễn nhiệm cán bộ năng lực, phẩm chất kém, không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín, có sai phạm và phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ có đức, có tài, cán bộ trẻ, cán bộ nữ vào các vị trí phù hợp. Chỉ đạo, thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, sắp xếp, bố trí, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước các cấp để có đủ kỹ năng và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức. Tiếp tục thực hiện việc đổi mới cơ chế sắp xếp và bổ nhiệm nhân sự theo hướng nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức.

Tổ chức thực hiện tốt Luật phòng, chống tham nhũng, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020. Đảm bảo công khai, minh bạch trong trong xây dựng và thực thi các chính sách và pháp luật của nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; phối hợp thật tốt giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, nhất là khi giải quyết các trường hợp có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí. Kiên quyết xử lý nghiêm kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật các vụ việc tham nhũng, tịch thu tài sản tham nhũng. Phát huy vai trò của nhân dân, các đoàn thể chính trị - xã hội, của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; có chính sách, biện pháp bảo vệ người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí...

Xây dựng chương trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết nhanh các vụ khiếu nại, tố cáo có tính chất phức tạp, kéo dài,... Đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong đấu tranh chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quản lý, giám sát thu nhập của cán bộ, công chức, nhất là những người có chức, có quyền. Thực hiện tốt chủ trương chuyển đổi, luân chuyên cán bộ và vị trí công tác của cán bộ, công chức.

6. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các ngành và vùng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả

a) Về phát triển các ngành

Các ngành, các cấp và các địa phương cần triển khai thực hiện tốt Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản, trước hết là việc tiêu thụ nông sản của một số ngành hàng có lượng hàng hoá lớn và sản xuất tập trung như: lúa gạo, thủy sản và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.

Hỗ trợ phát triển ngành, nghề để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa, tăng tỷ trọng chăn nuôi; phát triển các hợp tác xã chuyên canh mía gắn với chăn nuôi bò,... Hình thành và phát triển các vùng sản xuất chuyên canh như mía, mì, gỗ nguyên liệu,.. gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo cho các vùng nguyên liệu phát triển ổn định, bền vững.

Tăng cường việc áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các giống mới cho năng suất, chất lượng cao và đẩy mạnh công tác cải tạo giống vật nuôi làm cho cây trồng vật nuôi phát triển tốt. Mặt khác, cần tăng cường công tác dự tính, dự báo về tình hình sâu, bệnh ở cây trồng và vật nuôi; tiêm phòng cho gia súc, gia cầm; thực hiện tốt công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ gia súc. Đặc biệt chú trọng công tác phòng chống dịch LMLM ở gia súc và dịch cúm gia cầm, hạn chế nguy cơ tái phát.

Trên cơ sở quy hoạch các loại rừng, triển khai thực hiện các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng, chú ý trồng rừng phòng hộ, đẩy mạnh trồng rừng kinh tế. Xử lý kiên quyết và có hiệu quả nạn phá rừng và chống người thi hành công vụ bảo vệ rừng.

Phát triển toàn diện kinh tế biển của tỉnh theo Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa X và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Phát triển số lượng tàu thuyền theo hướng nâng cao công suất gắn với đầu tư trang thiết bị, ngư lưới cụ tiên tiến nhằm nâng cao năng lực đánh bắt xa bờ. Khai thác thủy sản đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kết hợp bảo vệ chủ quyền lãnh hải tổ quốc. Đẩy mạnh chuyển đổi, đa dạng hóa ngành nghề đánh bắt, hạn chế khai thác ven bờ, không để ngư dân xâm phạm lãnh hải các nước khác.

Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng toàn diện, mở rộng quy mô, đa dạng đối tượng nuôi, chú ý các sản phẩm có giá trị cao, phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo môi trường, tăng nhanh tỷ trọng nuôi trồng trong cơ cấu kinh tế ngành. Phát triển nuôi trồng thủy sản trên cơ sở qui hoạch, diện tích đất có khả năng nuôi trồng theo hướng công nghiệp, bền vững, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Phải tạo bước đột phá để công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – làng nghề phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế do sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất mang lại. Tập trung những sản phẩm có thị trường và khả năng cạnh tranh cao. Khuyến khích phát triển các sản phẩm xuất khẩu. Phấn đấu giảm chi phí sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp. Trên cơ sở vốn đầu tư từ ngân sách cấp, cần tạo thêm nhiều kênh vốn khác nhau để đẩy nhanh tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp của tỉnh để thu hút có lựa chọn các nhà đầu tư đủ năng lực tài chính, công nghệ hiện đại, đảm bảo môi trường,...

Tiếp tục nghiên cứu và rà soát nhu cầu thị trường và biện pháp thu mua nguyên liệu để xây dựng các cơ sở sản xuất thủy, hải sản tại các cảng cá hiện có nhằm phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ, hải sản của tỉnh. Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh các cơ sở chế biến thủy sản, tăng nhanh sản phẩm xuất khẩu; chú trọng khôi phục và phát triển các ngành nghề chế biến thủy sản truyền thống để phục vụ khách du lịch.

Trước mắt, tập trung vào việc xin chủ trương và triển khai quy hoạch mở rộng Khu kinh tế Dung Quất; điều chỉnh các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề; quản lý tốt các quy hoạch phát triển công nghiệp và thực hiện các cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bố trí ngân sách hợp lý cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh, cụm tiểu thủ công nghiệp – làng nghề ở một số địa phương; đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp cần ưu tiên.

Tập trung phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch, coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế để phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính – viễn thông, vận tải, kho bãi, nhà ở và một số dịch vụ khác; đồng thời, đầu tư nâng cấp, mở rộng mạng lưới chợ vùng, chợ nông thôn, miền núi, tiếp tục hình thành các cơ sở thương mại, dịch vụ ở đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế Dung Quất; tập trung đầu tư và khuyến khích đầu tư phát triển các khu, điểm, tuyến du lịch, sản phẩm du lịch,… Hoàn thành các khu du lịch trọng điểm: Mỹ Khê, Khe Hai, Sa Huỳnh và kêu gọi đầu tư các khu du lịch: Vạn Tường, Cà Đam – Nước Trong,…Rà soát các dự án chậm triển khai để có kế hoạch hỗ trợ hoặc thu hồi dự án.

b) Về phát triển các vùng kinh tế

Hình thành vùng kinh tế động lực bao gồm thành phố Quảng Ngãi, Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp của tỉnh. Quy hoạch mở rộng Khu kinh tế Dung Quất gắn với quy hoạch mở rộng thành phố Quảng Ngãi về phía Bắc, đầu tư phát triển thị trấn Đức Phổ theo hướng trở thành thị xã trực thuộc tỉnh.

Đẩy mạnh tốc độ đầu tư cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp - làng nghề; rà soát, điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách để thu hút đầu tư phù hợp với tình hình hiện nay theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào các Khu công nghiệp của tỉnh; kêu gọi đầu tư vào khu công nghiệp Phổ Phong.

Vùng đồng bằng, ven biển và hải đảo phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, trọng tâm là hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến

Đối với tiểu vùng đồng bằng: ổn định diện tích sản xuất lương thực (chủ yếu là diện tích lúa đã chuyển đổi). Phát triển cây mía, chú ý ổn định diện tích mì, điều ghép, cao su, cây rau quả...; đẩy mạnh chăn nuôi bò, lợn, gia cầm,… nhằm cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thực phẩm cho các vùng khác; đồng thời hình thành vành đai nông nghiệp phục vụ Khu kinh tế Dung Quất.

Đối với tiểu vùng ven biển và hải đảo: phát triển tổng hợp kinh tế biển, trọng tâm là phát triển đánh bắt xa bờ, phát triển nuôi trồng thuỷ sản; chú trọng khai thác cảng biển, phát triển công nghiệp đóng, sửa chữa tàu thuyền và dịch vụ nghề cá; phát triển ngành sản xuất muối phục vụ cho công nghiệp và tiêu dùng; đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi; thâm canh cây công nghiệp ngắn ngày, trồng các loại rau, đậu, hành, tỏi,...

Nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi là giảm nghèo và nâng cao trình độ dân trí. Lấy phát triển nông-lâm nghiệp làm cơ sở để ổn định kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại. Tiếp tục khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, ngô. Bảo vệ rừng và phát triển rừng kinh tế, nhất là rừng nguyên liệu; đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, chú trọng là giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, phát thanh truyền hình, trường học, trạm xá, nước sinh hoạt, đất sản xuất,...

 

Trên đây là báo cáo tình hình ước thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2010 và định hướng kế hoạch năm 2011 của tỉnh Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân tỉnh kính báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh./.


Xem tin theo ngày tháng

Ngày: Tháng: Năm: 

Điểm tin chỉ đạo, điều hành

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, triển khai thực hiện Thông tư số 45/2017/TT-BTTTT ngày 29/12/2017 Quy định​ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công nghệ thông tin; Thông tư số 46/2017/TT-BTTTT ngày 29/12/2017 Quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức âm thanh viên, phát thanh viên, kỹ thuật dựng phim, quay phim thuộc chuyên ngành Thông tin và Truyền thông.

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, triển khai thực hiện Công văn số 58/BTTTT-KHCN ngày 11/01/2018 về việc hướng dẫn các nguyên tắc định hướng về công nghệ thông tin và truyền thông xây dựng thành phố thông minh ở Việt Nam.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở: Nội vụ, Lao động - Thương binh và Xã hội, các sở ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố, tham mưu UBND tỉnh cụ thể hóa chỉ tiêu 18.6 trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, trình UBND tỉnh trước ngày 15/02/2018.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và đơn vị liên quan chủ động liên hệ với Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai tiếp nhận 1.000 tấn gạo do Chính phủ Cộng hòa Hàn Quốc hỗ trợ; đồng thời khẩn trương tham mưu UBND tỉnh hiện phân bổ số gạo nêu trên cho nhân dân bị thiệt hại do lũ lụt gây ra trong năm 2017.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và đơn vị liên quan chủ động liên hệ với Ban chỉ đạo Trung ư​ơng về Phòng chống thiên tai tiếp nhận 1000 tấn gạo do Chính phủ Cộng hòa Hàn Quốc hỗ trợ; đồng thời, khẩn trương tham mưu UBND tỉnh hiện phân bổ số gạo nêu trên cho nhân dân bị thiệt hại do lũ lụt gây ra trong năm 2017.

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi và các đơn vị có liên quan tổng hợp và trực tiếp báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 20/01/2018 về tình hình đầu tư nước ngoài cả năm 2017 và kế hoạch năm 2018.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với cá​c cơ quan chức năng của tỉnh, các địa phương tổ chức thực hiện Thông báo số 13/TB-VPCP ngày 09/01/2018 của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện năm 2017, phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm năm 2018.

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương tham mưu UBND tỉnh phân bổ hạt giống cây trồng do Trung ương hỗ trợ (05 tấn hạt giống ngô và 03 tấn hạt giống rau) cho các địa phương và tổ chức thực hiện việc phân bổ hạt giống để kịp thời phục vụ sản xuất Đông - Xuân 2017-2018.

 

  

Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và UBND các huyện, thành phố thực hiện rà soát, thống kê h​iện trạng đội ngũ giáo viên hiện có; tính toán số lượng giáo viên thừa/thiếu cục bộ theo từng môn học, cấp học và tổng hợp nhu cầu về giáo viên phổ thông từ năm học 2018-2019 đến năm học 2022-2023 trên địa bàn tỉnh; tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và UBND tỉnh trước ngày 31/01/2018.

 

Chủ tịch UBND tỉnh giao Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra, chỉ đạo giải quyết (nếu có) nội dung phản ánh tại bài báo: Chỉnh rồi, vẫn “rối”” của Báo Quảng Ngãi, báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện và kịp thời thông tin đến Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Báo Quảng Ngãi.

 

 

Thông báo

Phim tư liệu

Quảng Ngãi: Tiềm năng và Triển vọng

Thông tin tiện ích

Liên kết website

Trường ĐH trên địa bàn tỉnh